LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN KINH tế DU LỊCH ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ hải PHÒNG - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
Ở HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

1.1. Những vấn đề chung về phát triển kinh tế du lịch
1.2. Quan niệm, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế du lịch ở huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển kinh tế
du lịch và bài học rút ra cho huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở
HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1. Đặc điểm kinh tế du lịch ở huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng
2.2. Thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch ở
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng thời gian qua
2.3. Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra
cần tập trung giải quyết
Chương 3. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH Ở HUYỆN
KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản
3.2. Một số giải pháp chủ yếu
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


việc khai thác tiềm năng, thế mạnh của đất nước để phát triển KTDL; đồng
thời, khuyến khích các địa phương tận dụng lợi thế, tiềm năng, thế mạnh của
địa phương mình để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, mà một trong những nội
dung là phát triển KTDL ở những nơi có tiềm năng, nhằm gia tăng tỷ trọng
ngành dịch vụ (gồm cả du lịch) trong cơ cấu kinh tế. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX đã chủ trương “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai
thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp
ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt
trình độ phát triển du lịch của khu vực” [9, tr. 178]. Nghị quyết số 09/ NQ-TU
năm 2006 của Ban Thường vụ Thành ủy thành phố Hải Phòng về phát triển
du lịch đến năm 2020 cũng xác định: phấn đấu đưa du lịch Hải Phòng trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển KT-XH của Thành
phố và Hải Phòng trở thành trung tâm du lịch của vùng Duyên hải Bắc Bộ [2,
tr. 5]. Điều đó nói lên tầm quan trọng của phát triển KTDL trong sự phát triển
KT - XH của đất nước nói chung, của thành phố Hải Phòng nói riêng.
Kiến Thụy là một huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam của thành phố
Hải Phòng. Đây là địa phương có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa và cách
3


mạng; nơi phát tích của Vương triều Nhà Mạc thế kỷ 16; có 11 di tích cấp
Quốc gia, 34 di tích cấp Thành phố, lưu giữ nhiều lễ hội truyền thống, lại nằm
trong tuyến du lịch sinh thái rừng và biển của khu du lịch Đồ Sơn… nên là
nơi có nhiều tiềm năng phát triển KTDL. Mặc dù vậy, trong những năm trước
đây, thực hiện quy hoạch phát triển KT - XH đã được UBND thành phố Hải
Phòng phê duyệt, cơ cấu kinh tế của Huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng
CNH, HĐH, gắn liền với sự xuất hiện một số khu công nghiệp mới, nhưng
KTDL vẫn chưa được chú ý phát triển; các tiềm năng về du lịch chưa được

Phòng” thực sự có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn; bởi sự thành công của
công trình nghiên cứu sẽ góp thêm một tiếng nói có cơ sở khoa học, thực tiễn
để đưa KTDL huyện Kiến Thụy phát triển lên một bước mới.
Từ lý do đó, tôi chọn đề tài "Phát triển kinh tế du lịch ở huyện Kiến
Thụy, thành phố Hải Phòng" làm đề tài thạc sĩ chuyên ngành KTCT, với
mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển của địa phương
nơi tôi công tác và sinh sống.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề mà đề tài luận văn nghiên cứu đã có một số bài
báo, công trình nghiên cứu được công bố trong thời gian trước đây.
* Những công trình nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch nói
chung, có một số bài báo và luận văn sau đại học tiêu biểu, như:
- Nguyễn Thái Bình (2003), “Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2. Trong bài báo này, tác giả đã
khái quát tiềm năng, lợi thế của nước ta về du lịch và đưa ra một số khuyến
nghị để du lịch phát triển thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn ở những địa
phương có tiềm năng lớn; trong đó có những khuyến nghị về công tác quảng
bá du lịch, về chuẩn bị nguồn nhân lực, về đầu tư cơ sở vật chất và về lựa
chọn sản phẩm du lịch đặc trưng.
- Nguyễn Văn Đính (2003), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du
lịch chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2;
5


Đinh Trung Kiên (2003), “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch trước yêu cầu
mới”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2; Phạm Thanh Hà (2003), “Đẩy mạnh
phát triển nguồn nhân lực du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6. Cả 3 bài
báo này đều tập trung phân tích vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong
quá trình phát triển du lịch thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời, đề
xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch cả về số lượng và chất

