MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hợp tác lao động là xu thế tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế
của lao động cá thể và tăng sức sản xuất của lao động tập thể. Nhưng hợp
tác lao động chỉ phát huy được ưu thế một khi được diễn ra theo đúng yêu
cầu phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hóa lao động.
Thực tế trong thời gian qua, mô hình hợp tác xã cũ trước đây đã
không còn phù hợp, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu về kinh tế
hợp tác để tìm ra những hình thức mới, những nhân tố mới cũng như đề ra
được những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh và vững chắc
kinh tế hợp tác, qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất hàng hóa
theo định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần xây dựng nông thôn mới.
Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua
cũng như các vùng khác trong cả nước đã xuất hiện những hình thức hợp
tác mới, vừa mang đặc điểm chung vừa có tính đặc thù của các huyện ven
thành phố lớn. Do đó, cần phải tổng kết nhằm phát hiện ra những mô hình
kinh tế hợp tác thích hợp, đề ra phương hướng và các giải pháp đổi mới
nhằm góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp ở thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Xuất phát từ yêu cầu đó tác giả
đã chọn đề tài "Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ
Chí Minh, thực trạng và giải pháp" làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề kinh tế hợp tác đã có nhiều công trình nghiên cứu của các
tác giả như: Giáo sư, Viện sĩ Đào Thế Tuấn với tác phẩm "Khảo sát các hình
thức tổ chức hợp tác của nông dân ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1995; Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Thế Tùng "Việc thực hiện khoán 10
- những vấn đề đặt ra và giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 3/1991;
1
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu khảo sát tình hình phát triển
kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ
Chí Minh như: Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ từ năm
1986 đến nay (mà chủ yếu là năm 1997 đến nay).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bản luận văn này tác giả chủ yếu kết hợp sử dụng phương
pháp biện chứng lịch sử với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và
khảo sát thực tế trên địa bàn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm
ra những hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp phù hợp với điều
kiện kinh tế ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh.
6. Đóng góp mới của luận văn
Tìm ra các giải pháp phát triển hợp tác trong nông nghiệp phù hợp
đặc thù ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở
Việt Nam nói chung.
VII. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương.
3
Chương 1
TÍNH TẤT YẾU VÀ NHỮNG NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA KINH TẾ HỢP TÁC TRONG NÔNG
NGHIỆP
tổ chức, hợp tác gắn bó chặt chẽ giữa người lao động với đối tượng sản
xuất nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu sinh trưởng của cây trồng, vật
nuôi.
Thứ hai: Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quá trình lao động
và quá trình sản xuất phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều khâu kế tiếp nhau
và không trùng hợp nhau về thời gian. Hoạt động sản xuất trong nông
nghiệp mang tính thời vụ rõ rệt. Đặc điểm này quy định sản xuất nông
nghiệp có thể tổ chức sản xuất theo mô hình của các hộ nông dân, bởi vì
kiểu tổ chức sản xuất dựa trên hộ nông dân là kiểu tổ chức năng động, linh
hoạt, cho phép sử dụng hợp lý mọi nguồn lực sản xuất nông nghiệp. Lịch
sử phát triển của phương thức sản xuất TBCN và sự phát triển nông nghiệp
của thế giới đã cho thấy CNTB khi đã tạo được nền đại công nghiệp cũng
không công nghiệp hóa nghề nông theo con đường mà họ đã làm đối với
công nghiệp, không xây dựng trong nông nghiệp những xí nghiệp lớn trên
cơ sở chuyên môn hóa lao động mà vẫn duy trì các hình thức hợp tác dựa
trên cơ sở hộ nông dân. Trong CNTB hộ nông dân vẫn là chủ thể kinh
doanh, vẫn là sự dung hợp giữa nghề nông với phương thức kinh doanh
hiện đại. Do gắn bó với ruộng đất và đối tượng sản xuất, người nông dân
thực sự am hiểu quá trình sinh trưởng cây trồng, vật nuôi. Người nông dân
lại là chủ thể quá trình canh tác, trực tiếp tổ chức thực hiện, gắn trách
nhiệm với toàn bộ quá trình canh tác từ đầu cho đến khi kết thúc. Lợi ích
kinh tế là cơ sở, là cái quyết định sự gắn bó của họ với tư cách vừa là chủ
thể canh tác, vừa là chủ thể kinh tế và cũng là cơ sở cho các hình thức kinh
tế hợp tác trong nông nghiệp. Do đó, để không ngừng nâng cao hiệu quả
5
của hợp tác lao động trong nông nghiệp, chúng ta phải chú trọng lợi ích
kinh tế, tôn trọng tính tự chủ của nông hộ, đặc biệt là những khâu gắn liền
với quá trình sinh học.
