MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nước Nga đã đi qua thế kỷ XX với bao nỗi đắng cay, tự hào và hy
vọng!
Có rất nhiều nước trên thế giới đã trải qua những chấn động nặng nề,
nhưng khơng một nước lớn nào trong vịng 100 năm trở lại đây lại phải trải
qua những bước ngoặt liên tiếp, đột ngột và đau thương như nước Nga.
Ngày 12 tháng 06 năm 1990 sau một thời kỳ vận động, đấu tranh gay
gắt trong lịng Liên Xơ, nước Nga tun bố độc lập. Năm 1991, lần đầu tiên
nước Nga xuất hiện chức vụ Tổng thống. Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang
Nga thực sự trở thành một nước độc lập, kế thừa vị thế của Liên Xô trong
quan hệ quốc tế.
Thấm thoắt đã 15 năm trôi qua, nước Nga đã đau đớn, song nhân dân
Nga đã dũng cảm đứng lên sau cơn bệnh trầm trọng nhất. Vì một lẽ đơn giản,
nước Nga khát khao kỷ cương chứ không phải bạo lực.
Liên bang Nga, kể từ khi còn là một trong 15 nước Cộng hồ Xã hội
chủ nghĩa Xơ Viết, đã ln có tiếng nói quyết định trong hầu hết các cơng
việc nội trị và đóng vai trị quan trọng trên trường quốc tế. Ngày nay, với tư
cách là nước kế thừa Liên Xơ cũ, tuy khơng cịn là siêu cường như Liên Xô
trước đây, nhưng Liên bang Nga vẫn là một chủ thể quan trọng trên bàn cờ
chính trị quốc tế.
Nước Nga bước sang thế kỉ mới với cương lĩnh chính trị và cải cách dựa
trên nền tảng “tư tưởng mới” với nội dung chính yếu là chủ nghĩa yêu nước, ý
thức về một cường quốc, một quốc gia dân chủ, pháp trị và sự hoà nhập mạnh
mẽ vào cộng đồng thế giới bằng những cải cách thể chế chính trị của mình,
1
xây dựng Nhà nước Nga thành một nhà nước pháp quyền, dân chủ, đa
cứu khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng ở nước ta hướng
sự quan tâm, nghiên cứu đến vấn đề thể chế chính trị. Ở phạm vi và mức độ
khác nhau đã có một số cơng trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập
như : “Thể chế chính trị” của PGS.TS Nguyễn Đămg Dung và Th.s Bùi Ngọc
Sơn,“Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”của PGS.TS. Nguyễn
Đămg Dung (chủ biên), Nxb Tư pháp, 2004; “Học thuyết phân chia quyền
lực- sự áp dụng trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước một số nước”
của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 năm
1998; “Học thuyết về Nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang
Nga” của TSKH. PGS Lê Cảm, Nxb “ Sáng tạo” Hội khoa học- Kỹ thuật Việt
Nam tại Liên bang Nga, Mát-cơ-va, 1997. “ Thể chế chính trị thế giới đương
đại” do PGS. TS Dương Xuân Ngọc và TS. Lưu Văn An chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2003; “Thể chế chính trị các nước Asean”của TS. Nguyễn
Xuân Tế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001; “Hệ thống chính trị Liên bang
Nga- Cơ cấu và tác động đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại”
do TS. Vũ Dương Huân chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002; “Thể chếCải cách thể chế và phát triển” của Đinh Văn Ân và Võ Trí Thành, Nxb
Thống kê, 2002; “Vài nét về cơ cấu tổ chức Nhà nước Liên bang Nga” của
TS. Lưu Văn An và Th.S Lưu Văn Quảng, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 11
năm 2001; “ Thể chế chính trị- Pháp quyền một số quốc gia xu hướng và tác
động đến hệ thống chính trị nước ta” của TS. Tường Duy Kiên, Tạp chí
Nghiên cứu Lập pháp, số 9 năm 2005; “Cải cách thể chế dân chủ ở Liên bang
Nga” của Phan Anh Dũng, Tạp chí Nghiên Châu Âu, số 4 năm 2005; “ Tổ
chức và hoạt động của chính phủ ở một số nước trên thế giới” của TS.Vũ
Hồng Anh, Nxb Chính trị Quốc gia, 1997. “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân” của TS. Trần Hậu Thành, Nxb Lý luận chính trị, 2005. “Tổ chức
3
“Cuộc bầu cử Tổng thống Liên bang Nga: một vài suy ngẫm”, của Hồng
Vân, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 2 năm 2000; “Quyền lực Tổng thống
Liên bang Nga” của TS. Nguyễn Văn Thanh, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu,
số 5 năm 2005.
