Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Của Huyện Uỷ Hiệp Hoà - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

BÁO CÁO KIẾN TẬP
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA HUYỆN UỶ HIỆP HOÀ

ĐỊA ĐIỂM KIẾN TẬP: HUYỆN UỶ HIỆP HOÀ

Người hướng dẫn

: Nguyễn Tú Anh

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Thị Quyên

Ngành đào tạo

: Quản trị Nhân lực

Lớp

: 1205.QTND

Khóa học

: 2012 - 2016

Hà Nội - 2015


cũng từng bước được triển khai. Hệ thống chính trị cũng ngày càng phát triển và
từng bước được hoàn chỉnh để điều chỉnh ngày một hiệu quả các quan hệ kinh tế
- xã hội. Bộ máy Nhà nước dần dần được chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực, hiệu
quả trong công tác điều hành và quản lý xã hội, công tác hành chính nhà nước
của các cấp chính quyền trong cả nước còn bị buông lỏng ở nhiều khâu , hiệu
1


quả, hiệu lực quản lý của chính quyền chưa cao. Đứng trước tình hình đó, Đảng
cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước và
hoàn thiện nhà nước CHXHCNVN. Một trong những nội dung quan trọng của
công cuộc cải cách hành chính là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao,
có kĩ năng quản lý vận hành bộ máy Nhà nước để thực hiện có hiệu quả chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Đội ngũ cán
bộ, công chức có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả
hoạt động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền cấp Huyện uỷ nói
riêng. Hiệu lực quản lý Nhà nước được thực hiện bởi số lượng, chất lượng của
đội ngũ cán bộ, công chức, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: “cán bộ nào
thì phong trào ấy”. Do vậy, nhận biết được thực trạng của đội ngũ cán bộ, công
chức Huyện uỷ Hiệp Hoà là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần nâng cao
đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước.
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức huyện uỷ Hiệp Hoà có
những tiến bộ đáng kể , góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ. Tuy nhiên, hiện nay trong công tác cán bộ; xét
về chất lượng, số lượng và cơ cấu, còn có mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Trong quá trình kiến tập tại Huyện uỷ Hiệp Hoà, do thời gian không
nhiều, quá trình nghiên cứu tài liệu chưa thực sự được kĩ càng, nhận thức về

1. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
CHXHCNVN, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là công
cuộc cải cách hành chính- lĩnh vực có ảnh hưởng sâu rộng tới các lĩnh vực
khác.Các nội dung cải cách hành chính Nhà nước ta xác định bao gồm: Cải cách
thể chế hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức trong sạch, vững mạnh, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
bộ máy Nhà nước.Trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế là cả quá trình phấn đấu lâu dài, bền vững. Có chiến lược
phát triển cụ thể, rõ ràng.Tất cả những nội dung này đều hướng tới mục tiêu
chung đó là: Xây dựng bộ máy hành chính ngày càng kiện toàn, xây dựng đội
ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh từng bước đi lên CNXH.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh 2 yếu tố là “Đức” và “ Tài’ trong đó lấy đức làm
gốc, cái nền tảng của cán bộ. Người không có gốc thì cũng giống như 1 cái cây,
sẽ héo úa, không thể tồn tại được. Người cán bộ phải có đạo đức, không có đạo
đức dù tài giỏi đến đâu thì cũng không thể lãnh đạo được nhân dân, đón nhận
được tình cảm từ phía người dân. Đức, tài phải luôn song hành cùng nhau, dựa
vào nhau để đạt được mong ước cuối cùng của người lãnh đạo.Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, công việc thành
công hay thất bại là đều ở cán bộ mà ra. Nếu không có đội ngũ cán bộ tốt thì mọi
chủ trương, đường lối, nhiệm vụ tốt cũng khó có thể trở thành hiện thực.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Thấy được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Huyện uỷ
huyện Hiệp Hoà. Nghiên cứu vấn đề nhằm làm rõ những điểm tích cực, điểm
hạn chế, sai xót trong quá trình thực hiện, từ đó đưa ra các những kiến nghị, giải
pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, phát huy điểm
tích cực, ngăn chặn những hạn chế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.Thông qua
đó đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, phát triển xã hội của địa phương.
4

