LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN KINH tế tư NHÂN ở QUẬN hà ĐÔNG THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY - Pdf 42

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1

3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở QUẬN HÀ ĐÔNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

12

1.1.

Một số vấn đề chung về kinh tế tư nhân

12

1.2.

Quan niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến phát
triển kinh tế tư nhân ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

1.3.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của một số địa
phương và bài học có thể vận dụng cho quận Hà Đông

Chương 2

40


Mục tiêu và phương hướng cơ bản phát triển kinh tế tư
nhân ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

3.2.

64
64

Giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đến năm 2020

70

KẾT LUẬN

90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

91


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành nhiều chủ trương chính sách tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế nhiều
thành phần, nhất là Thành phần KTTN có điều kiện thuận lợi phát triển. Nhìn
chung Thành phần KTTN đã từng bước có sự phát triển đa dạng gắn với
nhiều loại hình sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ

pháp đồng bộ, phù hợp nhằm phát huy những yếu tố tích cực của thành phần
kinh tế này và hạn chế những tiêu cực của nó trong quá trình phát triển.
Từ các lý do nêu trên, đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân ở quận Hà
Đông thành phố Hà Nội” được chọn để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Trong đó, có những tác giả nghiên cứu với những góc độ, phạm vi khác
nhau. Có thể nêu ra những công trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài như:
- Nguyễn Thanh Tuyền (năm 2000): “Thành phần kinh tế tư bản tư
nhân trong quá trình CNH, HĐH” NXB.CTQG, Hà Nội năm 2000. Đã nhìn
nhận vai trò của nền kinh tế này, gắn với quá trình phát triển kinh tế đất nước
hiện nay.
- GS. TS Hồ Văn Vĩnh (năm 2001), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà
nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta. Đề tài cấp Bộ - Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh; tác giả đã khẳng định vai trò to lớn của kinh tế tư nhân,
nêu ra những định hướng phát triển kinh tế tư nhân và những giải pháp về pháp
luật, về chính sách, về tổ chức để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.
- Hà Huy Thành (năm 2002): “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư
bản tư nhân”. NXB.CTQG, Hà Nội năm 2002. Đã làm rõ vị trí vai trò của các
thành phần kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản tư nhân cùng những giải pháp
thúc đẩy bộ phận kinh tế này phát triển.

4


- Trần Ngọc Bát (năm 2002): “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng
XHCN”. NXB chính trị Quốc Gia, Hà Nội năm 2002. Đã đề cập đến vai trò
của kinh tế tư nhân ở nước ta.
- Phương Hữu Việt (năm 2002): “Phát triển các thành phần kinh tế
những nguyên nhân trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện

vấn đề kinh tế thế giới, tháng 2-2002.
- Nguyễn Thị Tâm (Năm 2002), Tài chính với sự phát triển của khu
vực tư nhân, Tạp chí Tài chính, số 7-2002.
- PGS. TS Nguyễn Huy Oánh (2003), Vai trò của kinh tế tư nhân
trong nền kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế. Bài nghiên cứu đã khẳng định
vai trò quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân (trong đó có các doanh
nghiệp tư nhân) và những yêu cầu, giải pháp để phát huy vai trò của kinh tế
tư nhân đối với nền kinh tế của nước ta.
- TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Năm 2003), Con đường nào cho kinh tế tư
nhân của Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Tài chính, số tháng 4-2003.
Trong công trình này, tác giả đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân, từ đó đề
xuất nhằm tháo gỡ những vướng mắc hiện nay, cho khu vực kinh tế tư nhân.
- TS. Nguyễn Hồng Nhung (Năm 2003), Vai trò của Chính phủ trong
việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước ASEAN, Tạp chí Nghiên
cứu Đông Nam Á, số 3. Trong bài viết, tác giả đã phân tích chính sách hỗ trợ, tác
giả rút ra bốn nhận xét quan trọng trong các chính sách hỗ trợ của các nước này.
- TS Nguyễn Minh Phong (năm 2004), Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà
Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tổng kết sự phát triển của kinh tế tư nhân
trước đổi mới; Vai trò, ý nghĩa của phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nôi. Đặc
biệt nhấn mạnh yêu cầu và tính tất yếu của phát triển kinh tế tư nhân với phát
triển Kinh tế - xã hội ở Hà Nội.
- Nguyễn Thế Quang (Năm 2004), Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội, Tạp
chí Quản lý nhà nước, số 10.
6


