LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN KINH tế DU LỊCH TRONG QUÁ TRÌNH hội NHẬP KINH tế ở TỈNH KHÁNH hòa HIỆN NAY - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Du lịch sinh thái

DLST

Doanh nghiệp du lịch

DNDL

Hiệp hội các nước Đông Nam Á

ASEAN

Hội nhập kinh tế quốc tế

HNKTQT

Khoa học - công nghệ

KH - CN

Kinh tế - xã hội



3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở
TỈNH KHÁNH HÒA

1.1

Những vấn đề chung về kinh tế du lịch và kinh tế du lịch

1.2

trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Quan niệm, nội dung và các yếu tố tác động đến phát triển

11
11

kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
ở tỉnh Khánh Hòa

20

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở TỈNH
KHÁNH HÒA

34


73
87
89
94

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

2


3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hóa cao. Hoạt động của ngành kinh tế này không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch
ngày càng tăng của người dân mà còn đóng vai trò quan trọng “xuất khẩu tại chỗ”
các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ ra ngước ngoài. Nhiều nước đã coi KTDL là
ngành “công nghiệp không khói” mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho đất nước.
KTDL không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, mà còn tạo động
lực phát triển các ngành kinh tế khác, tạo nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho
người dân, là phương tiện quảng bá hiệu quả hình ảnh đất nước v.v...
Ở Việt Nam, sự phát triển của KTDL không những góp phần không nhỏ
thúc đẩy KT - XH phát triển mà còn thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nhanh hơn, sâu, rộng hơn, mang hình ảnh đất nước, con người Việt Nam
đến với bạn bè quốc tế, thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường hiểu biết giữa
các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Trong những năm qua, ngành kinh tế du lịch của tỉnh Khánh Hòa đã có
tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát

Mai Văn Điệp (2006), Phát triển kinh tế du lịch biển và tác động của
nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà hiện nay, Luận văn
Thạc sỹ kinh tế, Học viện chính trị quân sự, Luận văn đã luận giải một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về phát triển KTDL biển và tác động của nó đến củng
cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà; đưa ra một số quan điểm và giải
pháp cơ bản gắn phát triển KTDL biển với củng cố quốc phòng trên địa bàn
tỉnh Khánh Hoà hiện nay.
Nguyễn Anh Tuấn (2009), Phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hòa
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện chính trị quân sự, Luận văn đề
xuất một số giải pháp phát triển KTDL ở Khánh Hòa.
Nguyễn Anh Tuấn (2015), Phát triển kinh tế du lịch gắn với tăng
cường quốc phòng an ninh ở tỉnh Khánh Hòa, Luận án tiến sĩ kinh tế chính
trị, Luận án trình bày những khái niệm cơ bản về kinh tế du lịch và phát triển
KTDL, một số giải pháp gắn phát triển KTDL với tăng cường quốc phòng an
ninh ở Khánh Hòa.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nên trên đã đề cập tới những lý
luận chung nhất về kinh tế du lịch và phát triển KTDL, đưa ra những giải
6


7
pháp phát triển KTDL cho từng địa phương và khẳng định vai trò của phát
triển KTDL đối với quốc phòng an ninh nói riêng và đối với sự phát triển
chung của KT - XH.
* Nhóm công trình nghiên cứu khoa học về du lịch trong xu thế hội
nhập quốc tế.
Phạm Quang Hưng (2004), Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7.
Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Vũ Đức Minh (2004), “Một số giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của các DNDL Nhà nước trên địa