Ý nghĩa về mặt lý luận: Quan đề tài nghiên cứu, tôi muốn hướng tới thực
trạng công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từ đó đưa ra các
5


hệ thống, tiêu chí đánh giá để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu nhằm đưa ra
các giải pháp, khuyến nghị, thực hiện tốt nhất công tác nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Đề tài đã có những đóng góp bổ ích cho chính
bản thân, giúp tôi có cơ hội tìm hiểu, tiếp cận thêm về công tác nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức của cơ quan. Đề tài không những là tài liệu bổ ích cho
bản thân, giúp tôi vận dụng được những lý thuyết đã học vào thực tiễn, đồng
thời nó còn là tài liệu cho những người quan tâm, giúp cơ quan đánh giá sâu sắc
về hệ thống đội ngũ cán bộ,công chức, đảng viên tại cơ quan.
7. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài có kết cấu 3
chương:
Chương I. Tổng quan về huyện uỷ Hiệp Hoà
Chương II. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Huyện
uỷ Hiệp Hoà
Chương III. Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức của Huyện uỷ Hiệp Hoà.

6


CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ HUYỆN UỶ HIỆP HOÀ
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CỦA HUYỆN UỶ HIỆP HOÀ
1.1.Tổng quan về cơ quan

bàn huyện.
Giúp Ban Thường vụ Huyện uỷ về công tác dân vận bao gồm: Công tác
tôn giáo, nghiên cứu, cụ thể hoá chủ trương, nghị quyết của TW và Tỉnh uỷ về
công tác dân vận, đề xuất, chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các kế hoạch công
tác và và văn bản chỉ đạo của huyện uỷ ban Thường vụ Huyện về công tác dân
vận.
Giúp uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn về
công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật Đảng trong đảng bộ. Là cơ quan
chuyên môn , nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỉ luật trong
Đảng của Huyện uỷ.
c, Nhiệm vụ
Giúp Huyện uỷ nghiên cứu, cụ thể hoá những chủ trương, nghị quyết của
cấp trên về công tác tổ chức cán bộ, công tác xây dựng Đảng về tổ chức, công
tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng; đề xuất, chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các
nghị quyết, quyết định của Huyện uỷ và Ban Thường vụ Huyện uỷ về các mặt
công tác nói trên.
Chuẩn bị hoặc thẩm định các vấn đề, đề án về tổ chức, cán bộ trước khi
trình Huyện uỷ và Ban Thường trực Huyện uỷ xem xét, quyết định.
Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra các phòng ban, ngành, đoàn thể Huyện và
các Đảng uỷ(chi uỷ) trực thuộc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của TW, tỉnh uỷ
Huyện uỷ về công tác tổ chức cán bộ và công tác xây dựng Đảng về tổ chức,
công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.
Tổ chức nghiên cứu hoặc phối hợp với các ban ngành liên quan nghiên
cứu, cây dựng các chuyên đề về công tác tổ chức cán bô, công tác xây dựng
Đảng về tổ chức, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo của tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng Đảng viên, xây dựng và quản lý
đội ngũ cán bộ.
Giúp BTV Huyện uỷ quản lý biên chế cơ quan Đảng, đoàn thể Huyện;
thực hiện chính sách về cán bộ, thẩm định việc điều động, luân chuyển, tiếp
8

Theo dõi, tổng hợp, nghiên cứu, phân tích tình hình tư tưởng của cán bộ,
đảng viên và quần chúng nhân dân ở địa phương, để kịp thời tham mưu, đề xuất,
9


