THỰC TRẠNG Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp_02 - Pdf 74


66
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA TỈNH BẮC NINH TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
2.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
-Vị trí địa lý: Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, cửa ngõ phía
Bắc Thủ đô Hà Nội. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ
đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương.
Bắc Ninh là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Có
hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như Quốc lộ 1A,
1 mới (cao tốc) Hà Nội - Bắc Ninh đi Lạng Sơn, đường quốc lộ 18 nối sân
bay quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long (Quảng Ninh) ; quốc lộ 38 nối Bắc
Ninh - Hải Dương - Hải Phòng. Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc
Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc. Mạng đường thuỷ rất thuận lợi nối Bắc
Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng. Hơn nữa, Bắc Ninh lại
rất gần cảng hàng không quốc tế Nội Bài và gần các khu công nghiệp lớn của
vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
-Điều kiện tự nhiên: là một tỉnh đồng bằng, có khí hậu nhiệt đới gió mùa,
vào mùa đông nhiệt độ từ 15 –20
0
C. Lượng mưa trung bình trong năm
1.800mm, số giờ nắng khoảng 1.700giờ/năm rất thích hợp cho trồng lúa và
các cây công nghiệp, cây thực phẩm, nhất là rau, hoa quả. Tuy nhiên, trong
tỉnh có một số huyện nằm trong vùng trũng, úng lụt thất thường, gây ảnh
hưởng đến sản xuất, tốn kém cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật nông thôn.
Tỉnh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, có 3 hệ thống sông lớn chảy

ện tích
(ha)
Di
ện tích
(ha)
Cơ c
ấu
(%)
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Tổng diện tích tự nhiên 80.393,3 80.393,3 80.393,3 100,0 82.271,1* 100,0
1. Đất nông nghiệp 52.708,8 51.775,6 51.120,3 63,6 49.553 60,23
- Đất trồng cây hàng năm 48.164,6 47.391,9 46.759,7 91,5 43.005 86,89
- DT nuôi trồng thuỷ sản 2.571,4 2.501,5 2.952,2 5,8 4.981,7 10,05
2. Đất lâm nghiệp 498,1 661,2 623,1 0,8 607,3 0,7
3. Đất chuyên dùng 13.122,7 14.025,9 14.034,8 18,2 13.836,7 16,8
4. Đất ở 4.808,7 5.183,5 5.240,7 6,5 9.517,4 11,6
5. Đất chưa sử dụng 9.255,3 8.747,5 8.774,3 10,9 668,7 0,8

Nguồn: [39] * Tăng lên do điều chỉnh tổng kiểm kê đất đai năm 2005
-Địa hình Bắc Ninh có xen lẫn đồi núi với độ cao từ 20 đến 120m so với
mặt nước biển, lại thường gần các con sông có thể tạo thành hồ nước rộng
hàng chục ha với những di tích lịch sử, văn hoá tạo môi trường sinh thái, cảnh
quan cho các điểm du lịch.

68
2.1.2. Đặc điểm kinh tế -xã hội
-Nguồn nhân lực: Bắc Ninh là tỉnh đất chật người đông, dân số năm


