LUẬN văn THẠC sĩ điểm NÓNG CHÍNH TRỊ ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG đặc điểm NGUYÊN NHÂN và bài học KINH NGHIỆM - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn ở nước ta trong 30 năm đổi mới vừa qua chứng tỏ đường
lối đúng đắn của Đảng và những bước đi thích hợp đã tạo nên sự chuyển
biến mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
mang lại những thành tựu rất to lớn, tạo cho Việt Nam thế và lực mới để
bước vào thế kỷ 21. Cùng với những thành quả đã đạt được thì trong quá
trình đổi mới cũng xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực, phức tạp. Một trong những
vấn đề gay cấn nổi lên là tình hình tranh chấp khiếu kiện có đông người
tham gia, hình thành các điểm phức tạp về an ninh, các "điểm nóng" (ĐN),
"điểm nóng chính trị - xã hội" (ĐNCT-XH) ở nhiều địa phương trong cả
nước. Điều này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động lãnh đạo,
quản lý của tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, đến an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Địa bàn nông thôn vốn thanh bình, đáng lẽ là nơi ít xảy ra xung đột
xã hội trong quá trình phát triển, nhưng đã xuất hiện nhiều ĐN và ĐNCT-XH.
Đó là nơi đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn trong toàn xã hội. Có những
ĐNCT-XH xảy ra đã được giải quyết ổn thỏa, thiết lập trở lại tình trạng ổn
định bình thường. Có những ĐNCT-XH đang diễn ra và cũng không ít
những điểm có nguy cơ bùng phát hoặc tái phát. Các ĐNCT-XH đó có thể
do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, quy mô, tính chất và mức độ hậu
quả cũng không giống nhau nhưng đều cảnh báo về sự yếu kém trong quản
lý xã hội, về sự mất dân chủ trầm trọng ở một số vùng nông thôn. Đời sống
của người nông dân tuy đã có nhiều cải thiện, song nhìn chung vẫn còn
nghèo túng, lạc hậu, khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị
ngày càng rộng. Do vậy, nếu không ngăn ngừa có hiệu quả và giải quyết tốt
các ĐN, ĐNCT-XH ở nông thôn thì không thể đảm bảo được an ninh nông




3

Xử lý tình huống chính trị - trong đó có vấn đề về xử lý ĐNCT-XH
- là một nội dung của chính trị học ứng dụng. Đây là một trong những vấn
đề cần thiết phải trang bị cho người cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước
và các đoàn thể nhân dân - đặc biệt là ở cấp cơ sở để có thể ứng xử kịp thời
nhạy bén trước các tình huống phức tạp và tế nhị xảy ra trong cuộc sống,
tránh được những lúng túng, thậm chí là sai lầm trong khi xử lý.
Sau sự kiện Thái Bình, năm 1998 đoàn công tác của Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đi thực tế và tổng kết tình hình đã viết đề
tài khoa học tiềm lực có tên: "Tổng kết thực tiễn về xử lý điểm nóng chính
trị - xã hội" do GS.TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm, GS.TS Lưu Văn
Sùng làm phó chủ nhiệm đề tài. Trong đề tài này các tác giả đã trình bày
tóm tắt diễn biến một số ĐNCT-XH ở Thái Bình, ĐN tôn giáo ở Thừa
Thiên - Huế, ĐN liên quan đến tôn giáo ở ấp Trà Cổ xã Bình Minh, huyện
Thống Nhất tỉnh Đồng Nai và đưa ra những nhận xét khái quát, rút ra
nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm từ quá trình xử lý ở từng nơi.
Thông qua những vấn đề đã đúc rút được trong quá trình nghiên cứu thực
tiễn ở các vùng, miền, qua nhiều góc nhìn của các tác giả tham gia đề tài,
PGS.TS Hoàng Chí Bảo đã có bài viết bước đầu khái quát lý luận về ĐN,
ĐNCT-XH, đưa ra định nghĩa, xác định yêu cầu, nhiệm vụ xử lý và quy
trình xử lý các ĐNCT-XH.
Từ năm 1998, trong khuôn khổ chuẩn bị giáo trình môn học xử lý
tình huống chính trị, Viện Khoa học Chính trị đã hoàn thành tập bài giảng
về học phần xử lý tình huống chính trị (chương trình dành cho cử nhân
chính trị do GS.TS Lưu Văn Sùng và PGS.TS Hoàng Chí Bảo là tác giả).
Ngoài những phần lý luận chung như khái niệm, phương pháp tiếp cận, quy
trình và giải pháp xử lý ĐN, ĐNCT-XH thì tập bài giảng này còn đi sâu

những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm giải quyết ĐN.


