3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới, du lịch là một nhu cầu không thể thiếu được trong
đời sống của người dân ở nhiều nước và đang có xu hướng phát triển với tốc độ
ngày càng nhanh. Đặc biệt những thập kỷ gần đây, kinh doanh du lịch đã trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời sống
kinh tế của các nước đang phát triển. Nó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo vốn cho quá trình CNH, HĐH góp phần hạn chế
tình trạng thất nghiệp… Với tư cách là một ngành kinh doanh tổng hợp, kinh tế
du lịch đã trở thành yếu tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, là động
lực đẩy nhanh tiến trình giao lưu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội giữa các quốc
gia, dân tộc. Xuất phát từ hiệu quả và lợi ích do kinh tế du lịch mang lại mà ngày
nay, từ các nước có nền kinh tế phát triển đến các nước đang phát triển đều chú
trọng đầu tư cho phát triển kinh tế du lịch.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng về du lịch, cùng với các
ngành kinh tế khác, kinh tế du lịch đã và đang được đầu tư phát triển, và nhu
cầu phát triển kinh tế du lịch càng trở nên cấp thiết. Đảng và Nhà nước ta rất
coi trọng lĩnh vực kinh tế này trong đường lối và chính sách phát triển nền
kinh tế quốc dân. Do vậy, kinh tế du lịch đã được các cấp, các ngành và các
địa phương khai thác ở các mức độ khác nhau và mang lại sự phát triển kinh
tế của từng vùng, từng địa phương và từng địa bàn trên cả nước.
Là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, Khánh Hoà có nhiều tài nguyên du
lịch tự nhiên và nhân văn cùng với hệ thống giao thông vận tải đường bộ, đường
sắt, đường biển và đường hàng không hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế du
lịch. Trong những năm qua, ngành kinh tế du lịch của tỉnh đã có tốc độ tăng
trưởng ngày càng cao, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển KT - XH của
địa phương. Tuy nhiên, quy mô và tính hiệu quả của kinh tế du lịch Khánh Hoà
4
Việt Nam. Tạp chí phát triển kinh tế số 123, tháng 1/2001. Bài viết đã đưa ra những
giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển ngành kinh tế du lịch tại Việt Nam.
TS. Nguyễn Huy Giáp: Kinh tế du lịch, Nxb CTQG, H.2002. Tiếp cận du
lịch ở góc độ tổng quan, coi du lịch là ngành kinh tế trong quá trình phát triển.
Th.s. Hồ Viết Chiến: Kinh tế du lịch trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu hiện nay, Luận văn Thạc sỹ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,
H.2003. Luận văn nghiên cứu làm rõ kinh tế du lịch trong cơ cấu kinh tế của
tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; đưa ra các giải pháp để kinh tế du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương.
Th.s. Nguyễn Đình Sơn: Phát triển kinh tế du lịch và tác động của nó tới
quốc phòng – an ninh trên địa bàn tỉnh Hà Tây, Luận văn Thạc sỹ, Học viện
CTQS, H.2003. Tác giả đã đề cập đến lý luận chung về kinh tế du lịch, thực trạng
phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Hà Tây; tác động của phát triển kinh tế du lịch tới
QP - AN trên địa bàn tỉnh Hà Tây; mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu
để phát triển kinh tế du lịch gắn với củng cố QP - AN trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Mai Trang: Du lịch – Ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Khánh Hoà, Tạp chí
Thương mại, số 30/2003. Tác giả viết về sự phát triển du lịch ở Khánh Hoà; trao đổi
một số giải pháp để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở địa phương.
Bích Nhung: Để du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí
Thương nghiệp thị trường Việt Nam, số 6/2003. Bài viết đã đề cập đến những
giải pháp để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam.
TS. Đinh Trung Kiên: Hà Tây - Điểm du lịch cuối tuần của người Hà
Nội, tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6/2003.
Trần Phương: Bảo tồn văn hoá duyên hải để phát triển du lịch, Tạp chí
Văn hoá Nghệ thuật, số 6/2003.
6
Phạm Quang Hưng: Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7/2004.
tế du lịch trên địa bàn tỉnh, góp phần phát triển KT - XH ở địa phương.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về du lịch, kinh tế du lịch,
phát triển kinh tế du lịch dưới góc độ kinh tế chính trị.