69
Bắc Ninh vốn là vùng có nhiều nghề thủ công nổi tiếng, vùng đất “trăm
nghề”. Hiện nay tỉnh có trên 100 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề
truyền thống, tiêu biểu là: làng tranh dân gian Đông Hồ (huyện Thuận
Thành), làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ), làng đúc đồng Đại Bái, làng
nghề tre trúc Xuân Lai (huyện Gia Bình), làng rèn Đa Hội, làng dệt Hồi
Quan, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc gỗ Kim Thiều, Phù Khê, đồ gỗ Đồng
Kỵ (huyện Từ Sơn), làng giấy Phong Khê (huyện Yên Phong)…Việc khôi
phục và phát triển các làng nghề truyền thống, các làng nghề mới là yêu cầu
rất quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Là tỉnh giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, là một trong những cái nôi
của nền văn hoá Việt cổ, nơi phát tích Vương triều Lý. Vùng đất văn hiến khoa
bảng (chiếm 1/3 tiến sĩ cả nước qua các triều đại phong kiến)
Bắc Ninh có 309 di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng được cấp bằng
công nhận di tích cấp quốc gia và cấp địa phương, có nhiều lễ hội, trong đó có
những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn. Dân ca Quan họ là
đặc trưng nổi bật và đặc sắc của Bắc Ninh, tỉnh đang làm thủ tục đề nghị
UNESCO công nhận “Không gian văn hóa Quan họ, di sản văn hoá phi vật
thể và truyền khẩu ”.
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi trên, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
của tỉnh Bắc Ninh cũng có nhiều khó khăn, hạn chế: là một tỉnh “đất chật, người
đông”, kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn
mang nặng yếu tố truyền thống, tự cung, tự cấp, manh mún, phân tán, lạc hậu
.
Điểm xuất phát kinh tế của tỉnh thấp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
chuyển dịch chậm. Tài nguyên khoáng sản ít, các cơ sở công nghiệp trong nông
thôn chưa nhiều, nhất là công nghiệp chế biến. Diện tích đất nông nghiệp bình
quân đầu người thấp và có xu hướng ngày một giảm; kết cấu hạ tầng chưa đáp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) xác định phát
triển toàn diện kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp chế biến, xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế
xã hội. Hình thành cơ cấu hợp lý về nông, lâm, ngư, công nghiệp phù hợp với
sinh thái từng vùng gắn phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với phát
triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến, xây dựng kết
cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội nông thôn. Hội nghị lần thứ 5
Ban chấp hành Trung ương (khoá VII), tháng 6/1993) ra Nghị quyết tiếp tục
đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn. Luật đất đai năm 1993 đã xác

71
định người nông dân có 5 quyền liên quan đến đất đai được trao quyền sử
dụng lâu dài. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) đã
khẳng định phải hết sức quan tâm đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương (khoá VII)
tháng 7/1994 đã xác định rõ vị trí của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn và chỉ rõ phương hướng cơ bản về phát triển nông nghiệp,
nông thôn, trong đó nhấn mạnh việc quy vùng tập trung chuyên canh, đưa
công nghệ mới đặc biệt là công nghệ sinh học và sản xuất.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1996) nêu rõ:
Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn,
phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông
lâm thủy sản, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về
cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, bảo
đảm an toàn về lương thực; thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, hoá
học hoá, sinh học hoá; phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các
ngành nghề mới, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại.
[22]

2.2.2. Chủ trương, chính sách của tỉnh Bắc Ninh
Ở Bắc Ninh, tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn được thực hiện từ những năm đầu 1990. Nghị quyết đại hội 15 Đảng bộ
tỉnh (nhiệm kỳ 1997- 2000) xác định:
Khai thác mọi nguồn lực, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật để từng bước tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chú trọng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ
công nghiệp và xuất khẩu, phát triển kinh tế nhiều thành phần, tích cực chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. [41]
Đến Đại hội 16 Đảng bộ tỉnh (2001 - 2005), nhiệm vụ của tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn được thể hiện rõ hơn:
Đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung phát triển
các ngành công nghiệp có công nghệ cao trong các khu công nghiệp cùng
với phát triển tiểu thủ công nghiệp. Chuyển hẳn nền nông nghiệp sang sản
xuất hàng hóa mở rộng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ. Tăng trưởng
kinh tế cao, chuyển mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, phấn đấu đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công
nghiệp. [41]

73
Để hiện thực hóa chủ trương trên, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết trên
các lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn như: Nghị quyết 05-NQ/TU
ngày 31 tháng 7 năm 1997 của Tỉnh ủy về đổi mới và phát triển kinh tế hợp
tác theo Luật hợp tác xã. Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 10/4/1998 về chuyển
đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn. Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày
28 tháng 6 năm 2001 của Tỉnh uỷ về đẩy mạnh sản xuất và sử dụng giống lúa
có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất. Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 27
tháng 6 năm 2003 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh và phát triển chăn nuôi lợn nạc.
Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất như hỗ trợ chăn nuôi bò sữa, hỗ
trợ tiền tiêm vắc-xin, hỗ trợ tiền giống cho chăn nuôi lợn nái ngoại và lợn thịt