Rica, Pháp, Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và xem xét điều kiện của Việt
Nam, tác giả luận án đã rút ra 7 bài học kinh nghiệm quý báu có thể vận dụng
đối với Việt Nam.
Đánh giá thực trạng phát triển DLST Việt Nam trong giai đoạn vừa qua
về các mặt thành công, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu. Từ đó, tác giả luận
án đã đưa ra những giải pháp chủ yếu phát triển DLST Việt Nam trong giai
đoạn tới bao gồm: (i) Hoàn thiện quy hoạch DLST bền vững theo hướng cộng
đồng; (ii) Hoàn thiện tổ chức quản lý và cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ phát
triển DLST; (iii) Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất
kỹ thuật; (iv) Đa dạng hóa và tạo tính đặc thù sản phẩm DLST; (v) Nâng cao
chất lượng sản phẩm DLST; (vi) Chú trọng công tác bảo tồn đa dạng sinh học
và bảo vệ môi trường; (vii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực DLST; (viii)
Tăng cường nghiên cứu thị trường, quảng bá và xúc tiến DLST; (ix) Tăng
cường hội nhập và hợp tác quốc tế trong phát triển DLST; (x) Đẩy mạnh
tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về DLST.
Trần Xuân Ảnh (2011), Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập
kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn
về thị trường du lịch trong HNKTQT, đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp
mở rộng thị trường du lịch Quảng Ninh trong thời gian tới.
Trong nhóm công trình nghiên cứu khoa học này đã nghiên cứu một vài
mặt hoạt động của KTDL trong môi trường hội nhập quốc tế, bước đầu thấy
được vai trò của hội nhập quốc tế trong việc phát triển KTDL.
8


9
Tóm lại, mặc dù có thế chưa thống kê hết được các công trình nghiên
cứu, nhưng những công trình nghiên cứu mà tác giả được biết cho đến nay
chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về “Phát

đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KTDL trong quá trình HNKTQT ở
Khánh Hòa thời gian tới.
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh Khánh Hòa
Về thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển KTDL trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến nay
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, là phép biện chứng duy vật.
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị bao
gồm: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phân tích - tổng hợp, lôgic kết
hợp với lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, chuyên gia và
một số phương pháp khác.
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực
tiễn của phát triển KTDL trong quá trình HNKTQT ở tỉnh Khánh Hòa nói
riêng và ở các Tỉnh có thế mạnh về phát triển KTDL nói chung. Đồng thời
cung cấp những cứ liệu khoa học để phát triển KTDL Khánh hòa hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn với khu vực và quốc tế.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho nghiên
cứu và giảng dạy môn kinh tế chính trị ở các trường trong và ngoài Quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu, ba chương (6 tiết), kết luận, phụ lục và
danh mục tài liệu tham khảo.

10



tính này thể hiện sự khác biệt giữa hàng hóa dịch vụ và hàng hoá vật chất. Đối
với hàng hoá vật chất quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau. Việc sản
12


13
xuất và tiêu dùng thường diễn ra ở những thời gian và địa điểm khác nhau.
Còn đối với hàng hóa dịch vụ thì ngược lại, việc sản xuất và tiêu dùng thường
trùng nhau về “không gian” và “thời gian”. Sản xuất không phải để lưu kho
hay cất đi như các hàng hoá thông thường. Chẳng hạn, vào mùa đông thời
gian rỗi của nhân viên du lịch ở các vùng ven biển không thể để dành đến lúc cao
điểm của mùa hè, hoặc một phòng khách sạn không cho thuê được trong ngày thì
đã coi như mất dịch vụ, do đó mất nguồn thu v.v... Dịch vụ được sản xuất và tiêu
dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau và cần phải tạo ra sự
ăn khớp giữa cung và cầu. Vì thế, công tác dự báo nhu cầu trong kinh doanh dịch
vụ du lịch là hết sức quan trọng.
Thứ ba, sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ.
Đặc điểm này nói lên rằng, khách du lịch ở một chừng mực nào đó đã trở
thành nội dung của quá trình sản xuất. Do việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ
diễn ra đồng thời, nên ở đó có sự gặp gỡ giữa hai chủ thể: Khách hàng và
người sản xuất. Sự gắn liền họ trong sự tác động qua lại này khẳng định sự
phụ thuộc vào mức độ lành nghề, khả năng của người cung cấp dịch vụ cũng
như ý nguyện của người tiêu dùng. Do có sự đa dạng về yêu cầu, sở thích,
trình độ cũng như khả năng cảm nhận và đánh giá của khách du lịch, mà nhà
cung ứng dịch vụ du lịch cần sáng tạo trong quá trình sản xuất của mình để
thoả mãn nhu cầu của du khách. Người tiêu dùng ở đây không chỉ là người
hưởng thụ những lợi ích do nhà cung ứng mang lại, mà còn có tác động đến
khả năng phục vụ và mức độ hoàn thiện của dịch vụ. Họ trở thành người đồng
sáng tạo trong quá trình sản xuất dịch vụ du lịch.
Thứ tư, tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch và tính không