Chí Minh. Cuốn sách này đã cung cấp các tri thức cơ bản về khái niệm du lịch,
khách du lịch, sản phẩm du lịch và tính đặc thù của nó; lịch sử hình thành, xu
hướng phát triển và tác động KT - XH của du lịch; phân tích các tác động về
KT - XH của du lịch đối với một địa bàn phát triển du lịch (chủ yếu dưới góc
độ một quốc gia).
- Nguyễn Đình Sơn (2007), “Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch
Bắc Bộ và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh”, Luận án tiến sĩ KTCT,
Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội. Tác giả luận án đã khái quát lý luận
chung về phát triển KTDL kết hợp với củng cố quốc phòng – an ninh, đưa ra
quan niệm của mình về “phát triển KTDL” dưới góc độ KTCT; phân tích
những đặc điểm cơ bản của KTDL, thực trạng KTDL ở vùng Bắc Bộ trong
mối quan hệ với củng cố quốc phòng – an ninh; đồng thời, đề xuất phương
hướng, mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát triển KTDL ở vùng Bắc
Bộ kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh trong thời gian tới.
- Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008), “Giáo trình Kinh tế
du lịch”, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Cuốn giáo trình cung cấp
những kiến thức cơ bản về KTDL: quan niệm về KTDL, điều kiện để phát triển
du lịch; tính thời vụ trong du lịch; lao động trong du lịch; CSVC - KT của
KTDL; chất lượng dịch vụ du lịch; hiệu quả KTDL; quy hoạch phát triển du
lịch; tổ chức và quản lý ngành du lịch.
- Lê Quốc Thắng (2010), “Phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Lào Cai”,
Luận văn thạc sĩ KTCT, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận
chính trị, Hà Nội; Trần Ngọc Tư (2010), “Phát triển kinh tế du lịch ở Vĩnh
Phúc - tiềm năng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ KTCT, Học viện Chính trị
7


quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả của 2 luận văn này đã tập trung hệ
thống hóa lý luận về KTDL; phân tích tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của
từng địa phương (tỉnh Lào Cai và tỉnh Vĩnh Phúc); đánh giá thực trạng KTDL

- Nguyễn Anh Tuấn (2015), “Phát triển kinh tế du lịch gắn với tăng
cường quốc phòng, an ninh ở Khánh Hòa”, Luận án tiến sĩ KTCT, Học viện
Chính trị, Bộ Quốc phòng. Trong luận án này, tác giả đã làm rõ quan niệm,
nội dung phát triển KTDL gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh ở Khánh
Hòa; đưa ra bộ tiêu chí đánh giá sự gắn kết 2 lĩnh vực đó; phân tích thực trạng
sự gắn kết phát triển KTDL với tăng cường quốc phòng, an ninh ở địa phương
này thời gian qua. Trên cơ sở đó, đề xuất một số quan điểm và giải pháp vừa
đẩy mạnh phát triển KTDL, vừa góp phần tăng cường quốc phòng, an ninh ở
Khánh Hòa trong thời gian tới.
Do du lịch ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng mấy năm gần đây
mới “bước đầu được định hình” [8, tr.1]; công tác tuyên truyền, quảng bá về
du lịch của Huyện còn chưa được quan tâm, nên thông tin nói chung, các
nghiên cứu nói riêng về du lịch của huyện Kiến Thụy gần như không có. Gần
đây, với chủ trương của Huyện ủy và UBND Huyện về phát triển du lịch, trên
báo Hải Phòng điện tử mới bắt đầu có những bài báo nhỏ giới thiệu về du lịch
của huyện Kiến Thụy, như: Hoàng Yên (2015), “Huyện Kiến Thụy phát triển
du lịch sinh thái gắn với văn hóa tâm linh”, baohaiphong.com.vn, ngày 23
tháng 7. Trong bài báo này, tác giả đã giới thiệu tiềm năng du lịch của huyện
Kiến Thụy; đồng thời, thông báo việc UBND Huyện triển khai Đề án phát
triển du lịch từ 2015 đến 2020, định hướng đến 2025; trong đó hướng ưu tiên
phát triển là du lịch nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa tâm linh.
Tất cả những công trình kể trên không trực tiếp bàn vấn đề mà học
viên chọn làm đề tài nghiên cứu, nhưng những thông tin mà các công
trình đó đem lại vẫn rất bổ ích, nhất là những kiến thức về cơ sở lý luận
chung, về các định hướng giải pháp thúc đẩy phát triển KTDL ở một địa
phương cụ thể. Đó là những gợi ý cần thiết cho học viên trong quá trình
xây dựng luận văn của mình.
9




