Header Page 1 of 166.
LUẬN VĂN:
Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành
thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và
giải pháp
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
Mở Đầu
1. Sự cần thiết của đề tài
Hợp tác lao động là xu thế tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế của lao động
cá thể và tăng sức sản xuất của lao động tập thể. Nhưng hợp tác lao động chỉ phát huy
được ưu thế một khi được diễn ra theo đúng yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất và
xã hội hóa lao động.
Thực tế trong thời gian qua, mô hình hợp tác xã cũ trước đây đã không còn phù hợp,
đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu về kinh tế hợp tác để tìm ra những hình thức
mới, những nhân tố mới cũng như đề ra được những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy
nhanh, mạnh và vững chắc kinh tế hợp tác, qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển sản
xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần xây dựng nông thôn mới.
Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua cũng như các
vùng khác trong cả nước đã xuất hiện những hình thức hợp tác mới, vừa mang đặc điểm
chung vừa có tính đặc thù của các huyện ven thành phố lớn. Do đó, cần phải tổng kết
nhằm phát hiện ra những mô hình kinh tế hợp tác thích hợp, đề ra phương hướng và các
giải pháp đổi mới nhằm góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp ở thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung. Xuất phát từ yêu cầu đó tác giả đã chọn đề
tài " Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và
Header Page 5 of 166.
Chương 1
Tính Tất Yếu Và Những NHÂN Tố
Tác Động Đến Sự RA Đời Và Phát Triển
KINH Tế Hợp Tác TRONG NÔNG Nghiệp
1.1. những đặc trưng của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Hợp tác là sự hợp sức, hợp lực của những con người để tạo ra sức mạnh mới, để
thực hiện những công việc mà từng cá nhân hoặc từng hộ riêng lẻ khó thực hiện, không thực
hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả [31, 69]. Quá trình phát triển của xã hội loài người
đã chứng minh ưu thế của hợp tác lao động. Nhờ có hợp tác lao động mà con người đã
xây dựng được nhiều công trình kiến trúc vĩ đại. Trong quá trình hình thành và phát triển
của mình, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã biết kế thừa và phát triển những ưu thế đó của
hợp tác lao động. Hợp tác lao động đã trở thành khởi điểm của sản xuất tư bản chủ nghĩa
(TBCN) cả về lôgíc và lịch sử.
Khi nghiên cứu phần sản xuất giá trị thặng dư tương đối, C. Mác đã phân tích ba
giai đoạn phát triển của CNTB trong công nghiệp mà mở đầu là hợp tác giản đơn, C. Mác
chỉ ra rằng, hợp tác giản đơn có vai trò to lớn góp phần nâng cao năng suất lao động, bởi
vì nó có rất nhiều ưu thế so với lao động riêng lẻ.
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người,
gắn liền với những điều kiện của tự nhiên nên có nhiều nét đặc thù. Do đó, hợp tác lao
động trong nông nghiệp bên cạnh những ưu thế chung thì còn có những nét riêng:
Thứ nhất: Khác với các hoạt động sản xuất của các ngành, các lĩnh vực khác
trong nền kinh tế, sản xuất trong nông nghiệp luôn gắn liền với những cơ thể sống mà sự
tồn tại và phát triển của nó luôn tuân theo những quy luật sinh học. Mặt khác, kết quả của
quá trình sản xuất đó không chỉ là kết quả sản xuất trực tiếp của người lao động mà còn
là kết quả của sự sinh trưởng và phát triển của đối tượng sản xuất. Từ đặc điểm này cho
thấy, để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có một kiểu tổ
Footer Page 5 of 166.
hoạch. ở giai đoạn đầu, do bị ảnh hưởng bởi tính thời vụ cho nên sự hợp tác sẽ đạt hiệu
quả cao hơn là từng cá nhân làm. Thời kỳ chăm bón như tưới tiêu, chống úng, chống hạn
Footer Page 6 of 166.
Header Page 7 of 166.
sẽ cần có nhiều người làm nhưng bón phân làm cỏ thì chỉ cần từng người hay hộ gia đình
làm sẽ đạt hiệu quả hơn. Thời kỳ thu hoạch, rõ ràng là cần có sự hợp tác nhằm tránh
những thiệt hại do thu hoạch chậm gây nên.