với Huyện uỷ giải pháp đấu trang chống tư tưởng sai trái với đường lối, quan
điểm của Đảng, việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Huyện góp phần tạo sự
đồng thuận trong xã hội, sự thống nhất cao trong đảng. Trực tiếp chỉ đạo và
quản lý hoạt động của đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội trong việc nắm bắt
và tổng hợp , phân tích thông tin, báo cáo Thường trực Huyện uỷ và cơ quan
chuyên môn cấp trên. Thực hiện đổi mới nội dung, hình thức học tập sao cho
phù hợp với trình độ, yêu cầu của sự phát triển tới đội ngũ đảng viên.
Tham mưu cho Huyện uỷ trong việc định hướng tư tưởng cho các hoạt
động chính trị, kinh tế, văn hoá, văn nghệ, khoa giáo từ Huyện uỷ đến cơ sở,
hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị nghị quyết của Đảng về lĩnh vực
văn hoá, văn nghệ và công tác khoa giáo.
Sưu tầm, biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện và phối hợp với các ngành
chuyên môn trong trong việc nghiên cứu, thẩm định các hoạt động liên quan đến
lịch sử của Đảng bộ huyện và các sự kiện lịch sử ở địa phương. Hướng dẫn các
cơ sở trong việc biên soạn lịch sử truyền thống của ngành và đơn vị.
Giúp TT Huyện uỷ tiếp dân và giải quyết đơn thư, kiến nghị của tổ chức
và công dân.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ bên trong
- Tổ chức bộ máy của Huyện uỷ Hiệp Hoà bao gồm:
+ Thường trực Huyện uỷ: 02 đồng chí
+ Văn phòng Huyện uỷ: 10 đồng chí
+ Ban Tổ chức Huyện uỷ: 07 đồng chí
+ Cơ quan Uỷ ban kiểm tra:07 đồng chí
+ Ban Tuyên giáo Huyện uỷ: 05 đồng chí
+ Ban Dân vận HU: 03 đồng chí

thường trực HĐND ; các cơ quan đảng, nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ lẫn nhau
để cũng nhau hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tại kỳ họp HĐND và UBND huyện bàn chủ trương, quyết định, chính
sách, chế độ… có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của cơ quan nào thì đại
diện lãnh đạo cơ quan đó được mời tham dự, tham gia ý kiến. Những nội dung
cần thiết, lãnh đạo cơ quan làm việc trực tiếp với thường trực HĐND và UBND
để phối hợp thực hiện nhiệm vụ.

11


d, Quan hệ với cấp uỷ cơ sở và bộ phận tham mưu giúp việc của cấp uỷ
cơ sở
Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc huyện uỷ với các cấp uỷ
cơ sở là quan hệ phối hợp, hướng dẫn trao dổi trong việc thực hiện công tác
chuyên môn và công tác cán bộ theo phân cấp.
Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc huyện uỷ với bộ phận
tham mưu, giúp việc cấp uỷ cơ sở là quan hệ hướng dẫn, kiểm tra về chuyên
môn nghiệp vụ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.
1.1.3. Lịch sử hình thành và phát triển
a, Vị trí địa lý
Cùng chung đặc điểm với nhiều vùng quê trung du miền núi khác, Hiệp
Hoà là vùng đất phù sa cổ, bạc màu, nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Giang,cách thị
xã Bắc Giang chừng 50km đường chim bay, cách Thủ đô Hà Nội chừng 50 km
đường bộ, có diện tích tự nhiên 201,12 km 2, phía Đông giáp huyện Tân Yên và
huyện Việt Yên( tỉnh Bắc Giang), phía Nam giáp huyện Yên Phong(tỉnh Bắc
Ninh), phía Tây Nam giáp huyện Sóc Sơn ( thành phố Hà Nội), phía Tây Bắc và
phía Bắc giáp huyện Phổ Yên và huyện Phú Bình (tỉnh Thái Nguyên). Hiện nay
Hiệp Hoà có 25 xã và 01 thị trấn, dân số (năm 2011) là 215.751 người.
Là một huyện có vị trí địa chính trị quan trọng. Là nơi rất thuận lợi cho

mà bạn bè chúng ta, mỗi khi có dịp đặt chân lên mảnh đất ấy đều không khỏi
ngưỡng mộ, thân quen bởi sức hấp dẫn, đa dạng- rất riêng và phong cách.
Từ khi có Đảng, người dân Hiệp Hoà đã gắn mình với Đảng, nhập thân
với phong trào đấu tranh cách mạng của cả nước. Mỗi tên xã, làng, với hàng
trăm, hàng nghìn người dân Hiệp Hoà qua các thời kỳ lịch sử đã gắn liền với
những chiến công và góp phần to lớn vào sự nghiệp giữ gìn, xây dựng quê
hương, xây dựng cuộc sống mới tươi đẹp hơn trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam.
1.2.Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
1.2.1. Các khái niệm
Nâng cao : Là khái niệm chỉ sự vượt bậc lên một tầm cao mới mang
những đặc điểm tiến bộ, văn minh hơn.
13