- PGS,TS Vũ Văn Phúc (Năm 2005), Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Tác giả đề cập đến quan niệm về kinh tế tư nhân; bản chất kinh tế tư

chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả đã phân tích và làm rõ một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch, đồng
thời tác giả đưa ra phương hướng và các giải pháp cơ bản thúc đẩy phát triển
doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa trong thời gian tới.
- TS.Nghiêm Xuân Đạt, GS.TS Tô Xuân Dân (chủ biên), Phát triển và
quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
Các tác giả đã phân tích làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn, sự cần
thiết phát triển thành phần kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội
trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đồng thời các tác giả đã đề
xuất những giải pháp nhằm tận dụng phát huy lợi thế để phát triển các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu, rộng như hiện nay.
- Phạm Quang Trung (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp ở Hà Nội, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 129 (2008). Tác giả phân
tích và luận giải những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trên địa bàn như: vấn đề khó khăn về vốn và sự hạn chế
trong tiếp cận các nguồn tài chính; nhiều doanh nghiệp trong nhận thức chưa
rõ ràng, còn mơ hồ về xây dựng và phát triển thương hiệu, chưa có chiến lược
Marketing để chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước; đội ngũ cán bộ và
đội ngũ công nhân lành nghề trong nhiều doanh nghiệp còn yếu và thiếu ;
trình độ máy móc, thiết bị, công nghệ rất lạc hậu nên đã ảnh hưởng không nhỏ
đến năng lực cạnh tranh của DN trên địa bàn như: Đa dạng hóa các kênh tài
chính; nâng cao vốn điều lệ của doanh nghiệp; phát triển thương hiệu; xây
dựng và phát triển hệ thống phân phối, thúc đẩy đầu tư phát triển công nghệ.
- Phạm Văn Minh (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở tinh Thải Bình, Luận văn thạc sĩ Kinh tế Chính trị, Học
8




giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội đến năm 2020.
*Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Khái quát hóa và luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và kinh
nghiệm phát triển kinh tế tư nhân ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội thời gian qua;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế
tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội thời gian đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
*Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển kinh tế tư nhân.
*Phạm vi nghiên cứu: về nội dung đề tài tập trung nghiên cứu kinh tế
tư nhân, bao gồm các DNTN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH và Hộ kinh
doanh cá thể; không gian nghiên cứu trên địa bàn quận Hà Đông; thời gian
nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2014, tuy nhiên một số vấn đề phát triển
kinh tế tư nhân trước 2010 cũng được đề cấp xem xét ở mức độ nhất định, để
góp phần làm rõ đối tượng nghiên cứu.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu làm rõ các vấn đề liên quan đến
phát triển KTTN một cách khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể trên địa bàn
quận Hà Đông,thành phố Hà Nội.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các các phương pháp của kinh tế chính trị học
như trừu tượng hóa khoa học, kết hợp với phương pháp lịch sử và logic, gắn
10