5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, về du lịch và phát triển KTDL.
- Cơ sở thực tiễn:
Cơ sở thực tiễn để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ của luận văn
được tác giả rút ra từ quá trình nghiên cứu các văn kiện, báo cáo của Đảng bộ,
UBND, cùng các cơ quan chức năng của huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng; đồng thời, rút ra từ kết quả tác giả luận văn đi khảo sát tại một số cơ
quan trong Huyện - địa phương nơi tác giả luận văn sinh sống và công tác.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng
phương pháp trừu tượng hóa khoa học của KTCT Mác - Lê-nin; dựa vào
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết
của Đảng bộ huyện Kiến Thụy về phát triển du lịch để làm sáng tỏ cơ sở
lý luận phát triển KTDL ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đồng
thời, dựa vào báo cáo của các cơ quan chức năng trong Huyện có liên
quan đến phát triển du lịch trên địa bàn, luận văn sử dụng các phương
pháp: tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích, kết hợp lô-gíc với lịch sử,
cùng một số phương pháp khác để phân tích thực trạng, đề xuất quan điểm
và giải pháp thúc đẩy phát triển KTDL ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa
học của chủ trương phát triển KTDL mà Huyện ủy Kiến Thụy đang lãnh
đạo, tổ chức thực hiện; đồng thời, có thể làm tài liệu tham khảo để UBND


kinh tế quốc dân của nhiều nước.
Đã có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch. Trong cuốn Kinh tế du
lịch, Robert Lanquar có dẫn ra quan niệm của Hội Liên hiệp các chuyên gia
quốc tế về du lịch: “Du lịch là sự tổng hoà các hiện tượng và quan hệ do việc
lữ hành và tạm thời cư trú của những người không định cư dẫn tới. Số người
này không định cư lâu dài, và lại cũng không làm bất kì hoạt động nào để
kiếm tiền” [20, tr. 241]. Quan niệm này không chỉ thấy du lịch là hoạt động
của chính người đi du lịch, mà con nhìn thấy các mối quan hệ phát sinh từ
hoạt động đó, không chỉ bao hàm những hoạt động từ phía du khách, mà còn
những hoạt động phát sinh để đáp ứng nhu cầu của du khách, theo đúng quy
luật: có cầu du lịch ắt sẽ có cung du lịch đáp ứng. Đồng quan điểm với Hội
Liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch, Giáo trình kinh tế du lịch của 2
13


tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa có nêu lên một quan niệm
khá toàn diện về du lịch của các nhà nghiên cứu Trung Quốc:“Du lịch là một
hiện tượng KT-XH nảy sinh trong điều kiện KT-XH nhất định; là sự tổng hoà
tất cả các quan hệ và hiện tượng do lữ hành để thoả mãn mục đích chủ yếu là
nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hoá nhưng lưu động chứ không định cư
mà tạm thời cư trú của tất cả mọi người dẫn tới”[10, tr. 33].
Tại Việt Nam, Luật Du lịch năm 2005 của Việt Nam quan niệm: “Du
lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [19, tr. 8]. Quan niệm này
dường như nhấn mạnh đến hoạt động từ phía người đi du lịch, khi chỉ ra nội
dung cốt lõi trong hoạt động của du khách. Tuy nhiên, “hoạt động có liên
quan” đến chuyến đi của du khách được nêu trong Luật Du lịch có thể được
hiểu rộng ra, bao gồm cả những hoạt động đáp ứng nhu cầu chuyến đi của du
khách; nói cách khác là bao gồm những hoạt động từ phía cung du lịch. Theo