Nhìn chung, những cơng trình khoa học nói trên đã góp phần đem lại một
cái nhìn tương đối đầy đủ về nước Nga, đặc biệt là ở phương diện khoa học
pháp lý.Vì vậy, việc lựa chọn đề tài này là khá mới mẻ, vừa có giá trị lý luận,
vừa có ý nghĩa thực tiễn, như một sự bổ sung cần thiết vào khoa học Luật
Hiến pháp.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn: Khái quát những vấn đề lý luận về
thể chế chính trị, trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật cũng như thực tiễn đời
sống chính trị của nước Nga hiện nay, đề cập và làm sáng tỏ thể chế chính
trị đương đại của Liên bang Nga. Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận có
tính chất chung khẳng định tính mới mẻ và độc đáo của thể chế chính trị
Liên bang Nga.
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thể chế chính trị để làm cơ
sở nghiên cứu thể chế chính trị Liên bang Nga;
- Nhận định nhu cầu thay đổi thể chế chính trị và những cơ sở pháp lý
của thể chế chính trị mới ở Liên bang Nga;
- Nghiên cứu tổng quát thể chế nhà nước Liên bang Nga theo Hiến pháp
hiện hành;
- Đưa ra những kết luận về thể chế chính trị Liên bang Nga.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối đối
5
6
Chương 2. Nhu cầu phải thay đổi thể chế chính trị ở Liên bang Nga
Chương 3. Thể chế chính trị Liên bang Nga đương đại
7
Chƣơng 1
VỊ TRÍ VÀVAI TRỊ CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
TRONG ĐỜI SỐNG CỦA MỖI QUỐC GIA
1.1. Khái niệm thể chế và thể chế chính trị
1.1.1. Khái niệm thể chế
Trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là trong khoa học xã hội và
nhân văn (Quản lý xã hội, khoa học chính trị, khoa học pháp lý), thuật ngữ thể
chế chính trị được sử dụng tương đối phổ biến. Với tư cách là khoa học về
những quy luật hình thành và phát triển của các loại hình chính trị, thể chế
chính trị là hình thức biểu hiện tập trung, quan trọng nhất của chính trị [2].
Cùng các nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của các xã hội có giai
cấp và nhà nước, khái niệm thể chế và thể chế chính trị được sử dụng như là
khái niệm công cụ hay phạm trù trung tâm. Tuy nhiên, cho đến nay sự nhận
thức về khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất. Nhìn chung, có thể khái
qt thành một số quan niệm như sau:
Trong Tiếng Anh từ “Institution” và trong Tiếng Nga từ “ÈHCTÈTYT”
đều được hiểu là thể chế hay định chế. Tuỳ theo nhiều cách hiểu khác nhau,
nhưng thể chế hay định chế đều là từ Hán Việt.
Trong cuốn từ điển Hán Việt của soạn giả Đào Duy Anh, tác giả cho
rằng: Thể chế là cách thức, chế độ. Cịn định chế được giải thích là chế độ đã
nhất định từ trước[3].
quan niệm của các nhà biên soạn từ điển Tiếng Pháp. Theo đó, thuật ngữ
Institution có nghĩa là:
+ Thể chế là sự đặt định những luật lệ, là các luật lệ cơ bản của một quốc
gia.
9
+ Thiết chế là các bộ phận cấu thành của một cấu trúc, cần phải duy trì và
tơn trọng.
