LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN KINH tế tư NHÂN TRONG CÔNG NGHIỆP và DỊCH vụ ở TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công ty cổ phần
Doanh nghiệp tư nhân
Hội đồng nhân dân
Kinh tế tư nhân
Kinh tế - xã hội
Kinh tế thị trường
Kinh tế vốn đầu tư nước ngoài
Lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất
Thời kỳ quá độ
Trách nhiện hữu hạn
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

Chữ viết tắt
CNXH
CNH, HĐH
CTCP
DNTN
HĐND
KTTN
KT-XH
KTTT
KTVĐTNN
LLSX
QHSX
TKQĐ


24

CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở TỈNH PHÚ THỌ

37

Chương THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG
2.
2.1.
2.2.

Thành tựu, hạn chế phát triển kinh tế tư nhân trong công
nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra

37

cần giải quyết đối với phát triển kinh tế tư nhân trong
công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ

Chương QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT
3.

53

TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG CÔNG
NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở TỈNH PHÚ THỌ THỜI
GIAN TỚI


các nghị quyết của Đảng đều coi KTTN là một phương hướng phát triển và là
bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Về mặt pháp lý, chính sách của
Nhà nước với kinh tế tư nhân ngày càng rõ và được luật hoá như Hiến pháp
(1992 và 2013), Luật Công ty (1990), Luật Doanh nghiệp (2000), Luật Doanh
nghiệp chung 01/01/2006 và mới đây là Luật Doanh nghiệp 2015 cùng các
quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Kinh tế tư nhân ra đời phát triển đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Điều này, đã được khẳng định trong các Văn kiện và
Nghị quyết Trung ương của Đảng qua các kỳ Đại hội. Trên cơ sở kế thừa, phát
triển quan điểm của Đảng về KTTN qua các kỳ Đại hội, cũng như thông qua
việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2011 - 2015
và phương hướng nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2016 – 2020; thông qua
tổng kết thực tiễn 30 năm công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội XII
Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích, tạo
thuận lợi, phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh
tế, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện
chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.
Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào
các tập đoàn kinh tế nhà nước” [21, tr. 108].
Cũng như trong cả nước, KTTN ở Phú Thọ nói chung và KTTN trong
công nghiệp và dịch vụ nói riêng có vị trí vai trò quan trọng và ngày càng
được khẳng định là nhân tố quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh như:
góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã
hội, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu ngân sách, khai thác được thế mạnh

3


tiềm năng của KTTN đối với các sản phẩm công nghiệp truyền thống và
những ngành dịch vụ có thế mạnh của Tỉnh, góp phần giữ vững ổn định



Nội, 2006. Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích sâu sắc những luận cứ
khoa học về sự tồn tại khách quan của sở hữu tư nhân và KTTN từ đó đưa ra
quan niệm về KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN.
Tô Huy Rứa - Hoàng Chí Bảo - Trần Khắc Việt - Lê Ngọc Tòng (2008), Quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội - 2008; Trịnh Thị Hoa Mai (2006), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong
tiến trình hội nhập, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2006. Các tác giả đã đưa ra cơ sở
lý luận và thực tiễn để khẳng định phát triển KTTN ở nước ta hiện nay là một tất yếu
khách quan; luận giải đặc điểm, tính chất của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong
TKQĐ đi lên CNXH. Đồng thời, phân tích thực tiễn phát triển KTTN đáp ứng yêu
cầu xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Lương Minh Cừ (2011), Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt
Nam hiện nay, một số nhận thức về lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011. Công trình làm rõ thêm nhận thức chung về sở
hữu và sở hữu tư nhân, trên cơ sở đó đi đến khẳng định việc thực hiện đa dạng
hóa các hình thức sở hữu, các loại hình kinh tế là một tất yếu khách quan trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đồng
thời, làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của vấn đề sở hữu tư nhân, KTTN cũng như
nguồn gốc hình thành và những đặc điểm cơ bản của sở hữu tư nhân, KTTN
trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và ở Việt Nam nói
riêng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho sự nghiệp đổi mới
hiện nay ở Việt Nam; trên cơ sở đó nhận thức rõ hơn quy luật vận động, xu thế
phát triển của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân thời điểm hiện tại và tương lai.
Thái Doãn Tước (2011), Phát triển kinh tế tư nhân ở Nghệ An, Luận
văn cao học, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2011, đã luận giải những vấn đề lý
luận về phát triển KTTN ở tỉnh Nghệ An, trên cơ sở khảo sát đánh giá thực
trạng sự phát triển KTTN trên địa bàn Tỉnh. Đồng thời, chỉ ra những cơ chế
chính sách còn bất cập cản trở sự phát triển KTTN ở Nghệ An. Trên cơ sở đó,

