Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của chính quyền thị trấn thanh sơn, huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ từ năm 2010 đến nay thực trạng và giải pháp - Pdf 38

A MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, công cuộc đổi mới, phát triển đất nước đặt ra những yêu cầu
cấp bách đối với công tác cán bộ của Đảng. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ
công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu
kém trong từng khâu của công tác cán bộ". Lấy yếu tố con người làm trung
tâm, đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng là yếu tố quyết định đến kết
quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, trách
nhiệm của cấp ủy đảng các cấp phải chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, bố trí, sử dụng sao cho hiệu quả, phát huy hết được năng lực của cán bộ.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn dành sự quan tâm lớn đối với công tác cán bộ của Đảng. Người
cho rằng: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Công việc thành công hoặc
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém ”. Cán bộ là “ cầu nối ” giữa Đảng, Chính
phủ với nhân dân. Chính vì lẽ đó một trong những nội dung quan trọng của
công cuộc cải cách hành chính là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn
cao, có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu
quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong hệ thống chính trị của nhà nước Việt Nam, cấp xã (xã, phường, thị
trấn) là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp, là nền tảng của hệ thống
chính trị. Cấp xã giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp thực
hiện đường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ cấp trên giao, là cấp chính
quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu nối giữa nhà nước
với nhân dân. Qua từng thời kỳ lịch sử, chính quyền cấp xã không ngừng
được xây dựng và củng cố, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ
cơ sở. Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố
chính quyền cấp xã vững mạnh. Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính
1

nay.

2


Đề xuất một số phương hướng, giải pháp, để nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức của chính quyền Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ.
3. Phạm vi, thời gian nghiên cứu:
Tiểu luận nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của chính
quyền Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Không gian nghiên cứu: Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh
Phú Thọ.
Thời gian nghiên cứu : Nghiên cứu đánh giá thực trạng chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức của chính quyền Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến nay.
Thời gian thực hiện đề tài : từ ngày 15/6/2016 đến ngày 5/8/2016.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp, trong đó chú trọng phương
pháp tổng kết, điều tra thực tiễn, thống kê, tổng hợp số liệu, phân tích đánh
giá....
5. Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình Trung cấp lý luận : Những vấn đề cơ bản về quản lý hành chính
nhà nước. Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội 2014
- Luật cán bộ công chức năm 2008.
- Nghị định 56/2015/NĐ - CP Quy định về đánh giá phân loại cán bộ công
chức.
- Nghị định 06/2010/NĐ - CP Quy định những người là công chức.
- Nghị định 112/2011/NĐ - CP Quy định về công chức xã, phường, thị trấn.
- Nghị định 29 /2013/ NĐ - CP Quy định về số lượng, một số chế độ chính

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm, vai trò của cán bộ công chức:
1.1. Khái niệm cán bộ công chức:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của ĐCS Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu
tổ chức chính trị - xã hội.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

quyền trở nên khoa học, tinh gọn, hợp lý, phân công đúng người, đúng việc,
không có sự cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa
6


các bộ phận, phòng ban. Tổ chức bộ máy ở cơ sở vững mạnh là nền tảng, tiền
đề để phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ công chức đồng thời góp phần
kiện toàn và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước.
Trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ, cán bộ, công chức cơ sở
là những người trực tiếp tổ chức thực hiện và góp phần quyết định sự thành
bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong thực tiễn
đời sống. Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nước có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không một phần quyết
định là ở cấp xã. Cán bộ, công chức cấp xã luôn phát huy những vai trò của
mình trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước, của các địa phương; trực
tiếp với quần chúng, tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Hiệu lực,
hiệu quả của chính quyền cấp xã xét đến cùng chính là được quyết định bởi
phẩm chất và năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.
2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức.
2.1 Quan điểm của Đảng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCH TW khóa VIII khẳng định: Cán bộ
là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng
Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây
dựng được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đưa ra các chính sách và giải
pháp trong đó có gải pháp: đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán
bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức
có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thoả đáng và công

dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây
dựng bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
3. Nội dung cơ bản quản lý cán bộ, công chức cơ sở
3.1 Nguyên tắc chung quản lý cán bộ, công chức
3.1.1 Quản lý cán bộ, công chức phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản và sự quản lý của Nhà nước, điều lệ của các tổ chức chính trị - xã
hội:

8


Phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Công tác cán bộ được đổi mới có vai trò quyết
định thắng lợi mục tiêu đó. Mặt khác, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là môi trường thực tiễn để
rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ, nâng cao phẩm chất, kiến thức, năng
lực của đội ngũ cán bộ.
Quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát triển truyền
thống yêu nước và đoàn kết dân tộc.
Gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ
chế, chính sách.
Thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân,
nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bỗi dưỡng cán
bộ.
Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ
theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ
chức thành viên trong hệ thống chính trị.
3.1.2 Quản lý cán bộ, công chức phải kết hợp giữa tiêu chuẩn chức
danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế

mình theo quy định của pháp luật.
Tính dân chủ thể hiện ở việc mọi vấn đề hệ trọng liên quan đến cán bộ
công chức đều được bàn bạc, thảo luận cho mọi người cùng biết, cùng tham
gia đóng góp. Tính công khai, tính tập thể được thực hiện một cách rộng rãi
và mạnh mẽ như: tổ chức lấy ý kiến nhận xét, đánh giá của nhiều người, nhiều
bộ phận đối với các cán bộ, công chức hay ở việc tiến hành bầu cử người lãnh
đạo, quản lý… Nội dung các khâu trong công tác cán bộ được chuẩn bị kỹ,
tiếp thu và lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và quần chúng, không áp
đặt ý kiến cá nhân, định kiến hoặc phân biệt với các ý kiến thuộc về thiểu số.
Những ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu, đệ trình lên cơ quan cấp
trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Mặc dù tập thể lãnh đạo nhưng khi tổ chức thực hiện thì phải có sự
phân công nhiệm vụ rõ ràng, có người phụ trách. Người được phân công phụ
trách phải đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân, tích cực chủ động triển khai
10


thực hiện nhiệm vụ được giao và phải chịu trách nhiệm trước tập thể, chịu sự
kiểm tra, giám sát của tập thể. Việc gì cá nhân không thực hiện được thì phải
giao cho tập thể làm và phải có người đứng đầu tập thể đó chịu trách nhiệm.
Chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức là những quy định
về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của người cán bộ, công chức phải
thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ, nếu không làm tốt hoặc
vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật. Chế độ trách nhiệm đó được
thể hiện qua việc chấp hành các quy định trong chuyên môn nghiệp vụ cũng
như về đạo đức nghề nghiệp mà qua đó thể hiện năng lực, phẩm chất của
người cán bộ, công chức vừa thể hiện bản chất nhà nước phục vụ nhân dân.
Do vậy, để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và thực hiện đầy đủ
trách nhiệm của mình đòi hỏi người CBCC không chỉ là người giỏi về chuyên
môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải là người chấp hành

giữa nam và nữ:
Năm 2006, Nhà nước đã ban hành Luật bình đẳng giới với các quy
định về biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;
Thể hiện trong khoản 5, Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
3.2. Các nguyên tắc cụ thể về quản lý cán bộ, công chức cơ sở.
3.2.1 Các quy định của phát luật về nội dung quản lý cán bộ, công chức
cơ sở.
Nội dung quản lý cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cơ
sở nói riêng được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Đó là những nội dung nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức
đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan nhà nước. Quản lý cán bộ, công chức
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ,
công chức.
Xây dựng kế hoạch, quan hệ cán bộ, công chức.
Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ.
Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí
việc làm và cơ cấu công chức đề xác định số lượng biên chế.
Các công tác khác liên quan đến quản lý cán bộ, công chức.

12


Do CBCC của Việt Nam bao gồm nhiều nhóm người làm việc trong
các môi trường thể chế khác nhau nên quy trình cũng như nội dung quản lí
cán bộ, công chức sẽ không giống nhau. Cụ thể:
Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ ban hành nội
dung quản lý cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức chính trị; các đơn
vị sự nghiệp công lập của Đảng.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ quy định nội dung quản lí cán bộ công

Thanh Sơn, có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương kinh tế, kinh doanh
thương mại, dịch vụ. Cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần; tập trung phát
triển mạnh các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh
thương mại dịch vụ.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định và giữ vững.
Chính quyền thị trấn luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực
tiếp của Huyện uỷ, HĐND, UBND huyệnThanh Sơn, cùng với sự đoàn kết,
tập trung phát huy trí tuệ của toàn Đảng bộ, chính quyền, MTTQ và các ban
ngành đoàn thể. Nhân dân thị trấn Thanh Sơn luôn cần cù, sáng tạo, chủ động
vượt qua khó khăn để phát triển kinh tế xã hội.
2.1.3. Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức của chính quyền Thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ:
14