Chất lượng: Là một định nghĩa đã tồn tại rất lâu trong lịch sử. Trong từng
giai đoạn phát triển của sản xuất đã xuất hiện nhiều định nghĩa về chất lượng:
theo Tổ chức Quốc tế và Tiêu chuẩn hoá “Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của
một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn các nhu cầu đã được công
bố hay tiềm ẩn”; Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á : “Chất lượng là
mức độ phù hợp với người tiêu dùng”. Dù tiếp cận ở từng góc độ khác nhau chất
lượng đều phải đảm bảo: phù hợp với tiêu chuẩn đã được công bố, phù hợp với
những đòi hỏi của người sử dụng, sự kết hợp và đòi hỏi của người tiêu dùng. Đó
là yêu cầu không thể thiếu để đánh giá chất lượng của loại hàng hoá, dịch vụ nào
đó.
Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, Tổ chức Chính trị- xã hội ở TW, tỉnh, thành phố, trực thuộc TW, ở huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế và được hưởng lương từ ngân
sách nhà nước.

-> Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là việc nâng cao một
cách toàn diện từ trình độ, năng lực, mức độ hoàn thành công việc, phẩm chất
đạo đức, văn hoá ứng xử cho tới sức khoẻ của họ nhằm đem đến những hiệu quả
to lớn góp phần vào mục tiêu chung của cơ quan, tổ chức.
1.2.2. Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức
Với những đặc trưng riêng biệt của mình là làm việc trong các cơ quan
hành chính Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò to lớn trong tổ chức
nói chung và tại Huyện uỷ huyện Hiệp Hoà nói riêng.Cán bộ, công chức là một
mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kì nền hành chính nào. Đội ngũ này
có vai trò thực thi nhiệm vụ dựa trên hệ thống pháp luật của Nhà nước, đảm bảo
thực thi để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo hiệu lực của các
đường lối, thế chế của giai cấp cầm quyền.
Để khẳng định được vai trò quản lý của mình, đội ngũ cán bộ, công chức
phải tự xác định được vai trò của mình, nâng cao tri thức để đảm nhận công việc
phục vụ sự nghiệp cách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ vì nhân dân. Luôn
có tư tưởng vững chắc, đấu tranh chống những biểu hiện thờ ơ, coi thường, hách
dịch, lơ là trước những đòi hỏi của nhân dân trong khả năng của mình, chống
phương pháp làm việc bàn giấy hình thức. Cần thể hiện rõ vai trò của mình
15


thông qua làm việc một cách cụ thể, trung thực, chu đáo và thực hiện các công
việc thuộc chuyên môn một cách cẩn trọng, nhanh chóng, chính xác. Không để
xảy ra tình trạng giải quyết công việc tắc trách, vô tổ chức mà phải tiến tới xây
dựng tổ chức có uy tín, “xúc tiến tiến trình chung của công việc, không được
làm cho nó trì trệ” điều hành và giải quyết kịp thời những thắc mắc chính đáng
của người dân.
Hiệu quả của tổ chức được nhìn nhận, đánh giá là tốt thông qua hiệu quả
hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức. Ở đó, cán bộ, công chức luôn chủ
động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, giữ vững mối quan hệ bên trong và bên

trí việc làm và chỉ tiêu biên chế và thông qua các hình thức thi tuyển theo
nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật, đảm bảo tính
cạnh tranh công bằng.
Thứ hai: Cơ cấu
Có cơ cấu cụ thể, rõ ràng. Ở đó ta thấy rõ được sự phân cấp, phân quyền
chức năng, nhiệm vụ .Cơ cấu tổ chức có phù hợp thì mới đem lại hiệu quả, hiệu
lực trong công tác thực thi góp phần vào hoàn thành mục tiêu lâu dài của cơ
quan, tổ chức.
Thứ 3: Sức khoẻ
Sức khoẻ là vốn quý của mỗi con người khi được sinh ra và lớn lên, đặc
biệ đối với người lao động, trong đó đáng chú tâm hơn cả là đội ngũ người lao
động trí óc sức khoẻ là cần thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, sức khoẻ đối với cán
bộ, công chức cực kỳ quan trọng, dù có trình độ, năng lực giỏi đến mấy thì cũng
khó có thể hoàn thành tốt được công việc được giao, ngược lại nếu có sức khoẻ
công với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi thì cán bộ, công chức sẽ đảm
nhận được công việc và có khả năng hoàn thành công việc cao hơn. Như vậy để
có được sức khoẻ tốt nhất để thực thi công vụ, trước hết đòi hỏi mỗi cá nhân
phải tích cực rèn luyện thể lực, tự bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, bên
cạnh đó nhà nước cần tiếp tục có chế độ chăm sóc đời sống tinh thần , vật chất
cho cán bộ, công chức và nhân dân ngày một tốt hơn.
Thứ 4: Trí lực, yếu tố này được thể hiện ở các phương diện
Phẩm chất đạo đức: Giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị nó thể hiện
xu hướng về thế giới quan, nhân sinh quan, về sự trung thành đối với lợi ích và
mục tiêu của giai cấp, dân tộc hơn nữa còn cho ta thấy xu hướng của các đặc
17