Đánh giá tiềm năng, thực trạng và những yếu tố tác động đến phát
triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà trong thời gian tới.
Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu
quả kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà trong thời gian tới.
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình phát triển kinh tế du
lịch ở tỉnh Khánh Hoà.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu sự phát triển kinh tế du
lịch ở tỉnh Khánh Hoà từ năm 2004 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà về du lịch và phát triển
kinh tế du lịch. Đồng thời kế thừa một số kết quả nghiên cứu của những công
trình khoa học có liên quan đã được công bố.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học để tìm hiểu bản
chất bên trong các hiện tượng kinh tế du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch. Đồng
8
thời, kết hợp với các phương pháp khác như điều tra, thống kê, lập bảng biểu so
sánh, phân tích và tổng hợp, khái quát thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
Thuật ngữ “Du lịch” bắt nguồn từ gốc tiếng Latinh “Turnus” có nghĩa
là đi chơi, đi dã ngoại. Theo tiếng Pháp “Tour” có nghĩa là vận động ngoài
trời, dạo chơi, leo núi. Theo Từ điển Oxford tiếng Anh: Du lịch (Tuorism) có
hai nghĩa là đi xa và du lãm, nghĩa là đi xa tham quan, xem xét rồi quay trở về
chỗ cũ. Theo Từ điển Hán - Việt, du lịch có thể coi là kết quả của hai từ ghép
“Du” là đi chơi với “Lịch” là ngắm nhìn, xem xét.
Khi du lịch phát triển mạnh mẽ và trở thành một lĩnh vực không thể
thiếu trong đời sống con người nói chung và trong hoạt động kinh doanh
nói riêng (từ những năm đầu của thế kỷ 20), thì người ta đã đưa ra được
những khái niệm cụ thể hơn về du lịch. Giả sử Giáo sư Bỉ - Edmod Piraca
cho rằng: “Du lịch là tổng hợp các tổ chức và chức năng của nó không chỉ
về phương diện khách vãng lai mà chính là về phương diện giá trị mà
khách du lịch chỉ ra” [8, tr.8].
Giáo sư Thuỵ Sỹ - W.Hun Zike cho rằng: “Du lịch là tổng hợp những
quan hệ và các hiện tượng nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người
ra khỏi chỗ ở của chính mình. Thời gian dừng lại cũng như di chuyển không
phải là lý do phục vụ cho việc sinh sống hay tìm hiểu việc làm lâu dài của họ”
[8, tr.8]. Hoặc “Du lịch là tổng hợp những mối quan hệ và hoạt động tạo ra do sự
di chuyển và dừng lại của những người mà vị trí của những nơi dừng lại không
phải là nơi cư trú và cũng không phải là nơi hành nghề của chính họ” (Claude
kaspas và St gallen - các nhà kinh tế Thuỵ Sỹ đưa ra năm 1992) [21, tr.12].
Trong tuyên bố Manila năm 1980 của tổ chức du lịch quốc tế thì du lịch được
hiểu là “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải di cư một
cách hoà bình, hoặc xuất phát từ mục đích phát triển cá nhân về các phương diện
kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp
tác với mọi người” [21, tr.12]. Như vậy, du lịch phải gắn với định cư của chủ
thể. Nghĩa là, đối tượng du lịch phải có nơi cư trú ổn định ở một quốc gia hay ở
10
thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên để
nghỉ ngơi, giải trí nhằm thoả mãn nhu cầu cuộc sống, tái tạo sức lao động.
Dưới góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch được hiểu là việc sản
xuất, cung ứng cho du khách các hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu
đi lại, lưu trú, ăn uống, giải trí, thông tin… đem lại lợi ích kinh tế cho các tổ
chức kinh doanh du lịch và cho quốc gia.
Dưới góc độ lý luận của khoa học kinh tế chính trị, theo tác giả có thể
định nghĩa:
Du lịch là một phạm trù phản ánh mối quan hệ qua lại giữa người
với người trong việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn nhu
cầu hưởng thụ về vật chất, tinh thần của du khách và đem lại lợi ích kinh
tế cho những người kinh doanh trong lĩnh vực du lịch.
Cùng với khái niệm về du lịch, người ta đã đưa ra nhiều quan điểm
khác nhau để phân loại du lịch. Tuy nhiên, có thể khái quát hoạt động du lịch
gồm có các loại hình dưới đây:
Theo mục đích: Du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể
thao, du lịch tâm linh, du lịch tham quan…
Theo phạm vi lãnh thổ: Du lịch trong nước và du lịch quốc tế.