Một quan niệm khác lại cho rằng, thể chế có hai nghĩa rộng và hẹp:
- Theo nghĩa rộng, thể chế được xem gần như là những khái niệm hệ
thống, bao gồm cả những định chế và cả những thành tố cấu thành hệ thống,
với ý nghĩa này, khái niệm thể chế thống nhất với khái niệm hệ thống chính
trị.
- Theo nghĩa hẹp, thể chế là những quy định, luật lệ, chuẩn mực, giá trị
của một cấu trúc xã hội hoặc của xã hội buộc mọi người phải tuân thủ và theo
đó các thiết chế được dựng lên, các quan hệ xã hội được điều chỉnh.
Nhìn chung vẫn cịn tồn tại những khác biệt từ các quan niệm, nhưng
có thể khái quát những khía cạnh cơ bản về thể chế:
Thể chế và thiết chế là phạm trù xã hội chỉ được sử dụng trong đời sống
xã hội của con người, khơng có khái niệm thể chế nói chung và cũng khơng
có khái niệm thể chế thuộc về thế giới tự nhiên. Vì vậy, khi nói đến thể chế
hoặc thiết chế cũng đồng nghĩa với nói thể chế xã hội và thiết chế xã hội. Tuy
vậy, thuật ngữ "xã hội" lại thường được hiểu theo hai nghĩa:
- Nghĩa rộng là toàn bộ đời sống xã hội.
- Nghĩa hẹp là lĩnh vực xã hội của đời sống xã hội.
Theo đó, thể chế và thiết chế cũng được hiểu theo hai nghĩa tương ứng:
Thể chế ( thể chế xã hội) theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một
hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên
giáo hình thành trên cơ sở đời sống cộng đồng [43]. Nên những thiết chế xã
hội Thị tộc, Bộ lạc được tổ chức kém chặt chẽ và chính vì vậy, xã hội trở nên
kém bền vững trước sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và
những xung đột ngày càng gay gắt về giai cấp. Tất nhiên, cả những hình thái
kinh tế - xã hội sau, thiết chế này vẫn không bền vững trước sự phát triển của
11
xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Điều này xuất phát từ
những luật lệ, những quy định và ngay cả những giá trị mang tính lịch sử.
Tuy nhiên, nó vẫn bền vững hơn, một phần là nhờ vào những giá trị cộng
đồng, mặt khác, phụ thuộc vào những định chế có tính pháp lý cho xã hội tạo
ra buộc cá nhân và tổ chức phải tuân theo.
1.1.2. Khái niệm thể chế chính trị
Chính trị là hoạt động đặc biệt quan trọng của đời sống, quan hệ đến lợi
ích của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội. Thể chế chính trị là bộ phận
cấu thành của chính trị. Trong một chế độ xã hội, thể chế chính trị tác động
trực tiếp đến đời sống của mọi người dân ít hay nhiều, mỗi quốc gia đều chịu
sự tác động của thể chế chính trị. Thể chế chính trị là một bộ phận của kiến
trúc thượng tầng có vai trị to lớn đối với sự tiến bộ cuả xã hội.
Phạm trù thể chế (Institution), Thể chế chính trị (Political/ Institution),
thể chế nhà nước (State/ Institution) thể chế Đảng (Party/ Institution) là
những phạm trù chính trị được dùng phổ biến trong các diễn đàn chính trị thế
giới. Bởi chúng có nội dung và giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống
chính trị. Ở Việt Nam, các phạm trù này thực tế trước đây cịn ít sử dụng và
thực tế cũng mới chỉ được sử dụng phổ biến từ những năm đổi mới, đặc biệt
là phạm trù thể chế chính trị (Political/ Institution). Tuy nhiên khái niệm thể
chế chính trị vẫn chưa có sự nhận thức thống nhất, nếu có đề cập thì cũng chỉ
mang tính rời rạc, chỉ nói đến một hoặc một số khía cạnh nào đó của thể chế
này đã ảnh hưởng đến quan niệm coi chính trị là sự khôn khéo, khả năng đạt
đến sự phân chia chức năng mà vẫn bảo đảm duy trì tác động qua lại giữa
chúng, duy trì tính chính trị của hệ thống.