thúc đẩy kinh tế - xã hội nước ta phát triển. Đồng thời, đề xuất các quan điểm
và giải pháp nhằm định hướng, phát huy vai trò của khu vực KTTN trong mô
hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020.
Trần Thị Tố Linh (2013), Huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội - 2013. Công trình đã làm rõ những

6


vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực tài chính từ KTTN và huy động nguồn lực tài
từ KTTN cho phát triển kinh tế xã hội; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng
huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân cho phát triển kinh tế xã hội ở
Việt Nam; đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút nguồn lực tài
chính từ KTTN nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
* Về chính sách và các giải pháp phát triển KTTN
Phạm Quang Trung (2003), Khu vực KTTN ở Việt Nam, thực trạng và
giải pháp phát triển, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 75 (9/2003) đề cập đến
các giải pháp nhằm phát triển KTTN ở nước ta trong thời gian tới. Các giải
pháp đưa ra tập trung vào các vấn đề: tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp;
tạo môi trường tâm lý, xã hội thuận lợi; đổi mới chính sách đối với phát triển
KTTN… để tạo ra một sân chơi thực sự bình đẳng cho KTTN phát triển tránh
sự phân biệt, đối xử làm hạn chế vai trò của KTTN đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế đất nước trong TKQĐ.
Nguyễn Minh Tuấn (2006), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư
nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2006. Đề tài đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về KTTN,
những điều kiện phát triển KTTN ở thành phố Hồ Chí Minh. Đánh giá đúng thực
trạng phát triển KTTN trên địa bàn thành phố trong thời kỳ CNH, HĐH. Trên cơ
sở đó, đề ra các giải pháp phát triển KTTN ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian

triến của KTTN tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phần
phát triến KTTN trong tỉnh trong thời gian tới.
Điêu Kim Thắng (2013), Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
tỉnh Phú Thọ, Đại học kinh tế - Đại học Thái Nguyên, 2013. Tác giả đã phân
tích thực trạng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ kể từ khi có Luật doanh nghiệp ra đời (năm 2000), trong đó tập trung phân
tích đánh giá thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực KTTN.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị với HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ trong
tháo gỡ khó khăn vướng mắc tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên
địa bàn Tỉnh phát triển. Đồng thời, cũng đề xuất một số biện pháp chủ yếu
nhằm năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.

8


Phan Quốc Anh (2014), Phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014. Tác giả
nghiên cứu sự phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tập trung chủ yếu
vào nghiên cứu quá trình phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc KTTN,
trên cơ sở đánh giá sự phát triển các loại hình doanh nghiệp, tác giả đã chỉ ra
những thành tựu và hạn chế của các loại hình doanh nghiệp KTTN trên địa
bàn Tỉnh. Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp để phát triển doanh
nghiệp thuộc KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong những năm tiếp theo.
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến
KTTN nói chung và KTTN ở tỉnh Phú Thọ nói riêng, các công trình nghiên
cứu đã đề cập đến những vấn đề về vị trí, vai trò của KTTN, đánh giá sự phát
triển và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển KTTN. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào đi nghiên cứu hoàn chỉnh, hệ thống về phát triển KTTN trong
công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ dưới giác độ một luận văn thạc sỹ

công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: các số liệu khảo sát, đánh giá thực trạng tập trung chủ yếu
từ năm 2010 đến 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn
và đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển KTTN trong công nghiệp và
dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lô gíc
với lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã
hội như: phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh và phương pháp chuyên gia...
để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học
để cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành tỉnh Phú Thọ tham khảo trong xác định
chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTTN nói chung, KTTN trong