điểm tâm lý cũng như biểu hiện về hành vi của con người. Phẩm chất này biểu
hiện thông qua lối sống lành mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở
lập trường của giai cấp công nhân đã được chứng minh qua bao lớp thế hệ, có

phương để lãnh đạo, thực hiện.”
Huyện uỷ thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá cán bộ,công chức diện
BTV Huyện uỷ quản lý, qua đó kịp thời phát hiện những nhân tố mới, đưa ra
khỏi diện quy hoạch, cho thôi giữ chức vụ, xử lý kỉ luật những đồng chí năng
lực hạn chế, tín nhiệm thấp, vi phạm kỷ luật.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1.2.4.1. Các yếu tố bên trong
Một là hệ thống triết lý, chính sách: Nhà nước ta là nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Pháp luật là hệ thống các chế tài nhằm mục đích bảo vệ quyền và
lợi ích chính đáng của nhân dân. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật và tăng
cường pháp chế là nguyên tắc hiến định, đòi hỏi phải được thực hiện trên cơ sở
pháp luật. Điều đó đồng nghĩa với việc hệ thống các chính sách của Nhà nước
phải chấp hành luật và các quyết định của Quốc hội trong chức năng thực hiện
quyền hành pháp, khi ban hành quyết định quản lý hành chính phải phù hợp với
nội dung và mục đích của luật. Pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm
chỉnh, mọi người đều có quyền và trách nhiệm bình đẳng trước pháp luật. Nếu
thực hiện sai, thì tổ chức, các nhân đều phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Trong thực tế một số cơ quan hành chính nhà nước chưa thực sự chủ động
trong việc xác lập cách thức, nguyên tắc quản lý, thiếu sáng tạo trong việc vận
dụng quy định pháp luật khi giải quyết các vấn đề của hoạt động thực tiễn. Một
số nơi lại lựa chọn cho mình cách làm mới mẻ, riêng biệt, chỉ tính đến lợi ích
của ngành, địa phương mà chưa xét đến lợi ích của toàn xã hội,phá vỡ các chuẩn
mực và thực thi trái luật. Thước đo hiệu quả hoạt động của nền hành chính Nhà
nước chưa được chú trọng đúng mức, nghiêng về định ượng hơn là định tính ,
chưa đánh giá thoả đáng tác động của các yếu tố môi trường, văn hoá đạo đức
quản lý hành chính, đây là những khía cạnh dễ gây nên phản ứng từ phía xã hội
và thường rất khó khắc phục hậu quả. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do
trình độ quản lý Nhà nước của nhà quản lý còn hạn chế, không thường xuyên
cập nhật kiến thức về pháp luật, các chính sách, chủ trương đường lối của Đảng.
Hai là: công tác quy hoạch, bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức.

hối lộ. Chính vì thế, các chế độ tiền lương, thưởng và các chế độ khác là hình
thức đầu tư trực tiếp cho con người, đầu tư cho phát triển KT- XH thì chắc chắn
góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
20