Theo vị trí địa lý: Du lịch biển, du lịch nghỉ núi, du lịch đồng bằng…
Theo thời gian của cuộc hành trình: Du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày…
* Kinh tế du lịch
Theo dòng lịch sử, hoạt động du lịch ban đầu chỉ mang tính chất cá
nhân lẻ tẻ, dần dần nó trở nên phổ biến hơn và đa dạng hơn về hình thức. Đi
du lịch, không chỉ dừng lại ở hình thức cá nhân riêng lẻ mà tiến đến nhóm
người, tập thể người. Không gian du lịch đồng thời cũng được mở rộng ra
không chỉ trong phạm vi từng lãnh thổ mà giữa các lãnh thổ với nhau. Yêu cầu
đối với việc tổ chức các chuyến đi ngày càng phức tạp hơn, du khách cần có
12
xã hội của đất nước, của vùng để phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước
để thu lợi ích kinh tế và phát triển KT - XH. Trong từ điển Bách khoa Việt
Nam (do nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội năm 2002) đã đưa ra định
nghĩa tương đối hoàn chỉnh về kinh tế du lịch: Kinh tế du lịch là một loại hình
kinh tế có đặc thù mang tính dịch vụ và được xem như ngành công nghiệp
không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng
nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước
(tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hoá, lịch sử…) nhằm thu hút
khách du lịch trong nước và ngoài nước, tổ chức buôn bán xuất nhập khẩu tại
chỗ hàng hoá và dịch vụ cho khách du lịch.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta cũng đã khẳng định:
“Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, góp phần vào nâng cao
dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội” và coi “du lịch là một
hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm
góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu từng
bước đưa đất nước ta trở thành Trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ có tầm
cỡ trong khu vực” [5, tr.89].
Là một ngành cung ứng kinh doanh dịch vụ, kinh tế du lịch có nội dung
khác với các ngành kinh tế khác (công nghiệp, nông nghiệp). Nội dung cơ bản
của kinh tế du lịch gồm:
Một là, sản phẩm (hay hàng hoá) du lịch.
Là ngành kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, sản phẩm
phục vụ du lịch theo nghĩa hẹp chính là những hàng hoá đáp ứng nhu cầu của
người đi du lịch (người mua) như phương tiện đi lại, nhà nghỉ, khách sạn, các
sản phẩm đặc trưng của vùng, điểm du lịch… Theo nghĩa rộng hơn, sản phẩm
du lịch là tổng hợp những gì mà du khách mua, hưởng thụ, thực hiện… gắn
với điểm du lịch. Nếu xét từ góc độ khách thể, sản phẩm du lịch gồm toàn bộ
14
các khả năng làm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của khách du lịch.
Thông thường, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch là không thường xuyên
mà chỉ có thể tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản
phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của chủ thể loại du
lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như
du lịch nghỉ núi, du lịch nghỉ biển…).
Hai là, thị trường du lịch.
Thị trường du lịch là một loại thị trường đặc biệt trong nền kinh tế thị
trường khi du lịch trở thành một hiện tượng phổ biến, xuất hiện những cá
nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế chuyên kinh doanh dịch vụ du
lịch. Vấn đề cung - cầu trên thị trường du lịch cũng xuất hiện. Cung trên thị
trường du lịch là các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với những sản phẩm du
lịch có thể cung ứng cho khách hàng. Cầu trên thị trường du lịch là du khách
sẵn sàng trả tiền cho những tổ chức bảo đảm cho họ đi lại, ăn nghỉ, lưu trú và
vui chơi, giải trí... Mối quan hệ cung cầu của thị trường du lịch được hình
thành và giải quyết thông qua các quan hệ kinh tế giữa du khách và các cơ sở
kinh doanh phục vụ du lịch thông qua quan hệ hàng - tiền làm trung gian.