10


công nghiệp và dịch vụ nói riêng ở Tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
đặt ra.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu môn
kinh tế chính trị ở các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục
Chương 1


13


và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và
các loại hình doanh nghiệp tư nhân” [18, tr. 55].
Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã xác
định trên cơ sở ba chế độ sở hữu cơ bản đang tồn tại ở nước ta, hình thành nên
các thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, trong
đó có KTTN. Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất với quy mô trình độ phát triển từ thấp (kinh tế cá thể,
tiểu chủ) đến cao kinh tế tư bản tư nhân. Trên cơ sở kế thừa và phát triển
những quan điểm của Đảng tại các kỳ Đại hội trước về phát triển các hình
thức sở hữu và thành phần kinh tế. Tại Đại hội XI Đảng ta xác định có bốn
thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân; kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài. Đến nay, Đại hội XII của Đảng hoàn toàn nhất trí
quan điểm về các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế như Đại hội XI.
Có thể xem KTTN trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau:
Xét về quan hệ sở hữu, kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất (hoặc vốn) cũng như phần của cải vật chất được tạo ra từ tư liệu
sản xuất hoặc vốn đó. Nó bao gồm sở hữu tư nhân nhỏ, là sở hữu của người
lao động tự do, sản xuất ra sản phẩm nhờ chính lao động của mình và các
thành viên trong gia đình (như thợ thủ công cá thể, tiểu thương, các hộ nông
dân..) và sở hữu tư nhân lớn của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và
nước ngoài đầu tư ở Việt Nam.
Xét về quan hệ quản lý, xuất phát từ quan hệ sở hữu nêu trên của
KTTN, quan hệ quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựa
trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn.
Trong quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên
sự tổ chức, điều hành, giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Quan hệ

Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế dựa trên cơ sở chiếm hữu
tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ có sử dụng lao
động làm thuê, hoạt động một cách độc lập trong đó chủ thể tư bản đồng
thời cũng là chủ doanh nghiệp. Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loại
hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ
phần, công ty hợp danh.
Từ cách hiểu và tiếp cận khác nhau trong từng giai đoạn của Đảng về
KTTN, có thể hiểu: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân

15


về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân hoạt động
dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân.
* Đặc điểm kinh tế tư nhân
So với khu vực KTTN của các nền KTTT trên thế giới, đặc biệt là
ở các nước có nền kinh tế phát triển, KTTN Việt Nam được xem là khu
vực kinh tế mới phục hồi và phát triển trong vòng gần 30 năm trở lại
đây. Do đó, KTTN Việt Nam bên cạnh những đặc điểm chung giống như
khu vực KTTN trên thế giới, KTTN Việt Nam còn có những đặc điểm
riêng có sau đây:
Thứ nhất, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo.
Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế
vận hành có hiệu quả. Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản
xuất lớn, hiện đại và hiệu quả. Và cơ chế thị trường hiện đại là môi trường để
KTTN phát triển. KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân là
sản phẩm tự nhiên, tất yếu của quy luật QHSX phù hợp với trình độ của
LLSX trong TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam và nó ngày càng phát triển rộng

nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của KTTN trong nền KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam. Một mặt, KTTN hoạt động tuân theo các quy luật
kinh tế khách quan của nền KTTT như quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu...
Nhưng mặt khác, sự hoạt động KTTN trong nền KTTT chịu sự điều tiết của Nhà
nước Pháp quyền XHCN nhằm dẫn dắt, định hướng mọi thành phần kinh tế của
nền kinh tế quốc dân, trong đó có KTTN phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là đặc điểm khác biệt so với KTTN ở
các nước tư bản chủ nghĩa vì ở các nước tư bản sở hữu tư nhân và KTTN giữ vai
trò thống trị và chi phối các thành phần kinh tế khác, sự điều tiết của nhà nước tư
sản chỉ nhằm mục đích duy trì QHSX thống trị dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất nhằm mục đích bảo vệ lợi ích một bộ phận trong xã hội tư bản đó
chính và giai cấp tư sản.
Thứ tư, chủ các doanh nghiệp, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh
của KTTN đa số là con em lao động, trong đó có cả cán bộ, viên chức nhà nước
đã nghỉ hưu, nhiều người trong số họ là đảng viên.