Bắc Ninh đã ban hành các chính sách hỗ trợ nông dân về giá giống lúa có
năng suất, chất lượng cao và chi phí chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Chính sách
này được thực hiện từ năm 1999 đến năm 2002; từ năm 2003 đến nay chính
sách hỗ trợ nông nghiệp được thực hiện theo quyết định số 108/2002/QĐ-UB,
ngày 30/8/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Theo quyết định này, việc hỗ trợ
nông nghiệp được mở rộng sang các lĩnh vực chăn nuôi, chuyển vùng trũng
sang nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng vùng sản xuất hàng hoá tập trung và tiêu
thụ sản phẩm hàng hoá theo hợp đồng...hiện nay các chính sách này vẫn đang
được tổ chức thực hiện trong toàn tỉnh. Về mức hỗ trợ cụ thể như sau: hỗ trợ
80% giá giống lúa siêu nguyên chủng để sản xuất ra giống nguyên chủng các
loại; hỗ trợ 50% giá giống để sản xuất các giống rau màu cây công nghiệp; hỗ
trợ giá giống đối với cây trồng mới, cây trồng có giá trị kinh tế cao: năm thứ
nhất hỗ trợ 50%, năm thứ hai hỗ trợ 40%, năm thứ ba hỗ trợ 30% giá giống;
hỗ trợ 100% giá thuỷ lợi phí cho cây vụ đông; hỗ trợ 100% kinh phí mua thiết
bị lạnh (xây dựng kho lạnh).
+ Về hỗ trợ phát triển chăn nuôi: tỉnh hỗ trợ các hộ nông dân, các đơn vị
kinh tế 1 triệu đồng/con mua bê cái để chăn nuôi lấy sữa, 3 triệu đồng mua bò
sữa đã cho sữa; mua lợn nái ngoại thuần về nuôi sinh sản hỗ trợ
200.000đ/con; mua con giống để chăn nuôi lợn thương phẩm (từ 50 con trở
lên) hỗ trợ 20% giá giống cho một lần đầu; mua giống gia cầm ông bà (từ 500
con trở lên) hỗ trợ 50% giá giống cho một lần đầu.
+ Về hỗ trợ chuyển dịch vùng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản: tỉnh hỗ trợ
100% kinh phí điều tra, khảo sát, thiết kế, quy hoạch và lập dự án. 100% kinh
phí cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất khi xây dựng quy
hoạch và dự án chuyển dịch vùng trũng; hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng cơ sở

75
hạ tầng các dự án trong vùng quy hoạch; 100% lệ phí chuyển đổi ruộng đất.
+ Ngoài ra tỉnh còn hỗ trợ kinh phí để xây dựng vùng sản xuất hàng hoá
tập trung chuyên canh; về ưu đãi, khuyến khích các hoạt động tiêu thụ nông