5

GS.TS Lưu Văn Sùng liên tiếp trên hai số 3 (10) 2001 và 4(11)
2001 của Thông tin chính trị học đã có bài đăng về "Xử lý điểm nóng chính trị
- xã hội". Những bài viết này có nội dung khái quát lý luận về xử lý ĐNCTXH.
Ở Học viện Hành chính Quốc gia có môn học xử lý tình huống, xử
lý ĐN song những bài giảng, những tài liệu nghiên cứu phục vụ cho giảng
dạy ở đây được viết theo góc độ của quản lý hành chính nhà nước.
Ở Học viện An ninh nhân dân cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về
ĐN, về đảm bảo an ninh nông thôn nhưng chủ yếu dưới góc độ chuyên
môn, nghiệp vụ xử lý của ngành.
Một số luận văn cử nhân chính trị đã viết về vấn đề xử lý tình
huống chính trị khi tại địa phương có xảy ra ĐN như:
- Luận văn của Nguyễn Văn Thiện về "Biện pháp hạn chế khiếu tố
vượt cấp ở Hà Nam" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000).
- Luận văn của Lê Xuân Thủy về "Thực trạng và giải pháp cơ bản
giải quyết dứt điểm tình trạng khiếu nại tố cáo đông người ở Giao Thủy
Nam Định" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001).
- Luận văn của Nguyễn Công Chuyên về "Điểm nóng huyện Xuân
Trường nguyên nhân và giải pháp" (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2001), v.v...
Các luận văn này thường đi vào phạm vi địa bàn cụ thể của một
huyện, một tỉnh nơi tác giả đang công tác hoặc đã tham gia chỉ đạo trực tiếp
giải quyết ĐN. Những bài viết đó có nhiều giá trị thực tiễn, có nhiều kinh
nghiệm xử lý rất sinh động, sáng tạo.
Trong số các luận án tiến sĩ và thạc sĩ thuộc chuyên ngành chính trị
học thì chưa có luận án, luận văn nào viết về vấn đề ĐN, ĐNCT-XH.



7

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về quyền lực chính trị, về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị,
về vai trò và quyền lực của nhân dân lao động trong thời kỳ quá độ lên
CNXH.
- Dựa trên quan điểm phân tích mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
trong xung đột xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta về phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội nói chung và về vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chung của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp khảo sát thực
tế, phân tích, so sánh và phương pháp phân tích các phương án giải quyết
(của các địa phương) trong những tình huống khác nhau đã diễn ra trong
thực tế.
5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên phân tích khái quát một cách có hệ
thống các ĐNCT-XH trên địa bàn nông thôn ở ĐBSH trong những năm đổi
mới vừa qua và hiện nay.
- Rút ra đặc điểm, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của các
ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH, để từ đó có một cách nhìn khái quát về ĐN
trong cả nước. Nêu ra những điểm chung, những điểm khác biệt của
ĐNCT-XH ở nông thôn ĐBSH với các vùng nông thôn khác trong cả nước.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1.1. Khái niệm điểm nóng xã hội
"Điểm nóng" là một khái niệm được dùng trong cả lĩnh vực tự
nhiên và xã hội, nhưng ở phạm vi bài viết này chỉ đề cập và tìm hiểu ĐN
trong lĩnh vực xã hội.
"Điểm nóng" đã từng xuất hiện ở nước ta trong thời kỳ khủng
hoảng kinh tế - xã hội và đang tiếp tục diễn ra trong giai đoạn thực hiện
công cuộc đổi mới. Khi tình hình thực tế ở một số địa phương có sự khiếu
nại tố cáo đông người, vượt cấp, phức tạp, có những xung đột căng thẳng
giữa dân với dân, giữa dân với cán bộ chính quyền địa phương thì khái
niệm ĐN bắt đầu được dùng khá rộng rãi trong đời sống và xuất hiện trong
một số văn bản của các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là các văn bản của
thanh tra, viện kiểm sát, công an, tòa án. Tuy nhiên, thuật ngữ này cũng gây
ra nhiều ý kiến tranh luận. Có nơi, có người không dùng từ ĐN mặc dù tình
hình ở đó cũng rất phức tạp. Thậm chí còn có địa phương ra nghị quyết
khẳng định ở địa bàn mình không có ĐN, không được gọi ĐN. Vậy hiểu thế
nào cho đúng thực chất của vấn đề? Cách gọi tên là một hình thức để chỉ ra
cái cốt lõi của sự việc, mà có hiểu được cái cốt lõi thì mới đưa ra được
những biện pháp xử lý hiệu quả.
Có quan điểm cho rằng, ĐN trong lĩnh vực xã hội có nghĩa là: "Nơi
tập trung mâu thuẫn cao độ cần được giải quyết, hoặc nơi diễn ra tình hình
xung đột căng thẳng" [47, tr. 307]. Với cách định nghĩa này, xét theo phạm