của các ngành khác với hoạt động du lịch.
Tiếp cận KTDL dưới góc độ KTCT đã có một số tác giả; tiêu biểu là:
tiến sĩ Nguyễn Đình Sơn và tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Lâm, v.v. Trong luận án
của mình, tiến sĩ Nguyễn Đình Sơn xác định: “KTDL là một phạm trù phản
ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất trong quá trình tổ chức khai thác
các tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút
khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán xuất khẩu tại chỗ hàng
hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cho du khách, góp phần
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy KT - XH phát
triển” [21, tr. 23]. Quan niệm này đã coi KTDL là một phạm trù (kinh tế),
nhưng lại coi đó chỉ là sản phẩm của sự phát triển lực lượng sản xuất; tức là
nói đến điều kiện xuất hiện của KTDL, nên chưa chỉ rõ thực chất cốt lõi của
phạm trù này là phản ánh các quan hệ kinh tế, làm cho góc độ KTCT của
quan niệm KTDL chưa thật rõ; đôi khi, sự diễn giải nội dung phản ánh của
15


phạm trù này lại có thiên hướng gần với góc độ tiếp cận kinh tế ngành. Cũng
tiếp cận dưới góc độ KTCT, tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Lâm coi “KTDL là một
quan hệ kinh tế trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm du lịch, bao gồm các quan
hệ ngành, nghề là: kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch, kinh
doanh vận chuyển khách du lịch, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du
lịch và kinh doanh dịch vụ du lịch khác, nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần
của du khách, đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm
du lịch và bản thân DNDL” [16, tr. 30]. Quan niệm này đã xem KTDL là các
quan hệ kinh tế, nhưng chưa chỉ rõ chủ thể của những quan hệ kinh tế đó (là
quan hệ giữa ai với ai ?); đồng thời, việc vừa xem KTDL là “một quan hệ
kinh tế”, lại vừa xem KTDL “bao gồm các quan hệ”, làm cho sự diễn đạt nội
dung quan niệm này chưa thật nhất quán. Tuy vậy, đây vẫn là một quan niệm
về KTDL dưới góc độ KTCT tương đối hợp lý.

làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du
lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác;
trong đó, khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu.
Thứ ba, kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
Đây là hoạt động nhằm giúp du khách dịch chuyển được từ nơi cư trú
của mình đến điểm du lịch cũng như dịch chuyển tại điểm du lịch. Để phục vụ
cho hoạt động kinh doanh này, DNDL có thể sử dụng nhiều phương tiện vận
chuyển, như: ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay, v.v. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ
một số tập đoàn du lịch lớn trên thế giới có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận
chuyển khách du lịch từ nơi cư trú của họ đến điểm du lịch và tại điểm du
lịch; còn phần lớn các trường hợp, du khách sử dụng dịch vụ vận chuyển của
các phương tiện giao thông đại chúng hoặc của các công ty chuyên kinh
doanh dịch vụ vận chuyển.
Thứ tư, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch.
Đây là điều kiện không thể thiếu để phát triển sản phẩm dịch vụ du lịch
nhằm thu hút du khách và đem lại hiệu quả KT - XH cho quốc gia hoặc vùng
có tài nguyên du lịch. Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao
18


gồm: đầu tư bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có; đưa các tài nguyên du
lịch tiềm năng vào khai thác; xây dựng KCHT du lịch, CSVC - KT du lịch.
Thứ năm, kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Các hoạt động này bao gồm: kinh doanh các loại hình dịch vụ vui chơi,
giải trí, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấn đầu tư du lịch, v.v. Cùng với
xu hướng phát triển đa dạng những nhu cầu của khách du lịch, sự tiến bộ của
khoa học – công nghệ và sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa các DNDL, thì
các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch mang tính bổ trợ ngày càng phát
triển mạnh.
* Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch

Sự phát triển của KTDL gắn với nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng của du
khách là động lực để khuyến khích các nhà đầu tư (doanh nghiệp trong nước,
nước ngoài và người dân địa phương) bỏ vốn đầu tư kinh doanh các dịch vụ
du lịch và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu của du khách. Điều đó tất yếu
thúc đẩy sự phân công lại lao động nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của
địa phương; trong đó có các ngành, nghề truyền thống. Đến lượt mình, sự
phân công lại lao động trước yêu cầu thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch lại
tạo thêm nhiều việc làm (trực tiếp và gián tiếp) cho người dân địa phương;
góp phần giảm tình trạng thất nghiệp. Có việc làm, người dân có thu nhập,
cuộc sống được cải thiện và nâng cao cùng với sự phát triển của KTDL, lại
góp phần làm ổn định xã hội, tăng thêm thu nhập quốc dân, cũng như phần
nộp vào ngân sách nhà nước; qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc
gia cũng như từng địa phương có tài nguyên du lịch.
Hai là, KTDL góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tiến bộ; làm gia tăng các quan hệ kinh tế giữa các địa phương, các
vùng kinh tế và các quốc gia với nhau.
Kinh tế du lịch phát triển dẫn đến xu hướng gia tăng tỷ trọng giá trị và
lao động các ngành dịch vụ trong nền kinh tế; đồng thời, kích thích các ngành
kinh tế khác, như: giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, bưu
20


điện, hải quan, thương mại... phát triển theo định hướng đáp ứng nhu cầu phát
triển KTDL. KTDL càng phát triển thì sự tham gia của các ngành, lĩnh vực
kinh tế khác càng nhiều. Nhờ đó, mối quan hệ giữa các ngành kinh tế khác với
ngành du lịch được tăng cường; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên phạm vi
quốc gia, nhất là ở các địa phương có tiềm năng du lịch, sẽ dịch chuyển theo
hướng gia tăng phát triển các ngành dịch vụ đem lại hiệu quả kinh tế cao, giảm
tỷ trọng thu nhập và lao động của các ngành có hiệu quả kinh tế thấp. Điều đó
kéo theo sự gia tăng giá trị dịch vụ trong thu nhập quốc dân, tăng tỷ lệ lao động

mà họ được thưởng thức, du khách thường giới thiệu cho những người thân
và bạn bè của họ về những địa phương, đất nước, hàng hóa, dịch vụ… mà họ
đã từng sử dụng. Do vậy, KTDL góp phần tuyên truyền, quảng bá hình ảnh,
sản phẩm của địa phương, của quốc gia ra nước ngoài và các địa phương
khác. Thông qua đó, làm tăng sức hấp dẫn du khách đến với địa phương, quốc
gia làm du lịch. Sự gia tăng số lượng du khách và chi tiêu của họ đối với các
sản phẩm du lịch lại kích thích kinh tế của địa phương và quốc gia làm du lịch
phát triển.
1.2. Quan niệm, chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến
phát triển kinh tế du lịch ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
1.2.1. Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch ở huyện Kiến Thụy
Từ quan niệm về phát triển KTDL được trình bày ở tiết 1.1.1, vận dụng
vào huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng có thể quan niệm: Phát triển
KTDL ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng là hoạt động của các chủ thể
làm gia tăng số lượng và chất lượng các quan hệ kinh tế giữa những người
cung ứng và người tiêu dùng sản phẩm du lịch, thông qua việc mở rộng và
nâng cao chất lượng các bộ phận cấu thành KTDL, nhằm đáp ứng lợi ích của
cả người cung ứng và tiêu dùng sản phảm du lịch; góp phần thúc đẩy phân
công lại lao động xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn và làm phong phú thêm
các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, truyền thống của địa phương, thực
hiện thành công các mục tiêu KT-XH của Huyện.
22


Có thể hiểu nội hàm của quan niệm này trên một số vấn đề sau:
Trước hết, bản chất của sự phát triển KTDL là sự gia tăng số lượng và
chất lượng các quan hệ kinh tế giữa những người cung ứng và tiêu dùng sản
phẩm du lịch dưới tác động có mục đích của các chủ thể phát triển KTDL. Sự
gia tăng đó được bộc lộ ra khi các bộ phận cấu thành KTDL được mở rộng và
nâng cao chất lượng.