Là thị trường đặc biệt trong hệ thống thị trường nói chung, thị trường
du lịch bao gồm toàn bộ các mối quan hệ, thể chế kinh tế liên quan trực tiếp
đến vị trí, thời gian, các điều kiện và phạm vi thực hiện các dịch vụ, hàng hoá
đáp ứng yêu cầu của xã hội về du lịch. Các mối quan hệ trên được hình thành
trên cơ sở yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh…) trong chế độ xã hội nhất định. Theo tác giả Nguyễn Văn
Lưu: “Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường chung, là một phạm
trù của sản xuất và lưu thông hàng hoá, dịch vụ du lịch, phản ánh toàn bộ
quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán, giữa cung và cầu và toàn bộ
các mối quan hệ thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với các mối quan hệ đó trong
16
lĩnh vực du lịch” [20, tr.25]. Từ sự phân tích và khái quát trên đây, có thể luận
văn hoá, làm cho nhân dân thế giới hiểu biết hơn về đất nước, con người Việt
Nam, từ đó tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ tổ quốc ở nước ta.
Bốn là, hoạt động du lịch có nội dung văn hoá, lịch sử sâu sắc, góp
phần giáo dục truyền thống dựng nước, giữ nước của các thế hệ cha ông, nâng
cao lòng yêu quê hương đất nước cho các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, phát
triển kinh tế du lịch sẽ góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn
hoá dân tộc, cải tạo cảnh quan môi trường, nâng cao trình độ dân trí, thúc đẩy
tiêu dùng và phát triển nhiều dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần xoá
đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
1.1.2. Sự cần thiết phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà
* Khái niệm phát triển kinh tế du lịch ở Khánh Hoà
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: phát triển là một
quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn
thiện đến hoàn thiện. Vì vậy, có thể tiếp cận khái niệm phát triển kinh tế du
lịch là sự hoàn thiện không ngừng cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất. Các mối liên hệ kinh tế nảy sinh và vận hành trong kinh tế du lịch thể
hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ giữa người với
người trong sở hữu về tư liệu sản xuất để sản xuất và cung ứng các dịch vụ du
lịch; quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chức điều hành, quản lý
việc sản xuất, cung ứng các dịch vụ du lịch và quan hệ trong tổ chức phân
phối các sản phẩm, dịch vụ du lịch. Các quan hệ trên diễn ra ở cả bốn khâu
của quá trình sản xuất đó là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng các sản
phẩm dịch vụ du lịch. Từ đó, theo tác giả có thể quan niệm:
Phát triển kinh tế du lịch ở Khánh Hoà là quá trình khai thác có hiệu
quả các tài nguyên du lịch gắn với bảo vệ môi trường, nâng cao số lượng và
18
chất lượng các sản phẩm, dịch vụ; không ngừng mở rộng thị trường, đáp ứng
của nền kinh tế, trong đó sở hữu nhà nước cùng với sở hữu tập thể ngày càng
chiếm vị trí quan trọng. Trong lĩnh vực tổ chức quản lý, người lao động ngày càng
có điều kiện phát huy quyền làm chủ, tham gia vào quá trình tổ chức quản lý hoạt
động kinh doanh với vị trí, vai trò và hiệu quả ngày càng cao. Trong lĩnh vực phân
phối, những người tham gia vào ngành kinh tế này được phân phối công bằng, thu
nhập không ngừng được cải thiện, nâng cao.
Ba là, sự phát triển của kinh tế du lịch ở Khánh Hoà còn được xem xét ở
khía cạnh về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. Biểu hiện của sự phù hợp này thể hiện ở hiệu quả KT XH thu được từ quá trình kinh doanh du lịch ngày càng cao, môi trường được bảo
vệ và tôn tạo. Ngoài ra, trong quá trình phát triển của kinh tế du lịch, mối liên hệ
của ngành này với các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, xây dựng cơ sở
hạ tầng, bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc, tài chính ngân hàng… diễn ra
ngày càng sâu sắc. Tác động ảnh hưởng và vị trí của kinh tế du lịch đối với đời
sống kinh tế, văn hoá, xã hội, QP - AN… ngày càng lớn và trở thành một trong
những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội ở địa phương.
Bốn là, trong nền kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Phát triển kinh tế du lịch ở Khánh Hoà phải bảo đảm khai thác có hiệu quả
những tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương. Nâng cao số lượng và
chất lượng các sản phẩm du lịch, không ngừng mở rộng thị trường, làm cho
du lịch Khánh Hoà thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, làm động lực
thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Phấn đấu đưa địa phương trở
thành trung tâm du lịch không chỉ của cả nước mà của cả khu vực, nâng cao
vị thế du lịch Khánh Hoà đối với cả nước và trên trường quốc tế.