Theo V.Lênin, chính trị là những hoạt động liên quan đến lợi ích của
các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, mà vấn đề quan trọng nhất là tổ chức
13
chính quyền nhà nước. Chính trị nhằm bảo vệ lợi ích của các tầng lớp, các
giai cấp, các dân tộc trong xã hội trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền lực
và lợi ích của giai cấp cầm quyền, chính trị xét về hình thức thể hiện là những
quan điểm, tư tưởng, học thuyết, cương lĩnh, đường lối của chính Đảng, là
chính sách, pháp luật của giai cấp cầm quyền, cịn xét về nơị dung, chính trị là
những hoạt động và cùng với nó là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng
lớp và giữa các dân tộc có liên quan tới q trình giành, giữ về tổ chức và
thực hiện quyền lực nhà nước.
Như vậy, dù ở khía cạnh nào, vấn đề trung tâm của chính trị bao giờ
cũng là nhà nước, tuy nhiên hoạt động của nhà nước khơng bao giờ bao qt
hết tồn bộ hoạt động chính trị. Hoạt động của các đảng phái, các dân tộc, các
nhóm lợi ích chính trị....đều là hoạt động chính trị nhưng khơng đồng nghĩa
với hoạt động nhà nước. Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, hoạt động của
các đảng phái hay các tổ chức chính trị dù không đồng nghĩa với hoạt động
của nhà nước nhưng đều có mục đích tham gia hoặc gây ảnh hưởng đến
quyền lực của nhà nước.Chính vì vậy, có thể nói chính trị là những công việc
của nhà nước, những hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền
lực nhà nước.
Ở một phạm vi lớn hơn, chế độ chính trị là nội dung, phương thức tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị của một quốc gia, mà trọng tâm là
nhà nước[2]. Chế độ chính trị được biểu hiện rõ nhất trong mơ hình tổ chức
thái kinh tế - xã hội có thể có các chế độ chính trị khác nhau.Trên phạm vi
quốc tế có những chế độ chính trị khác nhau, chế độ quân chủ chuyên chế,
quân chủ lập hiến, chế độ dân chủ tư sản, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Hình thái kinh tế - xã hội và chế độ chính trị khơng đồng nhất với nhau, chế
15
độ chính trị thuộc phạm trù kiến trúc thượng tầng, bao gồm: Bộ máy nhà
nước, pháp luật và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội.
Với những khái quát trên, có thể khái qt chế độ chính trị ở các phạm
vi sau:
Dưới góc độ nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống
chính trị, thì chế độ chính trị là cơ chế vận hành của hệ thống chính trị.
Dưới góc độ cấu trúc, thì hệ thống chính trị được chia thành bộ máy
nhà nước và các thiết chế như pháp luật, đảng phái, các tổ chức chính trị- xã
hội và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội nhằm bảo vệ quyền lực của giai
cấp nắm quyền.
Dưới góc độ hình thức của nhà nước, thì chế độ chính trị là phương
thức cai trị, quản lý xã hội của giai cấp làm quyền, phương thức dân chủ hay
phản dân chủ[15].
Dưới góc độ pháp lý, chế độ chính trị là tổng hợp những quy phạm
pháp luật được thể hiện trong Hiến pháp, luật và dưới luật nhằm bảo vệ xã hội
và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Trong qúa trình tồn tại và phát triển các thiết chế chính trị - xã hội ln
có sự ràng buộc với nhau, ln có sự tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau,
đều hay xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Toàn bộ các
thiết chế này tạo thành hệ thống chính trị xã hội để nắm giữ và thực hiện
quyền lực chính trị trong xã hội. Như vậy, có thể hiểu chính trị là liên minh
các thiết chế chính trị - xã hội có liên hệ mật thiết với nhau, tồn tại và hoạt
khơng được coi là thành tố của hệ thống chính trị.