76
nghiệp do tỉnh quy định, tiền thuê đất được miễn 10 năm đầu và giảm 50% cho
những năm hoạt động còn lại của dự án; các doanh nghiệp được hỗ trợ tiền đền
bù thiệt hại về đất từ 10-30% giá trị đền bù; hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo lao
động cho các doanh nghiệp (tối đa không quá 1 triệu đồng/1 lao động).
- Về hỗ trợ đầu tư chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn,
chính sách quy định cụ thể là: đối với nguồn vốn chương trình môi trường quốc
gia hỗ trợ 40% tổng mức đầu tư của dự án, theo đó ngân sách tỉnh hỗ trợ 20%
tổng mức đầu tư dự án đối với các thôn trong các xã bình thường và 40% đối với
các xã khó khăn. Đối với công trình xử lí chất thải bằng bể Bioga, tỉnh hỗ trợ
50% mức đầu tư (tối đa không quá 1 triệu đồng/hộ), mỗi thôn với mức 250 hộ
dân được hỗ trợ 1 xe chở rác với giá 1,8 triệu đồng, tỉnh đầu tư 100% kinh phí
cho đào tạo, vận hành nước sạch, vệ sinh nông thôn. Với chính sách hỗ trợ trên,
từ năm 2001 đến năm 2004, đã có 20 dự án nước sạch được đầu tư xây dựng với
tổng số vốn là 12,7 tỷ đồng, trong đó từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc
gia là 64,7%, từ nguồn vốn ngân sách tỉnh 17,0%, số người được sử dụng là
35.297 người; có 4 dự án xử lý chất thải vệ sinh môi trường nông thôn được thực
hiện với tổng đầu tư 773,0 triệu đồng, trong đó: nguồn vốn hỗ trợ từ chương
trình mục tiêu quốc gia là 623,0 triệu đồng, chiếm 80,6%, hỗ trợ từ nguồn ngân
sách tỉnh là 150 triệu đồng, chiếm 19,4%. Trong 2 năm (2003-2004) tỉnh đã hỗ
trợ 4.602 triệu đồng để xây dựng 2.979 bể Biogas cho các hộ chăn nuôi và 899
xe chở rác cho các thôn có tổ chức thu gom rác thải.
- Về hỗ trợ xây dựng, nâng cấp đường giao thông nông thôn: tình hỗ trợ 20%
giá trị khối lượng công trình thực trong năm đối với xã khó khăn. Bên cạnh những
chính sách hỗ trợ cho nông nghiệp, Bắc Ninh còn có nhiều chính sách khuyến
khích khôi phục và mở rộng làng nghề truyền thống, phát triển ngành nghề mới
thu hút lao động ở nông thôn; chính sách cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế,
chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, thu hút nhân tài và nhiều chính sách hỗ
trợ khác nhằm khuyến khích thúc đẩy kinh tế xã hội nông thôn phát triển.
Các chủ trương, chính sách của địa phương đã tác động rất lớn đến sự

bước đầu được điều chỉnh theo hướng đổi mới quan hệ sở hữu, quản lý và
phân phối phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, từ cơ chế
quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế hạch toán tự chủ. Riêng đối với quan hệ
sở hữu tư liệu sản xuất trong nông nghiệp được điều chỉnh một bước rất quan
trọng, từ chỗ tập thể hoá triệt để máy móc, trâu bò, nông cụ theo cơ chế cũ
tiến đến thừa nhận quyền sở hữu của các hộ xã viên (trừ ruộng đất).
Vấn đề ruộng đất được điều chỉnh từng bước theo hướng giao quyền sử

78
dụng ruộng đất lâu dài cho hộ xã viên. Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từng
bước chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ.
- Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nông nghiệp nông thôn Bắc Ninh phát
triển trong điều kiện thuận lợi hơn. Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, cơ
chế mới đã phát huy mạnh mẽ, tiềm năng đất đai, lao động và các nguồn lực trong
nông nghiệp, nông thôn được khai thác và phát huy. Sản xuất nông nghiệp theo
hướng hàng hoá, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi và ngành nghề ở nông thôn. Cơ cấu
mùa vụ và cây trồng đã có chuyển biến tiến bộ, sản xuất nông nghiệp gắn công
nghiệp chế biến và dịch vụ ở nông thôn đã có sự phát triển; khoa học kỹ thuật được
áp dụng trong sản xuất nông nghiệp; kinh tế nhiều thành phần phát triển, quan hệ sản
xuất được củng cố, an toàn lương thực đảm bảo, đẩy lùi thiếu đói khi giáp hạt.
Thời kỳ này, tổng sản phẩm khu vực nông thôn Bắc Ninh qua các năm
đều tăng từ 852 tỷ đồng năm 1990 lên 1178,1 tỷ đồng năm 1995 và 1.421,7 tỷ
đồng năm 1997, nhịp độ tăng bình quân thời kỳ 1990 - 1997 là 7,55%. Cơ cấu
kinh tế đã có xu thế tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và và dịch vụ, giảm tỷ
trọng nông nghiệp (bảng 2.2). Các ngành sản xuất thủ công nghiệp và làng
nghề được phục hồi và phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho
lao động nông thôn, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới .
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm và nhịp độ tăng trưởng khu vực Bắc Ninh
với Hà Bắc thời kỳ 1990 – 1997
Đơn vị: tỷ đồng, %