Ngoài ra, lao động của nông hộ còn có nhiều ưu điểm khác: tính tự nguyện, tự
giác cao lại được vận dụng tối đa vào trong sản xuất như cha cày, mẹ cấy, con trông gia
súc, ông bà trông cháu, coi nhà... Ưu thế này cũng được bắt nguồn từ sự thống nhất về lợi
ích của mọi thành viên trong gia đình.
Bên cạnh những ưu thế trên trong sản xuất kinh doanh, hộ nông dân cũng gặp
phải nhiều khó khăn, hạn chế mà bản thân họ không thể giải quyết có hiệu quả được.
Những vấn đề: vốn, làm đất, thủy lợi, cải tạo ruộng đồng, khai hoang, cung ứng vật tư,
dịch vụ kỹ thuật, thu hoạch, chế biến, tiêu thụ sản phẩm... là những vấn đề chỉ có thông
qua hợp tác với nhau giữa các hộ mới có điều kiện giải quyết một cách có hiệu quả nhất.
Hộ nông dân có những ưu thế cũng như những hạn chế trong quá trình hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Những ưu thế và những hạn chế này cũng quy định sự cần thiết phải
thực hiện kinh tế hợp tác.
Thứ ba: Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất (TLSX) đặc
biệt không thể thay thế được. Ruộng đất vừa là vật chịu tác động của lao động, vừa là vật
truyền dẫn lao động của con người đến cây trồng. Mặt khác, ruộng đất cũng là không
gian rộng lớn mà ở đó con người tổ chức các quá trình lao động sản xuất và chịu tác động
trực tiếp của điều kiện tự nhiên như mưa, nắng, bão tố... vì thế hoạt động nông nghiệp
mang tính đa dạng, không có một mô hình kinh tế hợp tác cụ thể nào phù hợp cho tất cả
mọi vùng, mọi địa phương. Hơn nữa, ruộng đất lại là một loại TLSX đặc biệt (vì đất đai
là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người, đất đai lại là TLSX không thể sinh sôi
Thứ tư, hợp tác lao động đòi hỏi phải có sự chỉ huy điều khiển, kiểm soát, cũng
giống như một dàn nhạc phải có nhạc trưởng để tránh tình trạng "trống đánh xuôi kèn
thổi ngược". Do đó, phải có sự quản lý để tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa
các cá nhân, các bộ phận nhằm thực hiện kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất.
Thứ năm, phải có kế toán. Kế toán được C. Mác quan niệm như là một phương
tiện kiểm soát giúp nhà quản lý nắm được tình hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị. Do
đó, kế toán là điều kiện thiết yếu không thể thiếu đối với quá trình sản xuất có tính chất
xã hội.
Footer Page 8 of 166.
Header Page 9 of 166.
Tóm lại, hợp tác là con đường dễ tiếp thu, đơn giản để giúp hộ nông dân đi lên
sản xuất lớn. Song để phát huy được sức mạnh to lớn của hợp tác lao động thì nó phải
được tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
Tuyệt đối không được gò ép, cưỡng bức. Mặt khác, muốn khắc phục những hạn chế của hộ
nông dân trong nền kinh tế thị trường, nhất thiết phải tiến hành hợp tác lao động, phải
hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác kiểu mới, chứ không phải là phủ nhận kinh tế hợp
tác.
1.2. Sự ra đời và những đặc trưng cơ bản của kinh tế hợp tác kiểu mới trong
nông nghiệp
1.2.1. Sự phát triển của kinh tế hộ và yêu cầu cấp thiết phải phát triển kinh
tế hợp tác kiểu mới trong nông nghiệp ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Kinh tế hộ được hiểu theo những cách khác nhau, nhưng nhiều người đồng ý: hộ
gia đình nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn, đã
từng tồn tại từ lâu ở các nước nông nghiệp. Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc,
hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có
chung một ngân quỹ [13, 9].