10

vi rộng ĐN có thể xảy ra ở những nơi, những vùng đang có mâu thuẫn
xung đột gay gắt giữa các lực lượng chính trị, quân sự trong một hay giữa
nhiều quốc gia.
Xét theo phạm vi hẹp, ĐN có thể diễn ra ở một lĩnh vực kinh tế - xã
hội hay một địa bàn dân cư nhất định.

là biểu hiện của quá trình hướng tới sự hoàn thiện đối với mọi công dân,
cũng như với các cơ quan tổ chức, với chế độ chính sách, pháp luật nhằm
bảo đảm một xã hội thực sự dân chủ. Chính vì vậy, chúng ta không nên
lảng tránh, không nên sợ ĐN mà cần phải làm quen với nó, tìm hiểu về nó
để có khả năng giải quyết một cách tốt nhất khi nó xảy ra.
Ở đây chúng ta cần thống nhất với nhau về nội dung của một số cách
gọi tên: "Khiếu kiện đông người, vượt cấp", "khiếu kiện của nhân dân trên
diện rộng", "khiếu kiện đông người phức tạp" v.v... Các vụ khiếu kiện được
gọi tên như trên đều là những vụ không bình thường, có tính chất đặc biệt.
Nếu các vụ này mang các dấu hiệu như sau thì có thể gọi đó là ĐN.
- Số lượng người tham gia đông với ý đồ gây áp lực cho các cơ
quan nhà nước. Trong đó có những người trực tiếp khiếu kiện về các lợi ích
của mình; có những người chỉ a dua đi theo; có những phần tử quá khích,
lợi dụng khiếu kiện để trả thù cá nhân, hoặc do bất mãn công thần, số này
thường gây ra những hành vi vượt quá giới hạn pháp luật và chuẩn mực
đạo đức; thậm chí còn có một số đi khiếu kiện thuê - đó thường là các đối
tượng bất hảo. Nhìn vào thành phần này chúng ta đã có thể hình dung được
tình hình khiếu kiện sẽ ngày một phức tạp thêm, sẽ "nóng" dần lên.
- Tính gay gắt của hoạt động khiếu kiện:
+ Khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện không đúng thẩm quyền giải quyết,
đưa đơn, thư hoặc kéo đông người tới tất cả các cấp ở Trung ương, đến nhà
riêng các đồng chí lãnh đạo cấp cao đòi gặp và đưa yêu sách.


13

+ Vi phạm nội quy, quy chế tiếp dân, xúc phạm cán bộ, thậm chí
còn đe dọa hành hung bắt giữ cán bộ đang thi hành công vụ.
+ Đưa ra các yêu sách phi lý hoặc không có căn cứ pháp luật buộc
phải thực hiện ngay.