(TLSX) đặc biệt không thể thay thế được. Ruộng đất vừa là vật chịu tác
động của lao động, vừa là vật truyền dẫn lao động của con người đến cây
trồng. Mặt khác, ruộng đất cũng là không gian rộng lớn mà ở đó con người
tổ chức các quá trình lao động sản xuất và chịu tác động trực tiếp của điều
kiện tự nhiên như mưa, nắng, bão tố... vì thế hoạt động nông nghiệp mang
tính đa dạng, không có một mô hình kinh tế hợp tác cụ thể nào phù hợp cho
tất cả mọi vùng, mọi địa phương. Hơn nữa, ruộng đất lại là một loại TLSX
đặc biệt (vì đất đai là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người, đất
đai lại là TLSX không thể sinh sôi nảy nở), do đó, quá trình phát triển sản
xuất cũng là quá trình bảo tồn ruộng đất và làm cho độ phì nhiêu của đất
không ngừng được nâng lên. Để thực hiện được yêu cầu này, quá trình sản
xuất nông nghiệp cũng là quá trình bắt buộc phải tổ chức hợp tác giữa
những người nông dân trong việc chống các tai họa của thiên nhiên làm
hao tổn và xói mòn ruộng đất.
Như vậy, nhu cầu hợp tác trong quá trình sản xuất nông nghiệp là
có thật, bắt nguồn từ yêu cầu hiệu quả trong sản xuất. Các mô hình sản xuất
hợp tác nông nghiệp kiểu cũ trước đây không phát huy được ưu thế của hợp
tác lao động, lại còn thua kém cả lao động cá thể vì không tôn trọng tính tự
chủ và lợi ích thiết thân của nông hộ, không tạo ra những điều kiện cơ bản
để phát huy ưu thế của hợp tác lao động và không tuân thủ những nguyên
tắc khi tiến hành hợp tác hóa. Hợp tác lao động thực chất là một cuộc cách
mạng về tổ chức lao động nhưng hợp tác lao động chỉ phát huy được ưu thế
hơn lao động cá thể khi nó tuân thủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, muốn tổ chức hợp tác lao động có hiệu quả, các hộ nông
dân - thành viên của tổ chức kinh tế hợp tác - phải thấy rõ lợi ích kinh tế do
sự hợp tác mang lại, họ tự nguyện gia nhập vì lợi ích của chính bản thân
họ.
7
8
1.2.1. Sự phát triển của kinh tế hộ và yêu cầu cấp thiết phải
phát triển kinh tế hợp tác kiểu mới trong nông nghiệp ngoại thành
thành phố Hồ Chí Minh
Kinh tế hộ được hiểu theo những cách khác nhau, nhưng nhiều
người đồng ý: hộ gia đình nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
nông nghiệp và nông thôn, đã từng tồn tại từ lâu ở các nước nông nghiệp.
Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết
tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân
quỹ [13, 9].