1.2.4.2. Thực tiễn hoạt động quản lý cán bộ, công chức:
Công tác đào tạo, bồi dưỡng: Đây là công tác được coi là chủ chốt của
Đảng . Phải kịp thời đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức có đầy đủ
năng lực, phẩm chất, vừa có đức vừa có tài để thuận lợi trong công việc và xứng
đáng là cán bộ gương mẫu. Cần chú trọng, đầu tư công tác bồi dưỡng về chính
trị lẫn chuyên môn nghiệp vụ. Đây là hoạt động để duy trì và nâng cao chất
lượng nguồn lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để tổ chức có thể đứng
vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh.
Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển là nhu cầu tất yếu và thường xuyên trong
hệ thống nhu cầu của người lao động. Người lao động luôn có nhu cầu về ĐT,
BD để họ được nâng cao trình độ, năng lực của bản thân nhằm hoàn thành tốt
công việc được giao, đồng thời giúp họ tự tin, có khả năng điều chỉnh hành vi
trong công việc và chuẩn bị được các điều kiện để phát triển và thích ứng.
Công tác ĐT, BD có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả hoạt
động của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là trong giai đoạn hiện nay- thời kì đổi
mới. Khi cuộc sống có bước chuyển biến mới và sự phát triển của khoa học,
công nghệ việc ĐT, BD là cần thiết hơn bao giờ hết, nhằm đáp ứng yêu cầu và
nhiệm vụ mới đặt ra. Nếu có sự quan tâm và đầu tư đúng đắn sẽ tạo ra đội ngũ
tiến bộ, đáp ứng được nhu cầu một cách dễ dàng, và ngược lại nếu không được
định hướng, điều chỉnh đúng đắn sẽ tạo ra sự tụt hậu, không theo kịp được với
sự “ nhanh vội, hối hả” của cuộc sống ngày nay.
Công tác quy hoạch, bổ nhiệm: Việc quy hoạch, bổ nhiệm phải có căn cứ
rõ ràng, tuỳ thuộc vào nhu cầu công việc của cơ quan. Đội ngũ cán bộ, công
chức phải đáp ứng tối thiểu những yêu cầu của công việc, có chuyên môn nghiệp

khi tổ chức đã xây dựng và sử dụng một hệ thống các tiêu chuẩn khách quan của
thực hiện công việc. Bản chất chủ quan của đánh giá thực hiện công việc chính
là nguyên nhân của rất nhiều lỗi thường gặp phải trong quá trình đánh giá về
tình hình làm việc của cán bộ, công chức, giảm động lực làm việc và dẫn tới các
vấn đề khác trong quản lý. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với Huyện uỷ là xây dựng
và quản lý một hệ thống đánh giá có tác dụng hoàn thiện sự thực hiện công việc
của cán bộ, công chức và phát triển họ. Nội dung đánh giá cần chú trọng đến 3
lĩnh vực cơ bản: Mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ; phẩm chất chính trị,
22


đạo đức; tiềm năng phát triển. Đánh giá cần phải được nhìn nhận qua nhiều góc
độ khác nhau, qua nhiều công việc thực tiễn gắn với hiệu quả chất lượng giải
quyết công việc, nhất là trong những thời điểm khó khăn, thách thức. Cần phối
hợp các hình thức và phương pháp linh hoạt trên cơ sở hệ thống các tiêu chuẩn,
tiêu chí có thể định lượng. Quy trình đánh giá đảm bảo công khai, dân chủ, tránh
hình thức. Phát huy vai trò của người đứng đầu, cấp trên trực tiếp đây là kênh
quan trọng đánh giá đội ngũ công chức.Trong công tác đánh giá đặc biệt tránh
khuynh hướng “ yêu nên tốt, ghét nên xấu” coi cái thứ yếu thành cái chủ yếu,
tránh tư tưởng ích kỉ, hẹp hòi, cái ưu quên mau, cái khuyết nhớ lâu, tránh để tình
cảm lấn áp trong công việc.
Quan hệ, văn hoá trong tổ chức
Với đặc thù hoạt động của mình, Huyện uỷ là nơi tiếp xúc nhiều với nhân
dân, do vậy văn hoá là cần thiết hơn bao giờ hết, không chỉ có nhân dân mà còn
với đồng nghiệp cùng làm việc trong tổ chức. Văn hoá có vai trò rất quan trọng
trong tổ chức, nó được biểu hiện thông qua các chuẩn mực xử sự, nghi thức giao
tiếp trong hoạt động công vụ; quan hệ chỉ đạo, phối hợp, ý thức chấp hành kỷ
luật trong và ngoài cơ quan của cán bộ, công chức, văn hoá cũng được thể hiện
thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy chế, quy định, nội quy
hoạt động của cơ quan và cách bài trí nơi làm việc. xây dựng văn hoá công sở là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status