do họ có sai phạm trong quá trình công tác của mình như: quan liêu, thiếu
trách nhiệm, tham ô tham nhũng, trù úm, đe dọa, thách đố dân... hoặc là sự
không hài lòng với chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc
thực hiện mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của công dân với Nhà
nước. Lúc đó sự phản ứng quyết liệt của dân chúng sẽ tập trung vào đối
tượng chủ yếu là bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước, một số cán bộ đương
chức đương quyền.
Như vậy ĐN xã hội rất có thể phát triển lên ở mức cao hơn trở
thành ĐNCT-XH. PGS.TS Hoàng Chí Bảo nhận thấy trong những ĐN xã
hội "tâm trạng bất bình của đa số" cùng với những "hành vi phản ứng chính
thức, công khai để đòi hỏi lợi ích và thỏa mãn một nhu cầu nào đó". Qua
những dấu hiệu này thì:
Điểm nóng được hình dung như một tình huống có vấn đề
của đời sống xã hội, của cộng đồng dân cư. Tình huống đó chung
quy lại là phản ứng của một nhóm hay một số đông nhất định của
công dân về một chủ trương chính sách nào đó, hoặc việc thực
hiện chủ trương chính sách đó vi phạm các chuẩn mực công
bằng, dân chủ làm thiệt hại tới lợi ích của họ, buộc họ phải biểu
thị hành vi phản ứng với chính quyền, đòi hỏi sự điều chỉnh, sự
giải quyết nhằm cải thiện tình hình [44, tr. 45].
Nói một cách chung nhất:
Điểm nóng chính trị - xã hội là điểm nóng xã hội diễn ra
trong lĩnh vực chính trị - xã hội khi mà sự chống đối của đám
đông quần chúng, của các lực lượng đối lập đã hướng trực tiếp


15

vào những người nắm quyền lực chính trị, cơ quan quyền lực và
thể chế chính sách của chính quyền nhà nước [50, tr. 25].

tế mà còn có cả nội dung về mặt chính trị. Dùng số đông gây sức ép, đặt
điều kiện, ra yêu sách đòi hỏi thay đổi một số vị trí của cá nhân cán bộ lãnh
đạo, đòi hỏi phải có sự thay đổi về một khâu nào đó của chế độ, chính sách.
Tuy nhiên khi xem xét ĐNCT-XH cần phải phân biệt rõ hai loại:
Một là, ĐNCT-XH có sự can thiệp của lực lượng phản động trong
hoặc ngoài nước. Lợi dụng những sơ hở trong cơ chế, đường lối chính sách
mà chúng kích động dân đấu tranh. Về hình thức là đòi quyền dân chủ, đòi
quyền lợi kinh tế nhưng thực chất là gây rối loạn xã hội, làm mất ổn định
an ninh chính trị và cao hơn là nhằm lật đổ chính quyền.
Hai là, ĐNCT-XH xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ nhân dân, là sự
không đồng tình của dân đối với những biểu hiện sai trái của đội ngũ cán
bộ hay với chất lượng của tổ chức bộ máy. Mục tiêu của cuộc đấu tranh
này là đòi phải có sự chỉnh sửa những sai lầm làm cho hệ thống chính trị
được tốt hơn, hoàn thiện hơn, đúng bản chất của một xã hội mà nhân dân
đang xây dựng và bảo vệ.
Ở nước ta trong những năm qua, phần lớn các ĐN và ĐNCT-XH xảy
ra đều thuộc vào loại thứ hai. Ở đó chỉ có mâu thuẫn trong nội bộ nhân
dân chứ không có mâu thuẫn đối kháng.
1.1.3. Điểm nóng chính trị - xã hội - một tình huống chính trị
Tình huống chính trị là những sự kiện, biến cố không bình thường
diễn ra trong đời sống chính trị - xã hội, gây nên sự bất ổn định hoặc có khả
năng gián tiếp gây nên sự bất ổn định chính trị - xã hội, đòi hỏi con người
phải áp dụng những giải pháp đặc biệt để giải quyết [49, tr. 3]. Do đó,
ĐNCT-XH với sự bất ổn, rối loạn, có những xung đột trong xã hội, có sự
chống đối của quần chúng hoặc các lực lượng đối lập hướng trực tiếp vào