Dưới ánh sáng Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là sau khi có Nghị
quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 thì hộ nông dân đã trở thành đơn
vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Mỗi hộ có quyền tự quyết định mục tiêu và
quá trình sản xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ với thị trường khi có sản
phẩm hàng hóa, tự hạch toán, lời ăn lỗ chịu... chính sự công nhận hộ nông
dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động theo những nội dung trên đã
làm cho các hợp tác xã kiểu cũ hầu như mất dần tác dụng. Trước đây, trong
hợp tác xã cũ hộ gia đình tuy chỉ chiếm 5% ruộng đất nhưng lại đảm bảo
đến 60 - 70% nguồn sống. Điều đó cho thấy, khi các hộ nông dân trở thành
các đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế hộ nông dân có điều kiện phát huy tối
đa thế mạnh của mình để phát triển sản xuất. Từ khi có đường lối đổi mới,
sự phát triển kinh tế hộ ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đã
góp phần tạo ra những biến đổi to lớn trong năng suất lao động nông
nghiệp và trong đời sống của nông dân và nông thôn.
— Về năng suất: Năng suất thâm canh lúa đông xuân tăng lên từ
33,2 tạ/ ha năm 1997 tăng lên 33,5 tạ/ha, năm 1998 và 1999 là 34,2 tạ/ha.
Để có được những thay đổi trên là do nhiều nguyên nhân tác động
nhưng nổi bật là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
1998
1999
Nội thành
452.836
497.840
519.304
552.280
Ngoại thành
312.256
334.042
362.242
376.021
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1999.
10
Ngoài ra, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở ngoại
13,8%
- Bếp ga - điện
9,2%
15,4%
- Điện thoại
2,6%
6,8%
- Xe máy
55%
63,9%
- Nhà ở kiên cố
9,8%
- Bán kiên cố
65%
- Nhà tranh
hay các quận nội thành với thu nhập cao ngày càng nhiều. Tình trạng thiếu
lực lượng lao động trẻ, có trình độ trong nông nghiệp ở các huyện ngoại
thành hiện nay đang là vấn đề bức xúc.
+ Phần lớn các huyện ngoại thành là vùng sâu, vùng xa, do đó quy mô
thị trường nhỏ hẹp, có nơi hệ thống giao thông chưa được phát triển như Cần
Giờ, Nhà Bè..., trình độ văn hóa của đại đa số hộ nông dân còn thấp là nguyên
nhân cản trở việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào sản
xuất. Cho nên sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều
khó khăn và thường là bị tư thương ép giá, người nông dân bị nhiều thiệt thòi.
Từ sự trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, kinh tế hộ nông dân
ngoại thành trong quá trình đổi mới đã không ngừng phát huy những ưu thế
12
của mình để phát triển sản xuất, họ đã cùng với nhân dân thành phố tạo ra
một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, thực sự là động lực thúc đẩy quá
trình phát triển kinh tế thành phố nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng.
Việc phát triển kinh tế hộ là một hướng đi hợp quy luật, góp phần thúc đẩy
việc khai thác các tiềm năng sẵn có, phát huy nội lực để phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).
Tuy nhiên, kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển đi lên cũng gặp
nhiều khó khăn, hạn chế. Để khắc phục những khó khăn đó kinh tế hộ nông
dân chỉ có con đường đi vào hợp tác để cùng nhau phát huy thế mạnh của
lao động tập thể, khắc phục những nhược điểm của lao động cá thể nhằm
phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần thúc đẩy kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Đó là một xu thế tất yếu khách quan và cũng là con
đường tốt nhất giúp kinh tế hộ vượt qua những khó khăn, tiến hành sản
xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế thị trường hiện
nay.