79
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 55,7% năm 1990 xuống 49,4% năm
1996; tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng có xu thế tăng lên từ 19,5% năm 1990
lên 21,6% năm 1996, tương tự ngành dịch vụ 24,8%, 29%. Nếu so sánh nhịp độ
tăng GDP thời gian từ 1991- 1995 Bắc Ninh thấp hơn so với cả nước và các tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ 8,06% so với 8,2% và 11,2% (xem bảng 2.3 và bảng 2.4)
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế khu vực Bắc Ninh so với cả nước
thời kỳ ( 1990-1996)
Đơn vị: %
Cả nước Bắc Ninh

1996 1990 1995 1996
GDP
- Nông, lâm nghiệp
- Công nghiệp- XD
- Dịch vụ
100,0
27,2
30,7
42,1
100,0
55,7
19,5
24,8
100,0
51,5
20,9
27,6
100,0

Năng suất cây trồng chính đạt thấp: năng suất lúa cả năm đạt 27,1% tạ/ha
năm 1990 và đạt 28,8 tạ/ha năm 1994, trong đó năng suất lúa đông xuân đạt
28,3 tạ/ha (1990) và 30,8 tạ/ha (1994); năng suất lúa mùa đạt 27,8 tạ/ha
(1990) và 30,1 tạ/ha (1994). Năng suất lúa đạt thấp dẫn đến lương thực bình
quân đầu người đạt thấp, không đảm bảo được an ninh lương thực. Lương
thực bình quân đầu người năm 1990 đạt 227 kg và năm 1994 đạt 282 kg.
Nhìn chung, hệ thống cây trồng chủ yếu là sản xuất lương thực như lúa,
ngô, khoai lang, với chủng loại giống năng suất, chất lượng thấp dẫn đến năng
suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, tiêu thụ nông sản gặp nhiều khó
khăn và trở thành nỗi lo thường xuyên của người nông dân. Đất đai canh tác
ít, bình quân đất nông nghiệp 580m
2
/người, lô thửa nhiều từ 13-18 mảnh/hộ.
Với diện tích từng mảnh nhỏ, hẹp làm hạn chế đến quá trình cơ giới hóa nông
nghiệp và hạn chế việc hình thành các vùng nông sản hàng hóa tập trung.
Kinh tế hộ gia đình có bước phát triển, song còn mang nặng tính tiểu nông,
chưa chuyển mạnh sang kinh tế hàng hoá, các vùng chuyên canh chưa hình
thành rõ rệt, dẫn tới chủng loại nông sản thì nhiều, nhưng khối lượng từng
loại còn ít, chất lượng thấp, giá thành cao, rất khó khăn cho việc tổ chức tiêu
thụ và phát triển công nghiệp chế biến.
Mức độ cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp còn thấp, tỷ lệ diện
tích đất đai được làm bằng máy chỉ đạt 20%, tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu thu
hoạch đạt 15%, cơ giới hóa trong ngành chăn nuôi còn rất ít đạt khoảng 5%,
còn nhiều khâu công việc chưa được cơ giới hóa. Việc sử dụng điện phục vụ
sản xuất nông nghiệp còn thấp mới chỉ đạt 18%, chất lượng điện không đảm
bảo phục vụ sản xuất, tổn thất điện năng lớn, giá điện cao.
Việc chuyển giao khoa học - kỹ thuật đến nông dân chưa coi trọng, dẫn
đến nông dân thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật về nông nghiệp làm hạn chế
đến hiệu quả sản xuất, thu nhập trong những năm qua.