KTDL với sự hủy hoại môi trường, nên phát triển KTDL ở huyện Kiến Thụy
phải nhằm tới cả 3 mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, giải quyết thành công các
vấn đề xã hội và giữ gìn môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần
bảo tồn và làm phong phú thêm các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, truyền
thống của địa phương.
Thứ tư, phương thức phát triển KTDL ở huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng là tác động từ các chủ thể phát triển KTDL đến các bộ phận cấu
thành KTDL, để phát triển các hình thức kinh doanh phù hợp với tài nguyên
du lịch của Huyện. Theo đó, cấp ủy, UBND các cấp trong Huyện phải tăng
cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về sự
cần thiết phải phát triền KTDL trên địa bàn. UBND huyện xây dựng và ban
hành quy hoạch, các cơ chế, chính sách tạo môi trường khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư các hoạt động kinh doanh du lịch. Chính quyền các
cấp, cùng các nhà đầu tư chăm lo xây dựng và phát triển KCHT (điện, nước,
đường giao thông, viễn thông, khách sạn, nhà hàng…) và nguồn nhân lực
phục vụ du lịch. Bên cạnh đó, để phát triển KTDL, phải đẩy mạnh quảng bá
tiềm năng du lịch của Huyện; các tầng lớp nhân dân chủ động đầu tư, thực
hiện liên kết, hợp tác với các địa phương và các doanh nghiệp kinh doanh du
lịch khác trong khu vực và trên cả nước để phát triển KTDL trên địa bàn
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Thứ năm, nội dung phát triển kinh tế du lịch ở huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng bao gồm việc: nghiên cứu, phát hiện ra những sản phẩm du
lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch; đầu tư, tôn tạo, xây dựng các sản
24


phẩm du lịch, các khu du lịch và điểm du lịch; tổ chức kết nối các mối quan
hệ, các hình thức kinh doanh và các lĩnh vực liên quan đến hoạt động du lịch;
tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, như: lữ hành, lưu trú du lịch, vận
chuyển khách du lịch và các dịch vụ liên quan khác (ăn uống, nghỉ ngơi, giải

của làng quê Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đặc điểm tự nhiên đó đem
lại cho Kiến Thụy tiềm năng phát triển các tour du lịch “đồng quê”. Thêm
nữa, là nơi phát tích của Vương triều Nhà Mạc, với hiện diện của Khu Tưởng
niệm Vương triều Nhà Mạc được khánh thành vào năm 2010, Kiến Thụy có
nhiều tiềm năng phát triển các loại hình du lịch lịch sử văn hóa, tâm linh. Thế
nhưng, các điều kiện đó không thể tự trở thành một sản phẩm du lịch để thu
hút du khách, nếu như các điều kiện đó không được thiết kế, xây dựng thành
những sản phẩm với sự gắn kết với các chuỗi giá trị từ hoạt động marketting
(quảng bá, giới thiệu), thiết lập các tour du lịch gắn chặt với các hoạt động
kinh doanh: lữ hành, lưu trú, di chuyển, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, v.v. Do
vậy, để phát triển một sản phẩm du lịch, nhất thiết phải đầu tư, tôn tạo và xây
dựng sản phẩm, xây dựng các khu hoặc các điểm du lịch với hệ thống KCHT
cần thiết để đáp ứng các nhu cầu của du khách trong quá trình tham quan,
thưởng ngoạn. Mặt khác, các sản phẩm du lịch cũng lại phải thường xuyên
được đầu tư, tôn tạo vừa để gìn giữ, không để bị xuống cấp; vừa để tạo ra
những chi tiết mới, thu hút nhiều hơn nữa du khách đến với các điểm du lịch,
khu du lịch của huyện Kiến Thụy.
- Tổ chức kết nối các mối quan hệ, các hình thức kinh doanh và các lĩnh
vực liên quan đến hoạt động du lịch, để phát triển KTDL cũng là một nội
dung quan trọng để KTDL ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng phát
triển. Một sản phẩm du lịch chỉ dừng lại ở việc thăm dò, nghiên cứu, phát
hiện hay đầu tư, tôn tạo vẫn chưa đủ để hấp dẫn du khách. Việc tổ chức kết
nối các mối quan hệ trong hoạt động du lịch, các lĩnh vực liên quan đến hoạt
dộng du lịch là nội dung rất cần thiết để KTDL phát triển. Đó là sự kết nối
quan hệ giữa ngành du lịch với ngành xây dựng, để thiết kế, xây dựng KCHT
du lịch phục vụ nhu cầu của du khách; kết nối giữa chính quyền địa phương,
26




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status