Hai là, kinh tế hợp tác lại bao gồm cả những đơn vị kinh tế hợp tác
xã do những chủ thể kinh doanh độc lập tự nguyện góp vốn, góp sức cùng
kinh doanh. Loại hình này được tổ chức chặt chẽ, có vốn chung và đủ tư
cách pháp nhân, có điều lệ riêng, hoạt động theo Luật hợp tác xã. Tuy có sự
khác nhau về qui mô, trình độ và tính chất, nhưng nhìn chung cơ sở kinh tế
đầu tiên hình thành nên loại hình kinh tế này chủ yếu là vốn cổ phần, chứ
không phải là công hữu hóa các tài sản. Các cổ đông là người chủ sở hữu
cổ phần của mình, nhưng cùng làm chủ toàn bộ nguồn vốn cổ phần được tạo
nên vào mục đích kinh doanh. Việc phân phối cho các hộ cổ đông phải căn
cứ vào số lượng cổ phần, công đóng góp và số lượng dịch vụ sử dụng của
hợp tác xã mà các hộ thành viên sử dụng.
Ba là, nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh
tế hợp tác là không bao trùm lên toàn bộ hoạt động kinh tế của các hộ xã
viên mà chỉ tập trung vào những khâu, những lĩnh vực đòi hỏi phải có sức
14
mạnh tập thể mới có hiệu quả, còn những khâu, những lĩnh vực, kinh tế hộ
hoạt động có hiệu quả hơn thì các hộ tự tổ chức làm.
Bốn là, các hình thức kinh tế hợp tác là những đơn vị kinh tế tự chủ
hoạt động theo pháp luật và chính sách của nhà nước và không có cấp trên
trực tiếp. Đối với loại hình có tổ chức ổn định, có tư cách pháp nhân, thì đại
hội các cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định phương hướng
kinh doanh, điều lệ hợp tác xã, số lượng góp vốn cổ phần tối thiểu, cách
thức quản lý, phân phối và bầu ra Ban Quản trị hợp tác xã.
Năm là, các tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động không bị giới hạn bởi
địa giới hành chính, được tự do đăng ký kinh doanh, tự chịu trách nhiệm
vật chất trước các thành viên và pháp luật. Có quyền bình đẳng với các
thành viên kinh tế khác về quyền hạn, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật.
tùy theo quy định của đại hội xã viên người góp vốn có thể rút vốn khi thấy
hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả. Người có nhiều vốn có thể tham gia
nhiều hợp tác xã. Việc phân phối lợi nhuận do xã viên tự nguyện góp vốn
quyết định. Ngoài việc đóng góp đầy đủ nghĩa vụ thuế và các khoản chi
khác cho nhà nước, phần còn lại do hợp tác xã chủ động xử lý. Các quan hệ
giữa hộ với hợp tác xã và giữa các hợp tác xã với nhau trở nên phong phú,
nhưng đều thực hiện trên nguyên tắc "thuận mua vừa bán".
Thứ ba: Hợp tác xã kiểu mới ra đời là xuất phát từ yêu cầu thực tế
trong sản xuất của hộ nông dân. Hoạt động của hợp tác xã chỉ là nhằm giúp
đỡ tháo gỡ những khó khăn mà hộ nông dân không thể giải quyết một cách
có hiệu quả. Do đó, hợp tác xã chỉ đảm nhận một số khâu trong quá trình
sản xuất của kinh tế hộ mà thôi. Vì thế, hợp tác xã mới là một đơn vị kinh
tế tự chủ, không làm chức năng của một tổ chức xã hội hay làm chức năng
hành chính ở địa phương.
Còn các hợp tác xã kiểu cũ là một tổ chức không phải chỉ để hoạt
động về kinh tế mà còn là một đơn vị quản lý hành chính xã hội. Trong sản
xuất hợp tác xã là người chỉ đạo các khâu của quá trình sản xuất và là
16
người nắm ba quyền cơ bản (sở hữu về tư liệu sản xuất, về quản lý và phân
phối).
Như vậy, sự ra đời của kinh tế hợp tác xã kiểu mới là một xu thế tất
yếu, do nhu cầu phát triển của kinh tế hộ trong nền kinh tế thị trường và
kinh tế hợp tác hoạt động với tính chất, nội dung hoàn toàn mới so với mô
hình cũ trước đó. Cũng vì nhu cầu bức xúc cần phải có sự hợp tác với nhau
giữa các hộ nông dân là cơ sở quyết định để cho kinh tế hợp tác kiểu mới ra
đời, nên mỗi vùng, mỗi địa phương kinh tế hợp tác ra đời và phát triển khác
nhau do có nhiều nhân tố khác nhau tác động
sớm muộn cũng sẽ bị thất bại, nhiều khi còn đem lại những thiệt hại to lớn.
Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy rằng, kinh tế hợp tác được hình
thành một cách khách quan do tác động bởi các nhân tố chủ yếu sau:
1.3.1. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế hợp tác cho thấy, khi lực
lượng sản xuất chưa phát triển thì mức độ, cũng như nhu cầu hình thành và
phát triển kinh tế hợp tác thấp, còn khi lực lượng sản xuất đã phát triển thì
mức độ cũng như nhu cầu phát triển sẽ được mở rộng.
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, tư liệu sản xuất còn thô sơ,
sự tác động của thị trường chưa cao, người nông dân sản xuất chủ yếu là
nhằm mục đích tự cung, tự cấp do đó chưa có nhu cầu hợp tác sản xuất
(nếu có thì mức độ thấp và qui mô nhỏ bé). Nhưng khi lực lượng sản xuất
đã được phát triển, tư liệu sản xuất được cải tiến từ đơn giản, thô sơ lên cơ
khí, máy móc..., khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản
xuất tăng lên, thị trường ngày càng mở rộng và sự tác động của các quy
luật kinh tế của nền kinh tế thị trường cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Điều đó
đã đặt những người sản xuất cá thể trong ngành nông nghiệp trước hai
con đường:
Một là, họ sẽ bị phá sản nếu không thích ứng kịp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất.
18
Hai là, các hộ nông dân phải hợp tác với nhau để khắc phục những
hạn chế của từng cá nhân, phát huy ưu thế của hợp tác lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến lượt nó lại tạo điều kiện
đòi hỏi mức độ hợp tác tăng lên và hình thức hợp tác được phát triển đa
dạng, phong phú. Nếu trước đây lực lượng sản xuất chưa phát triển thì mức
độ hợp tác chỉ nằm ở một số khâu của quá trình sản xuất (như hợp tác về
dụng được
- Tác dụng cho nhiều thửa ruộng,
- Tác dụng trên từng thửa ruộng
thậm chí cho nhiều thôn xã, cần
nhỏ hẹp
điều hòa phối hợp
- Tưới tiêu theo yêu cầu thâm canh
- Kỹ thuật tưới tiêu đơn giản, úng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
thì tát bớt, hạn thì tát thêm
- KL: một người, một hộ không
19
- KL: Mỗi gia đình có thể đảm
thể đảm nhận tốt nên xuất hiện yêu
nhận, không có nhu cầu hình
Đây chính là nhân tố có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của kinh
tế hợp tác cả về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn. Bởi lẽ, sự định hướng
của Nhà nước ở tầm vĩ mô vừa là sự định hướng, vừa là sự hỗ trợ tạo điều
kiện để cho các thành phần kinh tế hoạt động một cách có hiệu quả nói
chung, để cho kinh tế hợp tác phát triển nói riêng.
20
Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm, chú ý đến việc xây dựng và
phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã và Đảng ta coi đó là con đường tốt
nhất để đưa nông dân thoát khỏi đói nghèo. Vì vậy, các chính sách, các
quyết định của Nhà nước về thuế, về giá, về đào tạo cán bộ, về giao quyền
sử dụng đất lâu dài cho nông dân... là những tác động ở tầm vĩ mô để tạo
cho người dân yên tâm sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần ổn định
đời sống và xây dựng nông thôn mới.
Thực tế cho thấy ở đâu, ở địa phương nào chính quyền quan tâm,
giúp đỡ thì ở đó phong trào kinh tế hợp tác sẽ được phát triển mạnh mẽ,
ngược lại, phong trào gặp khó khăn. Đặc biệt khi cả nước đang ra sức thực
hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thì việc phát triển kinh
tế hợp tác trong nông nghiệp lại càng có ý nghĩa quan trọng, vai trò hướng
dẫn cùng với các chính sách hỗ trợ của nhà nước ở tầm vĩ mô càng không
thể thiếu.