trọng). Hệ thống kênh mương nội đồng chưa được đầu tư tương xứng với các
công trình đầu mối, máy móc thiết bị trong các trạm bơm xuống cấp chưa
được tu sửa, bổ sung kịp thời, toàn tỉnh vẫn còn trên 10% diện tích canh tác

82
chưa chủ động tưới và tiêu nước. Hệ thống dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp
nông thôn còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu cho phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn như: vật tư phân bón, khuyến nông, khuyến công, tín dụng,
vận tải, chợ nông thôn, thông tin liên lạc, điện…
Khu dân cư nông thôn, các thị tứ, thị trấn ở nhiều nơi phát triển mang
tính tự phát, thiếu sự quy hoạch, hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền,
không đảm bảo yêu cầu kiến trúc không gian, cảnh quan và kiến trúc xây
dựng; lãng phí quỹ đất, tiền của và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội
trong tương lai. Nhiều địa phương chưa hình thành các khu vui chơi, giải trí,
thể thao.
Môi trường ô nhiễm nặng. Theo báo cáo kết quả điều tra của Sở Khoa
học-Công nghệ và Môi trường tỉnh Bắc Ninh năm 1997 cho thấy: khối lượng
nước thải, rác thải và khí thải của các làng nghề gây ô nhiễm nặng cho môi
trường sinh thái. Làng giấy Dương Ổ (xã Phong Khê, huyện Yên Phong) mỗi
ngày thải ra môi trường khoảng 900 – 1.000m
3
nước thải mang hàm lượng
chất hữu cơ lớn, một số chỉ tiêu NH3 nồng độ PH đã vượt quá tiêu chuẩn cho
phép từ 10 – 20 lần. Các làng nghề khác như: sản xuất nhôm, chì, kẽm, gạch
nung… đã thải ra không khí lượng CO2 và bụi chì lớn. Nguy cơ gây ô nhiễm
không khí và nguồn nước ngầm gây hại cho sức khoẻ người dân và sản xuất
nông nghiệp ngày càng gia tăng. Đời sống và việc làm của một bộ phận dân
cư khó khăn, bức xúc.
Những khó khăn, tồn tại trên đây do những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Điểm xuất phát của Bắc Ninh thấp, thu chi ngân sách hàng năm mất

Bắc Ninh

GDP

8,2 11,2 8,06
- Nông, lâm nghiệp

4,3 4,6 4,3
- Công nghiệp- XD

12,8 16,4 10,6
- Dịch vụ 9,1 10,4 10,7
Nguồn: [17]

2.3.2. Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Bắc Ninh thời kỳ từ năm 1997 đến nay
2.3.2.1. Những thành tựu chủ yếu
- Kinh tế-xã hội phát triển khá và tương đối toàn diện
- Năm 1997, tỉnh đã tập trung cao chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ
trọng tâm để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo đơn
vị hành chính mới. Đặc điểm kinh tế thời kỳ này là kinh tế của tỉnh ở điểm
xuất phát thấp, GDP bình quân đầu người năm 1996 mới bằng 56,2% so
với mức bình quân của cả nước. Vì vậy, mục tiêu đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế nhanh đặt ra như là yêu cầu bắt buộc, là khâu đột phá nhằm
thúc đẩy kinh tế phát triển. Đến giai đoạn 1997- 2005, kinh tế của tỉnh liên
tục phát triển với tốc độ khá cao, đạt 10,23% năm 1997, 16,6% năm 2000
và 13,49% năm 2005 (xem đồ thị 2.1). 84

chuyn bin rừ rt, khỏ ton din v t c nhng thnh tu quan trng: kinh t
tng trng vi tc cao, c cu kinh t núi chung, c cu nụng nghip v kinh
t nụng thụn núi riờng chuyn dch theo hng cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ,
110,23
107,84
115,95
116,6
114,07
113,87
113,61
113,82
113,49
100
102
104
106
108
110
112
114
116
118
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Năm
%
35,6%
Nm 2005
47,1%
26,4% 38,0%
Nm 2000