phòng, thiên tai, dịch bệnh. Vì vậy, số lượng khách du lịch thay đổi và kéo
theo sản lượng dịch vụ du lịch cũng thay đổi theo từng ngày trong tuần, từng
tuần trong tháng, từng tháng trong năm và giữa năm này so với năm khác.
* Các loại hình du lịch
Trên cơ sở các tiêu thức khác nhau, du lịch được phân thành các loại
khác nhau.
14


15
Theo phạm vi lãnh thổ có:
Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm
đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia, với loại hình du lịch này
khách du lịch phải qua biên giới và sử dụng dịch vụ ở nơi đến du lịch. Du lịch
nội địa, là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng
nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.
Theo nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch có: Du lịch chữa bệnh, du
lịch nghỉ dưỡng và giải trí, du lịch thể thao, du lịch tham quan, du lịch công
vụ, du lịch tâm linh...
Theo vị trí địa lý của nơi khách đến du lịch có: du lịch núi, du lịch biển,
sông, hồ, du lịch thành phố, du lịch đồng quê.
Theo phương tiện giao thông phục vụ chuyến đi du lịch của khách có:
du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng xe ô tô, du lịch bằng
tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch bằng máy bay.
* Quan niệm về kinh tế du lịch
Theo Luật du lịch Việt Nam tại điều 38 quan niệm: Kinh doanh du lịch
là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sau đây: i, Kinh doanh lữ
hành; ii, Kinh doanh lưu trú du lịch; iii, Kinh doanh vận chuyến khách du
lịch; iv, Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch; V, Kinh doanh dịch
vụ du lịch khác [35, tr.39].

bỏ dần các hàng rào trong thương mại, thanh toán quốc tế và việc di chuyển
các nhân tố sản xuất giữa các nước”.
Hội nhập kinh tế quốc tế là bước đi tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay mà bất cứ quốc gia nào cũng phải tham gia, nếu đóng cửa với thế
giới là đi ngược với xu thế chung và khó tránh khỏi rơi vào tụt hậu. Tuy nhiên,
hội nhập luôn có tính hai mặt, vừa tạo cơ hội cho các quốc gia phát triển, nhưng
cũng đặt ra những thách thức mới. Tuy nhiên, HNKTQT vẫn là bước đi cần thiết
hướng tới sự phát triển của mỗi nước. Bản chất của HNKTQT là mỗi quốc gia
dựa trên những lợi thế so sánh của mình để từ đó tham gia vào phân công lao
động khu vực và thế giới, biến nền kinh tế của một nước trở thành một bộ phận
không thể tách rời của nền kinh tế khu vực và thế giới.
16


17
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình diễn ra với nhiều cấp độ.
Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều hình thức, nhiều mức độ, quy mô
hội nhập kinh tế quốc tế. Về quy mô có tam giác, tứ giác, tiểu khu vực, khu
vực, liên khu vực, liên châu lục và toàn cầu. Về cấp độ, của HNKTQT bắt đầu
từ sự thỏa thuận song phương và đa phương về buôn bán, trao đổi hàng hóa,
dịch vụ; tiếp theo là thỏa thuận song phương và đa phương về thuế quan bằng
các hiệp định thương mại trong buôn bán kinh doanh; cấp độ thứ ba là thiết
lập ưu đãi thuế quan dài hạn thông qua việc ký kết thỏa thuận giữa các bên;
cấp độ thứ tư là thành lập thị trường chung; cấp độ cao nhất hiện nay là liên
minh kinh tế, tiền tệ, hình thành đồng tiền chung, ngân hàng trung ương
chung và có sự phối hợp chính sách kinh tế với nhau.
* Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế
Nội dung hội nhập là những yêu cầu mà các nước tham gia vào các tổ
chức kinh tế khu vực và thế giới cam kết thực hiện. Cam kết kinh tế mang tính
toàn cầu là tổ chức thương mại thế giới (WTO), được thành lập năm 1995 từ tổ