Xuất phát từ tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn,
những điều kiện về KT - XH và kết cấu hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế du
20
lịch. Do vậy, nội dung phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà hiện nay có tính
đặc thù riêng so với các địa phương khác được thể hiện trên một số vấn đề sau:
gian phía tây tỉnh Khánh Hoà.
Du lịch văn hoá: Tham quan lễ hội, các di tích lịch sử văn hoá… trên
toàn tỉnh, tìm hiểu bản sắc văn hoá các dân tộc ít người ở các huyện miền núi
(Khánh Sơn, Khánh Vĩnh).
Du lịch MICE: Hội nghị, hội thảo, hội chợ, khen thưởng chủ yếu ở
thành phố Nha Trang và các đảo trên vịnh Nha Trang.
Du lịch công vụ, thăm thân: Phát triển chủ yếu ở khu vực thành phố
Nha Trang và phụ cận.
Du lịch tàu biển: Phát triển ở khu vực thành phố Nha Trang và phụ cận
(kết hợp với các di tích lịch sử văn hoá, các điểm danh lam thắng cảnh…).
Việc phát triển loại hình và sản phẩm du lịch theo thị trường của Khánh Hoà
đó chính là đẩy mạnh phát triển các loại hình sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp và du lịch văn hoá bản địa dành cho du khách
quốc tế. Đồng thời, hướng khai thác đối với thị trường khách nội địa là đẩy
mạnh các tour ngắn ngày, tour du lịch hành hương lễ hội, tour du lịch cuối
tuần với các hình thức nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí hiện đại…
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch.
Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch là chiến lược quan
trọng để cải thiện chất lượng môi trường du lịch, từ sự chuyên nghiệp hoá
trong quản lý du lịch đến phong cách, tinh thần, thái độ phục vụ của lực lượng
cán bộ, nhân viên ngành du lịch và của từng người dân. Phát triển nguồn nhân
lực cho kinh tế du lịch được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
22
Xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo đầy đủ các loại nghề cho
ngành kinh tế du lịch; đào tạo trình độ đại học và tăng cường khả năng nghiên
cứu về du lịch; đào tạo trình độ trung học và học nghề về du lịch; tăng cường
năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý du lịch ở các cấp.
Phối hợp đào tạo và xúc tiến chuyển giao công nghệ quản lý du lịch
chúng nhân dân trong nhận thức xã hội về du lịch và phát triển kinh tế du lịch.
Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, phân công, phân cấp,
phân nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, từng đối tượng; đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý về du lịch.
Xây dựng hệ thống các văn bản về du lịch; có quy định về tổ chức quản
lý bảo đảm cho sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong phát
triển kinh tế du lịch.
Xây dựng nội quy, quy chế cụ thể hợp lý trong khai thác và kinh doanh
du lịch. Thực hiện quản lý nhà nước ở tất cả các lĩnh vực theo pháp luật nhằm
tạo môi trường tự nhiên và nhân văn thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch.
* Sự cần thiết phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về du lịch.
Một là, Khánh Hoà là địa phương có điều kiện tự nhiên và tài nguyên
du lịch tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch.
Khánh Hoà nằm ở vị trí địa lý từ 11041’53’’ đến 12052’35’’ vĩ độ Bắc và từ
108040’ đến 109023’24’’ kinh độ Đông. Phía bắc Khánh Hoà giáp Phú Yên, nam
giáp Ninh Thuận, tây giáp Đăck Lăck và Lâm Đồng, đông giáp biển với đường
bờ biển dài 385 km. Diện tích tự nhiên là 5.198,2 km 2, dân số 1.123.000 (số
liệu năm 2005), chiếm 1,58% về diện tích và 1,35% về dân số của cả nước,
đứng thứ 24 về diện tích và thứ 32 về dân số trong cả nước. Khánh Hoà nằm
giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Đây là các trọng
24
điểm phát triển kinh tế của cả nước. Với vị trí địa lý đặc thù như vậy, đã tạo
điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng
giao lưu KT- XH trong đó có du lịch với các tỉnh khác.
Về địa hình: Khánh Hoà là một trong những tỉnh có địa hình đa dạng
và phong phú với đầy đủ các thể loại địa hình như biển đảo, núi, đồng bằng…
tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch. Địa hình
dịch vụ du lịch phục vụ du khách.