17

những người nắm quyền lực, cơ quan quyền lực... chính là một tình huống

Xét ở góc độ thể chế, trong một phạm vi nhất định các ĐNCT-XH
là sự cảnh báo về những biểu hiện bất công, bất bình đẳng hoặc thiếu dân
chủ trong xã hội. Nó thể hiện những nhu cầu bức xúc đến cao độ của quần
chúng, phản ánh sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở, sự suy thoái đạo
đức của một số cán bộ, đảng viên... Các ĐN đã tạo nên sức ép buộc Đảng,
Nhà nước, chính quyền địa phương phải xem xét lại một số chính sách và
các biện pháp quản lý xã hội để từ đó mà điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp.
Đối với một vấn đề phức tạp như ĐNCT-XH cần phải có một cách
nhìn khách quan, toàn diện và linh hoạt.
Muốn giải quyết được ĐNCT-XH một cách triệt để cần nhận thức
đúng cội nguồn sâu xa của nó đó chính là xung đột lợi ích. Lợi ích là vấn
đề xuyên suốt, luôn luôn chi phối các hành vi của con người. Lợi ích ở đây
bao gồm cả lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị hoặc lợi ích tinh thần như danh
dự, uy tín... Khi lợi ích của cá nhân, nhóm, hay cộng đồng bị tổn hại bởi sự
xâm phạm của lực lượng khác tất sẽ nảy sinh mâu thuẫn, và mâu thuẫn này
ngày càng cao độ hơn được thể hiện bằng sự đối lập về nhận thức, thái độ,
xúc cảm và đôi lúc bằng cả những hành vi thù địch. Song dù ở cấp độ nào
thì bản chất của dạng tình huống chính trị này vẫn là sự phân hóa xã hội, sự
bất bình đẳng, sự mâu thuẫn xung đột về lợi ích. Có thể nói xung đột lợi ích
chính là vấn đề mấu chốt của mọi ĐNCT-XH.
Trong xã hội có giai cấp đối kháng sự xung đột các quyền lợi xã hội
bắt nguồn từ sự phân chia giữa người sở hữu và không sở hữu tài sản, đi
cùng với tư hữu đó là lòng tham của con người. Ở nước ta, đang trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn này cũng chưa hoàn toàn được
khắc phục, nếu không có cơ chế ngăn ngừa thì có thể phát triển thành xung


19

đột. Thực tế cho thấy, nếu không có cơ chế ngăn chặn thì lòng tham cá


Về quy trình giải pháp xử lý ĐNCT-XH.
Xử lý ĐNCT-XH là xử lý một tình huống chính trị, nó cần phải
đảm bảo các quy trình, giải pháp chung.
Bước 1: Khi quần chúng nhân dân tụ tập đông người hướng sự phản
ứng vào chính quyền thì những người có trách nhiệm giải quyết ngay lập
tức phải tìm mọi cách nắm vững tình hình, biết số lượng, thành phần lực
lượng tham gia, người đứng đầu và những yêu sách của quần chúng. Phân
tích rõ nguyên nhân và nhận dạng đúng mâu thuẫn để có cơ sở đưa ra
phương châm chỉ đạo sát thực, phương thức giải quyết và tổ chức lực lượng
thực hiện có hiệu quả.
Bước 2: Trong lúc "nước sôi lửa bỏng" tình hình phức tạp, rối ren
phải nhanh chóng thiết lập sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất. Quan trọng nhất
là chọn được người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, nghệ thuật
chính trị mềm dẻo, thống nhất được các quan điểm, tập hợp được lực
lượng, kịp thời đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm "rút ngòi nổ", "hạ nhiệt
độ" ĐN và hạn chế sự lan tỏa sang các nơi khác.
ĐNCT-XH nổ ra, tình huống chính trị lúc này đặt ra vấn đề mất còn của quyền lực chính trị ở những phạm vi và mức độ khác nhau.
Thường ở các cơ sở khi có ĐNCT-XH thì hệ thống chính trị ở đó trở nên
rệu rã, suy giảm khả năng lãnh đạo thậm chí còn bị tê liệt hoàn toàn. Trong
thời gian này mọi sự cố gắng là để giảm cường độ căng thẳng. Hệ thống
chính trị cấp cơ sở bị mất khả năng giải quyết, cán bộ cơ sở không đủ uy tín
phải có sự hỗ trợ của cấp địa phương, nếu cấp địa phương cũng không đủ
khả năng giải quyết phải có sự hỗ trợ của Trung ương.
Nếu ĐN là cuộc đấu tranh của nhân dân có mục đích chống quan
liêu tham nhũng hoặc phản đối những sai sót của cơ chế, thể chế chính trị
thì cần phải trực tiếp đối thoại với dân, sẵn sàng nhận khuyết điểm, có