của khu vực kinh tế này trong quá trình phát triển của cả nước nói chung, các
tỉnh nói riêng. Để đạt được yêu cầu này, trước hết cần phải làm rõ bản chất và
đặc điểm của KTTN.
Theo C.Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản
ánh đặc trưng của các hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức
tổ chức kinh tế nói riêng, nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và
phân phối kết quả sản xuất. Như vậy, có thể nhận thức rằng KTTN được đặc
trưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên
cứu của Mác và Lê Nin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông lại
thường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa, lao động tư nhân. Nói KTTN TBCN chính là C.Mác nói đến một hình
thức phát triển của KTTN trong thời đại TBCN.
Ở nước ta cho đến nay đã có nhiều quan niệm về KTTN. Có quan niệm
cho rằng KTTN là một thành phần kinh tế, nhưng ý kiến khác lại cho rằng
KTTN là một khu vực kinh tế, một hình thức tổ chức doanh nghiệp hoặc là
khu vực kinh tế dân doanh...
Trong các văn kiện của Đảng ta, KTTN thường được hiểu là một thành
phần kinh tế. Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Nghị quyết hội nghị
12


Trung ương lần thứ sáu (khoá VI) nêu quan niệm: KTTN là đơn vị kinh tế do
những người có vốn, có tài sản lập ra, sản xuất, kinh doanh theo pháp luật, bao
gồm các hình thức xí nghiệp tư doanh, công ty hợp doanh, công ty cổ phần...
Trong văn kiện Đại hội X của Đảng, KTTN được hiểu bao gồm kinh tế
cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Trong văn kiện có đoạn viết:
“Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo
sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể và tiểu chủ có
phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn ở những đơn vị chưa có điều kiện tổ
chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường

toàn bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc về tư nhân và lao động làm thuê,
người chủ chiếm đoạt giá trị thăng dư do công nhân sáng tạo ra [34, tr.21 - 25].
Về hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, KTTN bao gồm doanh nghiệp tư
nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống
chế). Quan niệm KTTN như vậy đã không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể.
Trong các thuộc tính để xác định KTTN, ngoài quan niệm sở hữu đối với tư
liệu sản xuất còn có các quan niệm về thuê mướn lao động, có bóc lột.
Loại ý kiến thứ hai cho rằng “KTTN gồm các đơn vị kinh tế mà phần
lớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (nhưng do một
hay một nhóm tư nhân nắm cổ phiếu khống chế, chi phối), thuê lao động sản
xuất kinh doanh” [34, tr.16]. Những người theo loại ý kiến này cho rằng
không nên phân biệt tư nhân với cá thể vì không thể lấy tiêu chuẩn có tham
gia lao động trực tiếp hay không bóc lột. Ngoài ra, lý do chính mà trước đây
cần có sự phân biệt như vậy là để “cải tạo tư sản” và phân biệt đối xử trong
chính sách, nhưng hiện nay như vậy là không có lợi. Hơn nữa cơ sở để xác
định KTTN hay loại hình kinh tế nào không chỉ căn cứ vào sở hữu tư liệu sản
xuất, mà còn phải tính đến cả sở hữu vốn và tài sản kể cả những thứ chưa
thành tư liệu sản xuất nhưng có thể đưa vào sản xuất [34, tr.21].
Loại ý kiến thứ ba cho rằng, KTTN bao gồm các công ty, doanh nghiệp
tư nhân và các cơ sở kinh tế cá thể. Nó còn bao gồm cả các hợp tác xã do tư
14


nhân đội lốt, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài [14, tr.3 - 6], hoặc bao gồm
kinh tế gia đình, tiểu chủ và tiểu tư nhân có phân biệt theo giá trị tài sản và số
lao động làm thuê [6, tr.23]. Nghĩa là, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế
dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hoặc sở hữu tư nhân chiếm ưu thế,
không bao gồm các hợp tác xã đích thực.
Loại ý kiến thứ tư, KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh
tế nhà nước (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình).