Thực hiện Chiến lược cán bộ trong thời kỳ mới, những năm qua Đảng
bộ huyện Thanh Sơn luôn đặc biệt quan tâm, lãnh đạo đội ngũ cán bộ công
chức nói chung đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở nói riêng. Thêm
vào đó sự ủng hộ của nhân dân địa phương đã tạo điều kiện cho cán bộ công
chức hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Nhờ sự chủ động, tích cực của Đảng ủy Thị trấn, về cơ bản, chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức Thị trấn Thanh Sơn đã được nâng lên rõ rệt. 100%
cán bộ công chức UBND thị trấn có trình độ chuyên môn đại học, lý luận
chính trị trung cấp. Các cán bộ công chức có năng lực công tác tốt, có kinh
nghiệm thực tiễn; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính quyết đoán và tinh
thần trách nhiệm cao. Nhiệm vụ được phân công phù hợp với năng lực và
chuyên môn đào tạo; các thành viên đã phát huy tốt sở trường và hiệu quả
công tác. Đa số cán bộ, công chức của Thị trấn Thanh Sơn đều được rèn
luyện, thử thách trong thực tiễn, đoàn kết, gắn bó, có ý gương mẫu chấp hành

tiếp đến người dân.
Tình hình an ninh chính trị phức tạp, tỷ lệ tội phạm cao, nhiều tệ nạn xã
hội tập trung trên địa bàn Thị trấn đã gây khó khăn cho công tác quản lý của
chính quyền cơ sở.
Chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ công chức ở cơ sở còn
nhiều bất hợp lý, chưa đảm bảo để cán bộ yên tâm công tác, cống hiến.
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền Thị
trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
2.2.1. Kết quả đạt được:
Hiểu rõ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức, chính quyền Thị
trấn Thanh Sơn luôn chăm lo cho đội ngũ cán bộ công chức của mình và đạt
được những kết quả sau :

16


*Công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về cán bộ công chức.
Từ năm 2010 đến năm 2015, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Thị trấn Thanh Sơn đã tổ chức triển khai và thi hành các văn bản quy phạm
pháp luật về cán bộ, công chức của nhà nước dưới các hình thức như: mở hội
nghị quán triệt, tuyên truyền, phổ biến và mở các lớp tập huấn về các văn bản
của cấp trên như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số
112/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư
số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ
thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Nghị định số
09/2015/NĐ-CP của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã
hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc...
Ủy ban nhân dân Thị trấn Thanh Sơn đã triển khai một cách đầy đủ, kịp thời
giúp cho cán bộ công chức ở xã hiểu một cách đầy đủ về chủ trương, chính

100%.; Chuyên môn Đại học có 3 đồng chí, chiếm 60%; trung cấp 2 đồng chí
chiếm 40% . Lý luận chính trị trung cấp 5/5 đồng chí = 100%
Đoàn thể: Đoàn thanh niên: 1 Bí thư đoàn; Ban chấp hành(???)
Hội phụ nữ : 1 chủ tịch hội; Ban chấp hành 21 đồng chí
Hội nông dân: 1 chủ tịch hội; Ban chấp hành 15 đồng chí.
Hội cựu chiến binh: 1 chủ tịch hội; Ban chấp hành 15 đồng chí.
+ Công chức xã: 13 đồng chí , gồm: 02 công chức Văn phòng Thống
kê; 02 công chức Tài chính Kế toán; 03 công chức Văn hóa Xã hội; 02 công
chức Địa chính Xây dựng; 02 công chức Tư pháp Hộ tịch; 01 công chức là
Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự xã; 01 công chức là Trưởng Công an xã.
Về cơ cấu: là nam 11 người, chiếm 84,6%; nữ là 2 người, chiếm
15,4%; là người dân tộc thiểu số là 4 người, chiếm 30,7%.
Về độ tuổi: dưới 30 tuổi 2 người = 15,4%; từ 30 đến 35 tuổi 3 người =
23,1%; từ 35 đến 40 tuổi 5 người = 38,46%; từ 40 tuổi trở lên 3 người =
23,07%.
Về trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông 13/13 người =
100%.
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ 1 người chiếm 7,69% Đại học 11/13
người, chiếm 84,6%7%; trung cấp 1/13 người, chiếm 7,69%.
18