phương trong các chương trình hoạt động nghiên cứu, triển khai, chuyển giao
khoa học công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế.
Hội nhập kinh tế quốc tế cần phải đi trước một bước để tạo cơ sở, tiền đề
thúc đẩy hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực khác, trong đó có hội nhập quốc tế
của KTDL.
* Hội nhập kinh tế quốc tế của kinh tế du lịch
Hội nhập kinh tế quốc tế của kinh tế du lịch: Là sự gắn kết ngành kinh
tế du lịch của một quốc gia, vùng lãnh thổ với ngành kinh tế du lịch của một
quốc gia hay các vùng lãnh thổ, khu vực khác trên thế giới. Các thành viên
gắn kết trong một quan hệ chung nhằm đem lại hiệu quả khi khai thác du lịch.
Ngành KTDL tham gia hội nhập quốc tế với nhiều điều kiện thuận lợi.
Vì nó liên quan đến khám phá các vùng đất mới, các nền văn hóa mới, con
người phải di chuyển từ nước này sang nước khác tạo nên sự giao lưu, hội
nhập quốc tế về du lịch.
Chính Hội nhập quốc tế của du lịch đã tạo ra cho KTDL nhiều cơ hội:

18


19
Mở rộng thị trường ra khu vưc, thế giới; Thu hút đầu tư nước ngoài vào du
lịch; Chuyển giao KH-CN tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ,
và tất cả những cơ hội đó tạo ra sự phát triển cho KTDL
Phát triển KTDL thực chất là phát triển điểm đến, phát triển thị trường,
Nó không bó hẹp ở một quốc gia mà nó phải phát triển ra các nước trong khu
vực và thế giới. KTDL càng phát triển thì càng thúc đẩy hội nhập quốc tế của
KTDL sâu, rộng hơn. Từ đó ta có thể thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa hội
nhập và phát triển của KTDL, đây là mối quan hệ biện chứng.
* Đặc điểm của kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đặc điểm của kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế bao

du lịch trong phạm vi quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Thứ ba, kinh tế du lịch tham gia vào các tổ chức du lịch của khu vực
và thế giới.
Kinh tế du lịch tham gia vào các tổ chức du lịch của khu vực và thế
giới, ký kết các hiệp định, các chương trình, dự án và các cam kết mở cửa tự
do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO, ASEAN,
APEC, GMS... Trong đó, ASEAN là một trong những thị trường Việt Nam
tham gia hội nhập sâu rộng và có hiệu quả nhất.
Du lịch Việt Nam bắt đầu tìm hiểu và tham gia các cơ chế hợp tác từ
cuối những năm 1990, sau khi gia nhập ASEAN (1995). Việt Nam từng bước
tham gia đầy đủ các hoạt động trong các nhóm/tiểu ban công tác du lịch từ
đầu những năm 2000 và chủ động hội nhập từ cuối những năm 2000. Đối với
các cam kết về thị trường, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các cam kết đối với
các lĩnh vực khách sạn, dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn, dịch vụ phục vụ ăn uống
và kinh doanh lữ hành quốc tế.
1.2. Quan niệm, nội dung và các yếu tố tác động đến phát triển kinh
tế du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh Khánh Hòa
1.2.1. Quan niệm phát triển kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ở tỉnh Khánh Hoà