chức thực tiễn khu vực KTTN còn gặp không ít khó khăn, lúng túng, kém hiệu
quả.
Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, nền kinh tế được phân chia
thành hai khu vực chủ yếu là khu vực KTTN và khu vực kinh tế nhà nước.
Khu vực kinh tế nhà nước do nhà nước là chủ sở hữu (hoặc có tỷ lệ cổ phần
khống chế) nên nhà nước có thể chi phối và kiểm soát trực tiếp hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khu vực KTTN là phần còn lại ngoài khu
vực nhà nước. Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng đươc chia ra thành
hai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập
thể) và kinh tế phi công hữu (bao gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài); tức là KTTN là một khu vực kinh tế phi công hữu. Những sự phân
chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và vốn.
Trong nền kinh tế các nước hiện nay, sự đan xen sở hữu khu vực kinh
tế nhà nước và KTTN làm cho sự phận loại thêm phức tạp. Trong các công ty
hỗn hợp, khu vực tư nhân được xác định dựa vào tỷ lệ vốn khống chế thuộc
về tư nhân. Tỷ lệ vốn đó tuỳ thuộc vào điều kiện mỗi nước và có thể dao động
từ 18 - 40%, không nhất thiết phải trên 50%.
Qua những phân tích trên, căn cứ vào quá trình ra đời và phát triển của
quan hệ sản xuất theo đó là quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân
phối sản phẩm, có thể hiểu KTTN là loại hình kinh tế ra đời và phát triển trên
cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và vốn, tồn tại dưới nhiều
hình thức tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu mà nó
16


đại diện.
KTTN đã từng tồn tại lâu dài qua những biến đổi của các hình thái kinh
tế - xã hội trong lịch sử. Nó chứng tỏ có một sức sống mạnh mẽ đã vượt qua
những thử thách để tồn tại và phát triển lâu dài. Trong nền kinh tế ở nước ta,
KTTN tồn tại chủ yếu dưới ba hình thức: Kinh tế cá thể, Kinh tế tiểu chủ và

sở hữu tư nhân về TLSX và thuê mướn lao động. Qui luật chi phối hoạt
động của doanh nghiệp tư nhân là các qui luật kinh tế thị trường.
Kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tiểu chủ giống nhau ở chỗ: cùng thuê
mướn lao động, lao động làm thuê tạo ra một lượng giá trị thặng dư nhất
định cho người chủ. Như vậy, tiêu chí chung để xác định một ông chủ là tư
bản ở chỗ: họ có thuê mướn nhân công và bóc lột giá trị thặng dư do lao
động làm thuê tạo ra. Nhưng không phải bất cứ người nào thuê mướn lao
động cũng trở thành nhà tư bản. Sự phân biệt giữa nhà tư bản và người tiểu
chủ được thể hiện ở chỗ: khi người chủ còn trực tiếp tham gia lao động và
chưa phải là chủ của một số tiền nhất định đủ để:
- Mua các tư liệu sản xuất cần thiết.
- Thuê sức lao động để hoạt động sản xuất, kinh doanh và lợi nhuận họ
thu được phải đủ đảm bảo cho gia đình và bản thân họ có mức sống cao trong
xã hội; có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, thì họ vẫn là người tiểu chủ.
Như vậy, kinh tế tiểu chủ khác với kinh tế tư bản tư nhân ở chỗ: Người
chủ sở hữu tư liệu sản xuất vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Bản
thân họ và các thành viên trong gia đình vẫn là lực lượng lao động chính trong
mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Số lao động làm thuê không nhiều và giá
trị thặng dư do lao động tạo ra ở mức độ nhất định. Quy mô vốn đầu tư thấp
hơn so với kinh tế tư bản tư nhân. Do đó, mặc dù có thuê lao động nhưng
nguồn thu nhập của kinh tế tiểu chủ vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động của
bản thân và gia đình người chủ. Trong khi đó, kinh tế tư bản tư nhân có khả
năng phát triển, thu nhiều giá trị thặng dư và tạo điều kiện để tích luỹ tư bản.
Thứ hai, về quan hệ tổ chức và quản lý quá trình sản xuất
Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ: Các thành viên trong gia đình có nghĩa
18


vụ phục tùng sự phân công, điều khiển của người chủ đối với các vấn đề sản
xuất, kinh doanh. Quan hệ giữa người chủ gia đình với các thành viên trong

Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta, nhận thức và quan niệm về phạm trù "bóc lột" trong
kinh tế tư bản tư nhân cần đầy đủ hơn ngoài tính chất tiêu cực của phạm trù bóc
lột. Cần bổ sung thêm tính chất tích cực của phạm trù "bóc lột" theo nghĩa
người bị bóc lột cũng có lợi. Nghĩa là người công nhân làm thuê trong bộ phận
kinh tế tư bản tư nhân cũng đem lại thu nhập và thông qua đó có thể trực tiếp
hay gián tiếp học tập được các kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh, kỹ
năng, trình độ tay nghề, có thể nói, đó là việc hy sinh lợi ích trước mắt nhỏ hơn,
vì lợi ích lâu dài lớn hơn trong tương lai.
1.1.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
Trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay, phát triển KTTN ở Việt
Nam có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, phát triển KTTN trong điều kiện tự do hoá tài chính, thương
mại diễn ra mạnh mẽ, thuận lợi cho trong việc thu hút các nguồn vốn.
Ngày nay, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu vực hội nhập
kinh tế, các hiệp định thương mại song phương, đa phương... đã từng bước xoá
bỏ những hàng rào ngăn cách các thị trường quốc gia, tạo ra những thị trường
rộng lớn chưa từng có đối với các doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp tư
nhân). Và quá trình này sẽ còn tiếp tục với xu hướng ngày càng rộng mở tiến
đến một thị trường thống nhất. Điều này đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển
mở rộng của các hoạt động thương mại, làm cho các dòng hàng hoá, dịch vụ
luân chuyển vòng quanh thế giới một cách dễ dàng và thuận lợi.
Song song với việc bãi bỏ các rào cản thương mại là quá trình toàn cầu
hoá tài chính diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển theo chiều sâu, sự bùng nổ và phát
triển của thị trường tài chính gắn liền với sự xuất hiện của một loạt các công cụ
mới trong thanh toán giao dịch. Việc bãi bỏ ngày càng tăng các biện pháp quản
20




tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hoá trên cơ
sở công nghệ vi điện tử... Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ diễn ra
trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang trong quá trình hội nhập, liên kết, hợp
tác chặt chẽ giữa các nền kinh tế quốc gia trên toàn thế giới để đi đến một thị
trường chung thống nhất (trong đó có thị trường khoa học công nghệ). Điều này
đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở mỗi quốc gia, trong đó có các doanh
nghiệp kinh tế tư nhân, có thể tiếp cận được các khoa học công nghệ mới và hiện
đại một cách nhanh chóng dễ dàng hơn, chủ yếu thông qua quá trình liên doanh
liên kết, hợp tác cùng phát triển. Một trong những biểu hiện của quá trình nay là
sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào nền kinh tế của các quốc
gia. Đông thời với quá trình này là quá trình chuyển giao khoa học - công nghệ,
kinh nghiệm quản lý… Điều này đặc biệt có lợi cho sự phát triển của các quốc
gia kém và đang phát triển.
Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân trong điều kiện thị trường đã và đang
được quốc tế hoá với tính cạnh tranh ngày càng cao.
Ngày nay, quá trình quốc tế hoá về kinh tế gắn liền với sự hình thành của
các thị trường liên quốc gia. Nền kinh tế thế giới càng phát triển thì nhu cầu về
thị trường nguyên liệu ngày càng trở nên quan trọng, phân công lao động ngày
càng sâu sắc, các bộ phận, các thị trường ngày càng gắn bó và phụ thuộc chặt
chẽ vào nhau. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nên sự gắn kết giữa các
nền kinh tế quốc gia riêng rẽ trên cơ sở của một cơ chế thống nhất cho việc xử lý
các mối quan hệ kinh tế, đó là cơ chế thị trường. Có thể nói rằng ngày nay nền
kinh tế thế giới thống nhất ở cơ chế vận hành: cơ chế thị trường. Đây chính là cơ
sở cho sự gia tăng xu thế liên kết giữa các thị trường quốc gia riêng rẽ, tiến tới
một thị trường chung rộng lớn và thống nhất. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
mở cửa thị trường này cùng với sự phát triển công nghiệp hoá ngày càng tăng
của phần lớn các quốc gia trên thế giới cũng là một nguyên nhân quan trọng tạo
ra sự gia tăng đáng kể các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên thị trường thế
22