Về tài nguyên biển và tài nguyên rừng: Các tài nguyên biển đều có khả
năng khai thác trong thời gian tới là tiềm năng kinh tế cảng biển, du lịch, khai
thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản.
Diện tích rừng hiện có là 186,5 nghìn ha, trong đó 64,8% là rừng sản
xuất, 34% rừng phòng hộ và 1,2% rừng đặc dụng. Độ che phủ của rừng lớn
nhất là Khánh Vĩnh (45,4%), Khánh Sơn (35,9%), và thấp nhất là Nha Trang
(10,8%), Cam Ranh (7,8%). Rừng là một thế mạnh của Khánh Hoà, song việc
khai thác bừa bãi trong những năm qua đã làm cho tài nguyên rừng ngày càng
cạn kiệt, dẫn đến suy giảm cân bằng sinh thái, ảnh hưởng tới phát triển KT - XH
nói chung và kinh tế du lịch nói riêng của địa phương.
Về tài nguyên du lịch tự nhiên: Khánh Hoà là địa phương có rất nhiều
vịnh, bãi biển, bán đảo, suối thác và hang động đẹp có thể khai thác nhằm
phát triển kinh tế du lịch, chẳng hạn như:
Vịnh Vân Phong, cách thành phố Nha Trang khoảng 80 km về phía bắc.
Đây thực sự là một kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hoà, bãi biển đẹp, cát
mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch thể thao
dưới nước và trên núi (lặn, lướt ván, thuyền buồm, đi săn, leo núi, tắm nước
khoáng…). Vịnh Vân Phong đã được quy hoạch phát triển thành khu kinh tế
tổng hợp, trong đó có một số khu du lịch cao cấp.
26
Vịnh Nha Trang, là một trong những vịnh biển lớn của Khánh Hoà.
Phía đông và phía nam được giới hạn bằng vòng cung các đảo, trong đó lớn
nhất là đảo Hòn Tre. Tháng 5/2003, vịnh Nha Trang đã được công nhận là
thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới, mở ra một cơ
hội lớn để quảng bá hình ảnh Nha Trang - Khánh Hoà trên trường quốc tế.
Bãi biển Dốc Lết, cách thành phố Nha Trang khoảng 50 km về phía
bắc, với bờ cát trắng mịn, phẳng lì chạy dài gần 10 km. Nước biển trong xanh,
Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang. Tại đây có thể ngâm tắm bùn khoáng,
khoáng nóng, hồ bơi khoáng ấm và hồ phun mưa khoáng nóng hoặc thư giãn
trong phòng riêng biệt. Nước khoáng nóng cũng như bùn khoáng Silic có tác
dụng rất tốt cho sức khoẻ. Trung tâm suối khoáng nóng thật sự mang lại cảm
giác thư giãn và phục hồi sức khoẻ cho du khách.
Thác Yang Bay (thác trời), nằm trong khu vực buôn Y Bay, xã Khánh
Phú, huyện Khánh Vĩnh. Thác Yang Bay nằm ở độ cao 600 m. Đổ xuống từ
trên cao, chen trong cánh rừng đại ngàn, tạo ra những dốc thác khác nhau,
mỗi dốc thác lại có nhiều hồ lớn nhỏ, nước trong và rất nhiều cá tự nhiên bơi
lội. Thác Yang Bay đã được quy hoạch phát triển thành khu du lịch sinh thái
và đang dần dần trở thành điểm du lịch hấp dẫn trên hành lang du lịch Nha
Trang sang phía tây của tỉnh Khánh Hoà.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà còn có rất nhiều tài nguyên du lịch
tự nhiên khác như: bán đảo Đầm Môn; bãi biển Xuân Đừng; đầm Nha Phu; Hòn
Lao; Hòn Thị; Hòn Tre; vịnh và bãi biển Cam Ranh; khu du lịch Trầm Hương ở
Khánh Vĩnh; Thác Tà Gụ ở Khánh Sơn; hồ Am Chúa - suối Ồ Ồ; hồ Đá Bàn;
nước khoáng nóng ở Tu Bông; nước khoáng Đảnh Thạnh ở Khánh Vĩnh…
Hai là, Khánh Hoà có điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên nhân văn
hấp dẫn đối với du khách.