- Công nghiệp, xây dựng 417,3 880,2 1853,4 2215,4 21,9 20,3
- Nông, lâm, ngư nghiệp 762,6 937,4 1151,1 1199,9 6,0 5,1
- Khu vực dịch vụ 526,8 670,7 1174,9 1369,8 12,8 15,4
2- Cơ cấu GDP (%) 100 100 100 100
- Công nghiệp, xây dựng 23,8 35,6 44,7 47,1
- Nông lâm ngư nghiệp 45,0 38,0 28,2 25,7
- Khối dịch vụ 31,2 26,4 27,1 27,2
3- GDP/người

- VNĐ (nghìn) 2165,8 3540 6960 8360 16,9 18,8
- USD 183,8 238,4 444 525,7 12,3 17,2
4- GDP/ng so TĐBB, (%) 54 67 68
5. GDP/ng so cả nước, (%) 62 82 86
Nguồn: [53]
- Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng nhanh
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh tăng lên liên tục từ 762,6 tỷ
đồng năm 1997 lên 937,4 tỷ đồng năm 2000 và 1199,9 tỷ đồng năm 2005.
Tốc độ tăng bình quân khu vực nông, lâm, ngư nghiệp thời kỳ 1997-2005 là
6% ( riêng thời kỳ 2001- 2005 là 5,1%). Sự tăng trưởng của sản xuất nông,
lâm nghiệp và thủy sản đã góp phần tăng quy mô nền kinh tế của tỉnh đến
năm 2005 đã gấp 1,9 lần năm 2000 và khoảng 3 lần năm 1997.
Như vậy, cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế của tỉnh với tốc độ khá cao,
sản xuất nông nghiệp cũng đạt mức tăng trưởng khá, chuyển mạnh theo hướng
sản xuất hàng hoá, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo
hướng hiệu quả cao, các loại giống cây, con mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật được
áp dụng rộng rãi. Mặc dù trong những năm gần đây thời tiết, thiên tai bất thuận
cho sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng giảm từ 92.183ha năm 2000 xuống

86
còn 84.741ha năm 2005, nhưng sản lượng lương thực vẫn tăng từ 438 nghìn tấn

- Dịch vụ NN 38,6 50,2 79,8 9,25 9,74
Cơ cấu (%)

- Trồng trọt 69,0 68,4 56,6 - Chăn nuôi 27,8 28,4 39,4 - Dịch vụ 3,2 3,2 4,0 Nguồn: [17]

87
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997-2000 là 9,21%, giai
đoạn 2001-2005 là 4,92%/năm, trong đó: trồng trọt tăng 8,36%/năm (1997-
2000) và 1,62% (2001-2005); chăn nuôi tương ứng là 11,38% và 11,02%,
dịch vụ nông nghiệp tương ứng là 9,25% và 9,74%. Sản lượng lương thực
có hạt tăng từ 438 nghìn tấn (2001) lên 454 nghìn tấn (năm 2005). Tỷ trọng
ngành trồng trọt trong cơ cấu nông nghiệp giảm từ 69% (năm 1997), 68,4%
(năm 2000), xuống còn 56,6% (năm 2005), tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng
lên tương ứng là 27,8%, 28,4% và 39,4%, dịch vụ nông nghiệp là 3,2%,
3,2% và 4,0% (bảng 2.6 và biểu đồ 2).