20


21
Như trên đã đề cập, kinh tế du lịch là một là một loại hình kinh tế đặc
thù mang tính dịch vụ. Tính đặc thù của KTDL được thể hiện ở chỗ, nó gắn
chặt với khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn để tạo ra các
sản phẩm, dịch vụ du lịch cung cấp cho khách du lịch. Do đó, phát triển kinh
tế du lịch trước hết phải là phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến (lớn lên) về mọi mặt của nền

động, hoàn thiện cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, thúc đẩy
tăng trưởng bền vững các dịch vụ du lịch dựa trên cơ sở đổi mới, ứng
dụng những thành tựu khoa học - công nghệ, phương pháp sản xuất tiên
tiến và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn gắn
với thị trường, phân công lại lao động, bảo vệ môi trường, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, của đất nước.
Như vậy, dưới góc độ kinh tế chính trị phát triển KTDL phải được xem
xét cụ thể cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong ngành du lịch.
Phát triển KTDL là quá trình đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng các dịch vụ du lịch
theo hướng hiệu quả, bền vững dựa trên sự đổi mới, ứng dụng các thành tựu
KH - CN hiện đại và phương pháp sản xuất tiên tiến; đẩy mạnh sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong nội bộ ngành theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn gắn với thị trường. Mục đích phát triển KTDL nhằm góp
phần thực hiện các mục tiêu KT - XH của đất nước.
Từ sự phân tích về: Phát triển kinh tế du lịch và KTDL trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế. Ta có thể quan niệm phát triển kinh tế du lịch trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh Khánh Hòa như sau:
“Phát triển kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnh
Khánh Hòa là hoạt động chủ động, tích cực của các chủ thể trong việc tận dụng
cơ hội, khắc phục khó khăn, thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát
triển kinh tế du lịch bền vững và từng bước đưa kinh tế du lịch hội nhập sâu, rộng
vào thị trường du lịch khu vực và thế giới.’’
Từ quan niệm trên, có thể hiểu nội hàm của nó trên một số vấn đề sau:

22


23
Một là, chủ thể phát triển KTDL trong quá trình HNKTQT ở Khánh

24
Tỉnh sao cho phù hợp với tình hình, luật lệ trong khu vực và thế giới; Nhằm
thuận lợi hóa cho đầu tư và phát triển KTDL. Khánh Hòa đảm bảo cho KTDL
vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; Phát triển du lịch
chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ,
phương pháp quản lý, kinh doanh tiên tiến trên thế giới để nâng cao tính
chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả, bền vững. Xây dựng du lịch Khánh Hòa
có thương hiệu mạnh và sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.
1.2.2. Nội dung phát triển kinh tế du lịch trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ở tỉnh Khánh Hòa
Thứ nhất, mở rộng thị trường du lịch trên cơ sở, đa dạng hóa các loại
hình và sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của nhiều đối tượng du khách
trong nước và quốc tế.
Dựa trên những thay đổi của xu hướng phát triển thị trường du lịch thế giới
và trong nước, thị trường khách du lịch của Khánh Hòa hiện nay và đến năm 2020
gồm hai nhóm chính: Thị trường khách truyền thống và thị trường khách tiềm năng.
Thị trường khách truyền thống trong nước gồm có: Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, đồng
bằng sông Cửu Long và các tỉnh Tây Nguyên trong đó Khánh Hòa đặc biệt
chú trọng phát triển thị trường khách nội địa từ các tỉnh Tây Nguyên.
Thị trường khách truyền thống ngoài nước: Các nước Mỹ, Úc, Nhật
Bản, Thụy Điển, Hàn Quốc các nước ASEAN, GMS, Nga, Ukraina,
Uzbekistan. Trong số những thị trường này có thị trường khách Nga thời gian
vừa qua đã tăng đột biến.
Thị trường khách tiềm năng trong nước của Khánh Hòa gồm có các
tỉnh phía Bắc như: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Huế, Thanh
Hóa, các Tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ; các Tỉnh miền Tây Nam Bộ.

24


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status