21

22

số cầm đầu quá khích, giải tán được đám đông, nhưng không dập tắt được
ĐN, tình hình chỉ yên mà không ổn. Bởi vì chủ yếu mâu thuẫn của các
ĐNCT-XH là mâu thuẫn trong nội bộ, lực lượng đấu tranh là nhân dân, là
chủ thể của quyền lực, là người ủy quyền cho cán bộ, cho hệ thống chính
trị làm việc với mục đích vì dân. Cách tốt nhất khi xử lý tình huống ở các
ĐNCT-XH cần phân hóa được đối tượng, tách những kẻ cầm đầu quá khích
ra khỏi lực lượng dân chúng. Đối với số đông quần chúng không được phép
đối đầu mà chỉ tuyên truyền giáo dục, vận động để thu hút họ về phía mình.
Điều đó sẽ được quyết định bởi công tác dân vận. Dân vận chỉ có thể thành
công khi đáp ứng được các nhu cầu chính đáng của người dân. Người cán
bộ phải hiểu dân, tin dân, lo cái lo của dân, mừng cái mừng của dân, mọi
động tác xử lý các tình huống chính trị cũng đều vì dân thì mới tìm ra được
điểm gặp chung, tiếng nói chung. Chính trị là số phận của triệu triệu quần
chúng, cho nên cách giải quyết theo lợi ích của số đông, được bàn bạc dân
chủ công khai thì bao giờ cũng đưa lại hiệu quả cao nhất.
Bước 3: Khắc phục hậu quả khi ĐN được dập tắt.
Khi ĐN được dập tắt phải nhanh chóng đưa mọi hoạt động trở lại
bình thường; giải quyết những hậu quả của ĐN để lại, khắc phục những
thiệt hại về người và của; tiến hành xử lý nghiêm minh những cán bộ có sai
phạm và những người quá khích vi phạm pháp luật. Tổ chức lại sản xuất,
đảm bảo ổn định đời sống kinh tế, nâng cao mức sống cho nông dân, rút ngắn
khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Không
ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật, tạo dựng thói
quen sống và làm việc theo luật. Tích cực sửa chữa thiếu sót đi đôi với đẩy
mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương và nhiệm vụ kinh tế - xã
hội theo hướng phát triển để ổn định, ổn định để phát triển tốt hơn.
Bước 4: Rút kinh nghiệm, dự báo tình hình và áp dụng những giải
pháp để ĐN không tái phát.



24

1.2.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của nông thôn đồng
bằng sông Hồng ảnh hưởng đến việc phát sinh "điểm nóng"
Địa giới hành chính vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm có 11
tỉnh và thành phố là: Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng,
Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Bình và Vĩnh Phúc.
Tổng diện tích của vùng là 1.478.800 ha chiếm hơn 4,5% diện tích toàn
quốc (2000). Ở phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông tạo thế mạnh
trong khai thác nuôi trồng thủy hải sản và thuận tiện trong việc thông
thương kinh tế bằng đường biển nhờ một số hải cảng lớn. Đất đai của vùng
ĐBSH tương đối màu mỡ do quá trình bồi đắp của hệ thống sông Hồng và
sông Thái Bình, thuận tiện cho việc phát triển ngành nông nghiệp. Đây là
một vùng mà dân cư tập trung đông đúc nhất cả nước. Dân số của ĐBSH
tính đến năm 2000 là 17.017.700 người. Mật độ dân số trung bình lên tới
1.200 người/km2. Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc,
gấp 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần so với khu vực miền
núi và trung du Bắc Bộ, gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên. Những nơi dân cư
đông nhất là Hà Nội (2.883 người/km2), Thái Bình (1.183 người/km 2), Hải
Phòng (1.113 người/km2), Hưng Yên (1.204 người/km2). Ở các nơi khác,
chủ yếu thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư có
thưa hơn. Đồng bằng sông Hồng chứa đựng tam giác tăng trưởng: Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh, đã và đang được sự chú ý của các nhà đầu tư
quốc tế, do vậy đây là một vùng kinh tế có nhiều tiềm năng. Hiện tại nền
kinh tế ở ĐBSH tương đối phát triển nhưng đang phải chịu áp lực rất lớn
của dân số. Hàng loạt các vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hóa,
giáo dục vẫn đang được đặt ra rất bức xúc.
Về đất đai nông nghiệp
Nông thôn ĐBSH có tổng diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp là

cây lương thực của cả vùng và chiếm khoảng 14% diện tích lúa gieo trồng của
cả nước (số liệu năm 1999). Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung
nhất và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải
Dương, Hưng Yên, Ninh Bình và Hà Tây. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status