60,0
80,0
1997 2000 2005
Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ

88
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp

Thực hiện
Chỉ tiêu

Đơn vị
Mục tiêu
KH
Thực hiện % so KH
- Tổng GTSX nông nghiệp Tỷ đồng 2050 2195,7 107,1
- Sản lượng cây có hạt. 1 nghìn tấn 500 454,4 90,9
- SL cây có hạt Bq/người Kg 500 455,2 91,0
- GTSX nông nghiệp/ha canh tác tr. đồng 50 47,7 95,4
- GT trồng trọt/ha canh tác tr. đồng 33 36,6 110,9
Nguồn: [16]
Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ chuyển dịch theo hướng tăng diện
tích lúa xuân muộn và mùa trung, giảm diện tích xuân sớm, xuân trung. Năng
suất các loại cây trồng đã được nâng lên do áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới về
giống và kỹ thuật thâm canh. Trước hết là cây lúa, đây là cây trồng chủ yếu
trong cơ cấu cây trồng, diện tích lúa chiếm 80,1% tổng diện tích gieo trồng
năm 2005, năng suất lúa từ 5,3 tấn/ha năm 2000 lên 5,5 tấn/ha năm 2005, sản
lượng lúa đạt 431 nghìn tấn năm 2000 lên 438 nghìn tấn năm 2005. Tiếp theo
là cây ngô, diện tích gieo trồng 4.369ha (năm 2000) và 2.393ha (năm 2005),
năng suất từ 2,6 tấn/ha (năm 2000) lên 3,1 tấn/ha (năm 2005).

1.803ha, năm 2005 đạt 1.956ha, năng suất từ 18 tạ/ha lên 19 tạ/ha, đưa sản
lượng tăng từ 2,9 nghìn tấn lên 3,12 nghìn tấn, (bảng 2.8) .
Cây khoai tây là cây thực phẩm chính có giá trị kinh tế cao của tỉnh Bắc
Ninh, diện tích cây khoai tây tăng từ 2.486 ha năm 2000 lên 3.146 ha năm 2005,
năng suất tăng từ 128,6 tạ/ha lên 169,1 tạ/ha, sản lượng năm 2005 đạt 53,22
nghìn tấn, tăng 19,17 nghìn tấn so với năm 2000. Cây rau là cây có nhiều ưu thế
của tỉnh vì gần thị trường Hà Nội, Quảng Ninh, các khu công nghiệp, khu đô thị
công nghiệp, đó là thị trường rộng lớn, ổn định có nhu cầu tiêu thụ rau chất
lượng cao. Những năm qua, diện tích rau tăng từ 5.791ha năm 2000 lên 7.460ha
năm 2005, chủng loại rau khá đa dạng, đã có một số cây rau cao cấp cho giá trị
kinh tế cao như: cà chua, cải bắp, xu hào. Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ
cùng với các biện pháp thâm canh khoa học, đã đưa giá trị trồng trọt trên 1 ha
canh tác ngày càng tăng lên, năm 2005 đạt 36,6 triệu đồng.
Thời gian qua có một số xã thuộc huyện Gia Bình, Lương Tài,
Thuận Thành, Từ Sơn đã đạt trình độ cao trong thâm canh cũng như khả
năng tiếp thị theo hướng sản xuất hàng hoá, xuất khẩu. Đã xuất hiện một
số mô hình sản xuất dưa chuột, ớt... xuất khẩu sang Nga và các tỉnh phía
Nam Trung Quốc đã cho hiệu quả kinh tế khá, do chủ yếu thực hiện
thông qua các công ty, doanh nghiệp ký kết hợp đồng với người nông
dân. Tuy nhiên số mô hình này còn ít, quy mô nhỏ, giá bán chưa cao,
thiếu tính ổn định, vì thế mở rộng diện tích rau xuất khẩu trên quy mô
lớn còn gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm gần đây diện tích cây ăn quả tăng từ 1.250ha năm 2000
lên 1.790ha năm 2005. Cây ăn quả chủ yếu là chuối, cam, quýt, nhãn, vải... được
trồng nhiều trong các hộ gia đình ở quy mô nhỏ, theo mô hình VAC được chuyển
đổi từ ruộng trũng sang.

90
Nghề trồng dâu nuôi tằm ở Bắc Ninh đã có từ lâu đời, do giá bán tằm
tơ có nhiều biến động, chất lượng tơ kém sức cạnh tranh trên thị trường,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status