23


động trong gia đình. Loại hình này gần đây phát triển rất nhanh, một phần vì nó
phù hợp với nhiều ngành nghề, một phần vì nó không cần lượng vốn lớn.
* Kinh tế tư bản tư nhân
Bao gồm các doanh nghiệp được hoạt động theo quy định của nhà nước,
mà ở đó không có vốn đầu tư của nhà nước và nước ngoài.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh [26, tr.174]. Theo quy định của pháp luật, người muốn thành lập doanh
nghiệp tư nhân phải có một số vốn nhất định, số vốn này không được thấp hơn
số vốn quy định đối với từng ngành nghề kinh doanh. Trong quá trình hoạt
động có thể được thuê mướn lao động, kể cả thuê người khác quản lý, điều
hành doanh nghiệp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn: là loại hình doanh nghiệp trong đó, các
thành viên là tư nhân cùng góp vốn để thực hiện việc kinh doanh, cùng chia sẻ
lợi nhuận, cũng chịu lỗ theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp của mình.
Theo điều 38, Luật Doanh nghiệp (2005) quy định: Công ty trách nhiệm
hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó: thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số
lượng thành viên không quá 50 người, thành viên chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam
kết góp vào doanh nghiệp; phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển
nhượng theo quy định của luật [26, tr.48].
- Công ty cổ phần: theo điều 77 Luật Doanh nghiệp quy định “Công ty
cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức hay cá nhân, số lượng cổ đông
tối thiểu là ba, không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn

góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Hà Đông.
Quan niệm trên thể hiện một số nội hàm sau:
Mục tiêu phát triển KTTN ở quận Hà Đông nhằm làm gia tăng cả về
25


quy mô, số lượng, trình độ, chất lượng các yếu tố cấu thành và hoàn thiện cơ
cấu KTTN, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Quận.
Chủ thể phát triển KTTN trên địa bàn Quận là Cấp ủy, chính quyền, các
tổ chức chính trị - xã hội, các chủ thể KTTN ở quận Hà Đông và các phường,
xã, cơ sở ở địa phương; các tổ chức cấp trên có vai trò gián tiếp tác động như
các cơ quan ở Trung ương và Thành phố Hà Nội... Trong đó, chủ thể trực tiếp
là các chủ thể nắm quyền sở hữu, quản lý các loại hình tổ chức KTTN trên địa
bàn Quận.
Phương thức phát triển KTTN ở quận Hà Đông là thúc đẩy sự phát
triển của KTTT, khuyến khích kinh tế nhiều thành phần phát triển trong môi
trường vừa hợp tác, vừa cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật; đồng thời cơ
quan quản lý nhà nước các cấp có những chính sách cụ thể, phù hợp để hỗ trợ,
điều tiết, định hướng sự phát triển KTTN theo mục tiêu nhất định.
1.2.2. Nội dung phát triển kinh tế tư nhân ở quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội
Để phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường, cần chú trọng
các nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, gia tăng quy mô và số lượng các chủ thể KTTN.
Gia tăng quy mô trước hết là vốn - yếu tố đầu vào quyết định đối với sự
tăng trưởng phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nước ta chuyển sang
nền kinh tế thị trường trong điều kiện hiện sức khó khăn, đặc biệt là khu vực
KTTN, sau một thời gian dài bị xã hội kỳ thị và phân biệt đối xử thì đến này mặc
dù KTTN đã có bước phát triển vượt bậc về số lượng nhưng đa phần đều là các
doanh nghiệp rất nhỏ, nhỏ và vừa với nguồn vốn kinh doanh nhỏ và thiếu. Hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status