Trình độ lý luận chính trị: trung cấp 10/13 người, chiếm 76,9%; chưa
qua đào tạo là 3/13 người, chiếm 23,07%.
Công tác quy hoạch các chức danh và cơ cấu cán bộ công chức Thị trấn
Thanh Sơn từ năm 2010 đến nay: Đảng ủy, chính quyền xã đã nhận thức rõ ý
nghĩa tầm quan trọng của công tác quy hoạch cán bộ nên việc xây dựng quy
hoạch đã được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng theo các văn bản hướng
dẫn của cấp trên và phù hợp với tiễn ở địa phương. Việc quy hoạch xuất phát
từ yêu cầu nhiệm vụ nên quy hoạch cán bộ luôn đảm bảo phương châm “mở”

cụ thể (theo chuyên môn được đào tạo) như sau:
- Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã. Ngạch cán sự, mã
ngạch 01.004.
- Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã. Ngạch chuyên viên, mã
ngạch 01.003.
- Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã. Ngạch chuyên viên, mã ngạch
01.003.
- Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã. Ngạch cán sự, mã ngạch 01.004.
- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Ngạch chuyên viên, mã ngạch
01.003.
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã. Ngạch cán sự, mã
ngạch 01.004.
- Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ngạch chuyên viên,
mã ngạch 01.003.
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xã. Ngạch cán sự, mã ngạch
01.004.
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có Tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam). Ngạch chuyên viên, mã ngạch 01.003.
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Ngạch cán sự, mã ngạch
01.004.
13 chức danh công chức xã được bố trí, xắp xếp thông qua tuyển dụng,
có mã ngạch gắn với chuyên môn được đào tạo như sau:
- Trưởng Công an xã: 1 người; ngạch cán sự, mã ngạch 01.004.

20


- Chỉ huy trưởng Quân sự xã: 1 người; ngạch chuyên viên, mã ngạch
01.003.

tiến
15% số
LĐTT)

Năm

Tổng
số
CBCC

201

24

9

15

0

0

3

21

0
201

24

2
201

24

9

15

0

0

3

20

3
201

24

9

14

1

0



Không
hoàn
thành
nhiệm
vụ

5
.* Về các công tác khác liên quan đến quản lý cán bộ, công chức
21


Công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
công chức luôn được lãnh đạo Đảng ủy, UBND Thị trấn quan tâm, từ năm
2010 đến nay, xã đã cử và tạo điều kiện cho hơn 48 lượt cán bộ công chức cấp
Thị trấn cả đương chức và cán bộ trong diện quy hoạch, dự nguồn tham gia
các lớp đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị; đồng thời cán
bộ công chức xã luôn tham dự đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ
do cấp trên tổ chức hàng năm. Chính vì vậy, trình độ về mọi mặt của cán bộ
công chức ở xã được nâng lên, kết quả cụ thể ( bảng thống kê số lượng CBCC
được đào tạo bồi dưỡng hàng năm)?

22


Công tác thi đua khen thưởng đã được thực hiện theo đúng quy định của Luật
Thi đua Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn, việc bình xét khen thưởng
đã được thực hiện dân chủ, kịp thời, chính xác, hàng năm vào dịp đánh giá,
phân loại cán bộ công chức, tập thể cán bộ công chức xã đều tổ chức bình xét
khen thưởng những cá nhân có thành tích nổi bật để khuyến khích động viên

Về số lượng, vấn đề nan giải đặt ra đối với các xã, phường, thị trấn hiện
nay là vừa thừa, lại vừa thiếu cán bộ. Đây thực sự là một gánh nặng cho ngân
sách nhà nước và là bài toán khó cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động của đội ngũ cán bộ này.( TT Thanh Sơn có vậy ko?)
Về lượng, bên cạnh những chuyển biến tích cực, trình độ, kiến thức và
năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở còn nhiều mặt hạn chế. Thực tế
cho thấy, việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vừa qua mới chỉ
tập trung vào việc chuẩn hóa bằng cấp. Không ít cán bộ, công chức đương
nhiệm phải “chạy xô” học hành, thi cử lấy bằng cấp để đáp ứng yêu cầu
“chuẩn hóa”. Hơn nữa, nếu trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
hiện nay chỉ đạt trình độ chuyên môn là trung cấp thì không đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành việc phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng ở đơn vị hành chính cơ sở, đặc biệt
khi chúng ta triển khai thực hiện mô hình chính quyền đô thị, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới

24


với rất nhiều nội dung, tiêu chí đòi hỏi phải có kiến thức khoa học, công nghệ,
kiến thức quản lý hành chính, xây dựng, quản lý kinh tế…
Bên cạnh đó, tình trạng cục bộ địa phương theo thôn, xóm, dòng họ
trong đội ngũ cán bộ, công chức còn diễn ra ở nhiều nơi.
Có nhiều nguyên nhân của những hạn chế nêu trên, trong đó có nguyên
nhân do lịch sử để lại. Đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau, đa số trưởng thành ở cơ sở, tuy có nhiều kinh nghiệm
nhưng không được đào tạo bài bản, lại chịu ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông,
sản xuất nhỏ. Mặt khác, trong một thời gian dài, việc xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức cơ sở chưa được quan tâm đúng mức, công tác quy hoạch còn
mang tính hình thức, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status