Thứ hai, hệ thống chính trị khơng chỉ là chun chính của giai cấp cầm
quyền mà là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp hoặc trực tiếp hoặc
gián tiếp liên quan đến quyền lực thống trị của giai cấp thống trị. Đó là hệ
thống tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, trong đó ưu thế cơ bản thuộc về các
thiết chế của giai cấp nắm quyền lực về kinh tế để tác động vào các quá trình
17
kinh tế - xã hội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời và
lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và
cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên có một điểm chung cho
những định nghĩa mà theo đó hệ thống chính trị được coi là hệ thống các tổ
chức chính trị - xã hội hợp pháp (trong đó có những tổ chức do giai cấp thống
trị lập nên và cả những tổ chức không do giai cấp thống trị lập nên), các đảng
chính trị hợp pháp và nhà nước của giai cấp cầm quyền, quan hệ qua lại thông
qua sự tác động qua lại của các yếu tố đó để chi phối các quá trình kinh tế xã hội nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển xã hội đương thời, bảo đảm quyền
lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Từ những quan niệm như trên, có thể khái quát: Thể chế chính trị là
các quy tắc được sắp xếp một cách logic hợp thành một chỉnh thể thống nhất
điều chỉnh các hoạt động của con ngươi có liên quan đến cơng việc của nhà
nước. Theo nghĩa khác, cũng có thể hiểu thể chế chính trị là cái được tạo
dựng nên từ các quy tắc đó.
Từ định nghĩa nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của thể
chế chính trị:
- Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các gía trị tạo thành những
nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị, các hệ
thống chính trị. Theo đặc điểm này, thể chế chính trị bao gồm: Thể chế nhà
khơng kể có quốc tịch hay khơng có quốc tịch đều phải phụ thuộc vào các thể
chế chính trị quốc gia. Các thể chế chính trị tác động đến sự lựa chọn cách
hành xử của cá nhân và tổ chức, tạo dựng sự ổn định, trật tự và phát triển xã
hội.
Vị trí, vai trị của thể chế chính trị thể hiện trước tiên trong mối tương
quan, tác động giữa thể chế chính trị và cơ sở kinh tế. Thể chế chính trị là một
bộ phận của thượng tầng kiến trúc. C.Mác đã chứng minh sự quy định của cơ
sở hạ tầng đối với thượng tầng kiến trúc. V.I.Lênin trong thời kỳ xây dựng
chính sách kinh tế mới đã đưa ra luận điểm kinh điển về mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị:
Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, hai là, chính trị khơng thể
không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế. Chính trị bao gồm nhiều bộ phận cấu
thành: Quan điểm chính trị, hệ tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị thực
tiễn. Với tư cách là một bộ phận của chính trị nói chung, thể chế chính trị
trong quan hệ với kinh tế chịu sự chi phối của quy luật về sự phụ thuộc của
kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng, chính trị là biểu hiện tập trung của
kinh tế, chính trị khơng thể khơng giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế. Dựa trên
quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quan hệ chính trị và kinh tế, có thể nhận
thấy tương quan và tác động của thể chế chính trị đối với cơ sở kinh tế ở các
khía cạnh sau đây:
20
- Kinh tế quy định sự hình thành và phát triển của các thể chế chính
trị. Cơ sở kinh tế quyết định sự ra đời của các thể chế chính trị. Các thể chế
chính trị sinh ra trên cơ sở các tiền đề kinh tế. Nhà nước- một thể chế chính trị
tổ chức căn bản ra đời do sự xuất hiện của chế độ tư hữu và mâu thuẫn giai
cấp. Chế độ tư hữu ra đời, đối kháng giai cấp xuất hiện. Để duy trì trật tự xã
chính nhà nước cao nhất của Nhà nước, được Hiến pháp mở rộng thẩm quyền
trong lĩnh vực hành chính. Thủ tướng chính phủ được tăng thêm nhiều quyền
hạn. Hội đồng nhà nước tách thành Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch
nước. Thể chế Chủ tịch nước cá nhân được tái lập.