Vai trò của Đảng và Nhà nước đối với phong trào hợp tác thể hiện
ở:
+ Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của người nông dân trong việc
hợp tác cũng như trong việc thành lập hợp tác xã.
+ Hỗ trợ nông dân xây dựng những hợp tác xã đa dạng cả về hình
thức, qui mô cũng như cả về trình độ.
+ Xây dựng các chính sách kinh tế đối với nông nghiệp và hợp tác
• Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế hợp tác và hợp tác
xã chưa được phổ biến rộng rãi ở nông thôn.
• Do trình độ học vấn của người nông dân còn thấp (thậm chí có
người không biết chữ.)
22
• Do sự thiếu quan tâm của các cấp chính quyền địa phương trong
việc tổ chức, hướng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ (đặc biệt trong việc đào tạo
cán bộ) để hộ nông dân có điều kiện phát triển kinh tế hợp tác.
• Hộ nông dân nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa
cách trung tâm thành phố thường thiếu các thông tin có liên quan đến lĩnh
vực nông nghiệp, đến kinh nghiệm phát triển kinh tế hợp tác cũng như các
mô hình kinh tế hợp tác có hiệu quả.
• Một bộ phận nông dân thiếu niềm tin về kinh tế hợp tác do bị ảnh
hưởng của phong trào hợp tác hóa cũ trước đây, họ sợ vào hợp tác xã sẽ bị
tập thể hóa về tư liệu sản xuất...
Kinh tế hợp tác có thể ra đời, tồn tại và phát triển được hay không
là do các hộ nông dân quyết định. Do đó, việc hướng dẫn giúp đỡ và tạo
điều kiện cho người nông dân hiểu và thấy được những ưu thế của kinh tế
hợp tác cũng như chỉ ra hợp tác lao động là con đường để người nông dân
vượt qua được những hạn chế của lao động cá thể, khắc phục được những
tác động xấu của nền kinh tế thị trường là một yêu cầu cấp thiết và có ý
nghĩa to lớn trong việc thực hiện tốt đường lối phát triển nông nghiệp, nông
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI
Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là thành phố) trong địa giới hiện
nay bao gồm thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn
trước đây.
Thành phố Hồ Chí Minh ở vào 10038’-110 vĩ Bắc và 106022’-186024’
kinh Đông; diện tích tự nhiên: 2093,7 km 2 trong đó khu vực nội thành rộng
440 km2, ngoại thành rộng 1.653,7km2. Thành phố Hồ Chí Minh có 1 hải
cảng quan trọng, cảng sông Sài Gòn có độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển
có trọng tải trên 30.000 tấn. Có một hệ thống sông đi từ thành phố lên miền
Đông, xuống miền Tây và sang Campuchia. Thành phố Hồ Chí Minh là
đầu mối đường bộ với khu vực Đông Dương. Ngoài ra thành phố còn có
sân bay Tân Sơn Nhất cách trung tâm 7 km.
Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhiệt độ
trung bình 27,3 0C; lượng mưa bình quân hàng năm là 1879 mm; thời tiết
thuận hòa, ít bão, ít ngập lụt là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuấtkinh doanh.
Theo quyết định số 03 QĐ/CP ngày 6/1/1997 của Chính phủ về việc
thành lập các quận mới ở thành phố Hồ Chí Minh, thì hiện nay thành phố
Hồ Chí Minh có 17 quận và 5 huyện ngoại thành bao gồm: Huyện Bình
Chánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn và Nhà Bè (số liệu cụ thể xin xem bảng
biểu số 6 phần phụ lục).
- Về tự nhiên: Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh xét
về địa giới hành chính là những huyện nằm ở vùng ven của trung tâm thành
25