17


Đây là đặc điểm mang nhiều dấu ấn trong TKQĐ lên CNXH ở Việt
Nam. Bởi lẽ, nước ta đi lên xây dựng CNXH từ một nước thuộc địa nửa
phong kiến với nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Do đó, sau
thời kỳ đổi mới với chủ trương của Đảng khuyến khích mọi người dân vươn
lên làm giàu chính đáng, thì trong số các chủ các doanh nghiệp, các loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh của KTTN đa số là con em lao động, và một bộ
phận cán bộ công chức về hưu muốn đóng góp thêm cho xã hội trong phát
triển KT - XH nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Đặc biệt, từ khi
Đảng có chủ trương cho phép đảng viên được làm KTTN thì nhiều cán bộ
đảng viên tích cực tham gia phát triển kinh tế bằng nguồn lực của bản thân và

dân theo hướng CNH, HĐH.
Phát triển KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu
cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát.
Do đó, trong những năm qua KTTN đã khẳng định được vai trò là động
lực quan trọng trong thúc đẩy phát triển KT-XH, khai thác các tiềm năng
có hiệu quả, đóng góp ngày càng lớn và ngân sách nhà nước.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2010-2015, khu vực
doanh nghiệp Nhà nước chiếm 45% tổng vốn đầu tư nhưng chỉ tạo ra 28%
GDP, trong khi đó khu vực doanh nghiệp dân doanh chỉ chiếm 28% vốn
đầu tư nhưng tạo ra 46% GDP. Hiện nay KTTN đóng góp đến hơn 2/3
GDP của cả nước; 3/4 giá trị sản xuất công nghiệp; 55% giá trị xuất khẩu
của cả nước. [40, tr. 38]. Điều đó chứng tỏ KTTN có sự đóng góp lớn vào
việc gia tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế, được coi là một động lực
quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Với tốc độ phát triển ngày càng nhiều hoạt động rộng khắp trên tất
cả các lĩnh vực và phát triển ở khắp các địa phương KTTN đã và đang làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Điều này cho thấy, cơ cấu kinh tế
đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại. Cơ cấu kinh tế có xu
hướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa KTTN
với các thành phần kinh tế khác, mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát triển
của các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành. Các doanh nghiệp đăng ký hoạt
động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chiếm 42% tổng số

19


doanh nghiệp, công nghiệp - xây dựng 31%, dịch vụ khác 22%, nông
nghiệp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 5%.
Thực tế cho thấy, quá trình phát triển KTTN đồng thời là quá trình


để tiềm năng, thế mạnh góp phần duy trì sản xuất ổn định các vùng nguyên
liệu của các địa phương thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển ngày càng ổn định.
Thứ ba, góp phần tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, một trong những đặc
điểm chung và lớn nhất là có số lượng lao động thiếu việc làm nhiều,
trong khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ. Do đó, giải quyết vấn đề việc làm
và sử dụng hết số lao động có tầm quan trọng hàng đầu để tăng trưởng
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội do thất nghiệp và thiếu việc làm gây
ra.
Trong thời gian qua, KTTN được khuyến khích và phát triển rộng khắp trong
cả nước, đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Bởi vậy, mặc dù
tỷ trọng của KTTN trong GDP chiếm trên 45% nhưng đã sử dụng tới 85%
tổng số lao động xã hội. Số liệu thống kê cho thấy, những năm qua KTTN
có khả năng thu hút nhiều lao động nhất. Năm 2010 khu vực KTTN là 25.
078. 324 người chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong
tổng lao động xã hội. Trong bốn năm từ 2010 - 2014 thu hút thêm hơn 1
triệu lao động, gấp 7,1 lần so với khu vực kinh tế Nhà nước đặc biệt là lao
động có tay nghề chuyên môn cao. [40, tr. 54].
Trong tổng số lao động đang làm việc tăng lên trong nền kinh tế trong
năm 2010 so với năm 2014 (11.546, 4 nghìn người) thì khu vực kinh tế
Nhà nước tăng 1.100, 3 nghìn người chiếm 10,3%; khu vực ngoài nhà
nước tăng 10. 456, 0 chiếm hơn 78,3 %; Khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài tăng 1. 423, nghìn người chiếm 12,3% [40, tr. 42].
Ngoài việc tạo việc làm cho người lao động, phần lớn các doanh nghiệp
đang phải tự đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao
động làm việc trong các loại hình doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. Hình
thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, nhạy bén như: kèm cặp hướng dẫn, cầm
tay chỉ việc hoặc gửi đào tạo tại các trung tâm dạy nghề, … Bên cạnh đó, để
đứng vững trong cạnh tranh, các doanh nghiệp KTTN phải luôn tìm tòi những