Tính chất của các quan hệ kinh tế quy định tính chất của các quan hệ
của các thể chế chính trị. Chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh nền kinh
tế thị trường hoạt động theo cơ chế tự điều chỉnh của bàn tay vơ hình, trong
điều kiện đó, nhà nước ít can thiệp vào lĩnh vực kinh tế. Chính phủ, về tính
chất là một thể chế can thiệp một cách trực tiếp nhất đến đời sống xã hội.
Nhưng trong thời kỳ này, do tình hình trên, chính phủ có ít quyền, phụ thuộc
vào nghị viện. Nhưng khi mức độ tập trung tư bản dù cao, chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước thay thế chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, thì nhà nước
ngày càng can thiệp sâu vào đời sống kinh tế, trở thành bàn tay điều tiết các
quan hệ kinh tế. Cùng với sự thay đổi đó, quan hệ giữa các thể chế chính trị
ngày càng thay đổi. chính phủ khơng cịn là cơ quan thuần t chấp hành luật
của Nghị viện, biến Nghị viện thành cơ quan hoạt động hình thức.
- Thể chế chính trị là kiến trúc thượng tầng của cơ sở kinh tế nhưng nó
khơng phản ánh các quan hệ kinh tế một cách thụ động. Thể chế chính trị có
tính độc lập tương đối, có ưu thế nhất định, tác động trở lại kinh tế. Điều này
biểu hiện ở những khía cạnh sau:
Các thể chế chính trị nếu khơng phản ánh đúng quy luật khách quan
của kinh tế thì chúng sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển kinh tế. Sự tụt hậu, bảo
thủ của các thể chế chính trị so với trình độ phát triển của kinh tế sẽ là yếu tố
22
lực cản đối với sự tiến bộ xã hội. Điều này thấy rõ ở thời kỳ cuối của chế độ
phong kiến. Nhà nước phong kiến là một tác nhân cản trở sự phát triển xã hội
vì nó lạc hậu so với các quan hệ sản xuất tư bản vào giai cấp đế chế chủ
Nhà nước tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp
thống trị, và để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất lên” [38].
Nhà nước - một thể chế chính trị về tổ chức, giai cấp vơ sản được tổ
chức thành giai cấp thống trị, là một phương tiện, công cụ để đạt được các
mục tiêu kinh tế của giai cấp vơ sản.
Như vậy, qua những điều trình bày ở trên, có thể thấy rằng thể chế
chính trị sẽ là lực lượng cải tạo xã hội khi phản ánh đúng đắn sự phát triển
khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xã hội. Cho nên,
việc thiết lập các thể chế chính trị phải tính tốn một cách tồn diện đến xu hướng hoạt động khách quan của các quan hệ kinh tế, đời sống vật chất của xã
hội để phát huy vai trị tích cực của thể chế chính trị đối với sự tiến bộ xã hội.
Ngồi yếu tố kinh tế, thể chế chính trị còn chịu sự tác động của các yếu
tố khác trong đời sống xã hội. Một số thể chế chính trị tốt và phát huy được
vai trị tích cực trong đời sống của mọi xã hội thì phải có sự phù hợp với các
yếu tố của xã hội đó. Yếu tố dặc biệt quan trọng sau kinh tế, tác động đến thể
chế chính trị là yếu tố văn hố. Thể chế chính trị phải phản ánh được văn hố
truyền thống của dân tộc. Văn hoá được thừa nhận là động lực và mục tiêu
của sự phát triển. Cho nên, để phát huy vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội,
việc xây dựng thể chế chính trị phải tính đến các yếu tố văn hóa.
Khơng có tự do của một cá nhân trong một dân tộc nô lệ. Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói:“Tất cả dân tộc tồn thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc
nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[39].
Quyền con người ở Việt Nam không chỉ là quyền cá nhân mà là cả
quyền dân tộc- bộ phận của quyền con người trong nội dung và mục đích của
mình.
24
Ngồi kinh tế, văn hố, các thể chế chính trị để có thể đóng vai trị tích
cực trong đời sống xã hội còn phải phù hợp với hàng loạt các yếu tố khác như