LLSX trên thực tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay. Quá trình này
đang từng bước thúc đẩy LLSX phát triển.
Với việc phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh của KTTN làm
cho quyền làm chủ về kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi người dân được
phát huy. Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động sản xuất kinh

22


doanh mà pháp luật cho phép, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền
tự do kinh doanh đều được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu
tư kinh doanh, tiếp cận các nguồn lực, thông tin thị trường. Quá trình dân
chủ hóa đời sống kinh tế ngày càng mở rộng, đặt ra yêu cầu phải đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế của Nhà nước đối với KTTN sao cho phù hợp với nền
dân chủ XHCN, cũng như góp phần thúc đẩy, nâng cao đời sống văn hóa
tinh thần của toàn xã hội.
* Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân
Để làm rõ quan niệm phát triển KTTN trước hết đi từ quan niệm về phát
triển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam “Phát triển : là phạm trù triết học
chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Không đơn
giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức
là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn
toàn trạng thái đã có” [44, tr.434]… Còn phát triển kinh tế được định
nghĩa như sau “Phát triển kinh tế : là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc
dân bằng sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống dân cư. Đối với các
nước đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình đưa nền kinh tế
chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo và thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấu
kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật, thậm chí kỹ năng quản lý,

vai trò và quan niệm về KTTN, có thể hiểu kinh tế tư nhân trong công nghiệp
và dịch vụ như sau: Kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ là loại hình
kinh tế dựa trên sở hữu toàn bộ hay một bộ phận tư liệu sản xuất trong công
nghiệp và dịch vụ thuộc sở hữu tư nhân, phù hợp với nó là các doanh nghiệp,
các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh tương ứng.
* Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ
ở tỉnh Phú Thọ
Từ quan niệm về phát triển KTTN, KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ nêu trên, có thể hiểu phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh
Phú Thọ: Là hoạt động tích cực của chủ thể nhằm thúc đẩy sự vận động biến đổi
của các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân trong công

24


nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ với sự gia tăng về số lượng, quy mô cùng với
sự dịch chuyển về cơ cấu, trình độ sản xuất kinh doanh theo hướng tiến bộ, hiệu
quả góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Quan niệm về phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh
Phú Thọ được thể hiện trên các nội dung cụ thể như:
Mục đích trước hết và thiết thực phát triển KTTN trong công nghiệp và
dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ đó chính là vấn đề lợi nhuận, thông qua việc huy động có
hiệu quả các nguồn lực của KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ nói riêng và các nguồn lực trong nhân dân ở tỉnh Phú Thọ nhằm nâng cao
hiệu quả vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và loại hình tổ chức sản
xuất kinh doanh của KTTN. Bên cạnh đó, mục đích phát triển KTTN trong công
nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ không chỉ là sự phát triển đơn thuần của
riêng thành phần KTTN, mà sự phát triển đó còn góp phần tạo tạo việc làm,
nâng cao thu nhập cho người lao động; tăng thu ngân sách nhà nước của tỉnh;
thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế và hiện thực hóa các mục tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status