Dưới ánh sáng Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết 10 của
huyện ngoại thành thành phố theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, mở rộng ngành
nghề, hoạt động dịch vụ và hướng tới mô hình hoạt động phi nông nghiệp.
— Về đời sống: Nhờ có sự phát triển trong sản xuất mà mức sống và điều kiện
sống của người nông dân ngày càng được nâng cao. Điều này được phản ánh qua số liệu
về mức chi tiêu của người dân ngoại thành so với người dân nội thành của thành phố qua
các năm như sau:
Bảng 1:
Đơn vị tính: nghìn đồng/ người/ tháng
Năm
1996
1997
1998
1999
Nội thành
452.836
497.840
519.304
552.280
Ngoại thành
70%
75,9%
- Radio cassette
68%
78,5%
- Tủ lạnh
11,8%
13,8%
- Bếp ga - điện
9,2%
15,4%
- Điện thoại
2,6%
6,8%
- Xe máy
thành phố là những vùng ven, trước đây chủ yếu là những vùng căn cứ của cách mạng
(Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh...), lại là những vùng sâu vùng xa, đời sống người dân
còn gặp nhiều khó khăn (theo Ban chỉ đạo chương trình xóa đói giảm nghèo của thành
phố thì hiện nay các huyện ngoại thành có 9/13 xã, phường thuộc diện nghèo nhất thành
phố) [1], do đó phần lớn các hộ ngoại thành chỉ mới đầu tư sản xuất theo chiều rộng,
chưa có điều kiện đầu tư chiều sâu. Những khó khăn về vốn, về ruộng đất cũng là nguyên
nhân làm hạn chế sự phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành trong thời gian qua.
+ Lao động ở các huyện ngoại thành chủ yếu là lao động thủ công, giản đơn. Dân
số ở các huyện vẫn tăng nhưng số lao động ở các hộ nông dân làm nông nghiệp thì ngày
càng giảm vì bộ phận lao động trẻ, có học thức, tay nghề ở các hộ nông dân đã chuyển
vào làm ở các khu chế xuất hay các quận nội thành với thu nhập cao ngày càng nhiều.
Tình trạng thiếu lực lượng lao động trẻ, có trình độ trong nông nghiệp ở các huyện ngoại
thành hiện nay đang là vấn đề bức xúc.
+ Phần lớn các huyện ngoại thành là vùng sâu, vùng xa, do đó quy mô thị trường
nhỏ hẹp, có nơi hệ thống giao thông chưa được phát triển như Cần Giờ, Nhà Bè..., trình độ
văn hóa của đại đa số hộ nông dân còn thấp là nguyên nhân cản trở việc ứng dụng những
thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất. Cho nên sức cạnh tranh của hàng hóa thấp,
tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn và thường là bị tư thương ép giá, người nông dân bị
nhiều thiệt thòi.
Từ sự trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, kinh tế hộ nông dân ngoại thành trong
quá trình đổi mới đã không ngừng phát huy những ưu thế của mình để phát triển sản xuất,
họ đã cùng với nhân dân thành phố tạo ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, thực sự
là động lực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thành phố nói chung và kinh tế nông thôn
Footer Page 12 of 166.
Header Page 13 of 166.
nói riêng. Việc phát triển kinh tế hộ là một hướng đi hợp quy luật, góp phần thúc đẩy việc
khai thác các tiềm năng sẵn có, phát huy nội lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn
Header Page 14 of 166.
tiếp giữa các hộ để giải quyết một công việc hay dịch vụ cụ thể như: hoạt động của tổ
đường nước, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác sản xuất rau sạch. Do trình độ hợp tác còn
giản đơn, chưa đủ các điều kiện để được thừa nhận là hợp tác xã, nhưng nó được chính
quyền, các tổ chức đoàn thể (như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội thanh niên...) tạo điều
kiện và khuyến khích phát triển để dần dần có thể trở thành hợp tác xã.
Hai là, kinh tế hợp tác lại bao gồm cả những đơn vị kinh tế hợp tác xã do những
chủ thể kinh doanh độc lập tự nguyện góp vốn, góp sức cùng kinh doanh. Loại hình này
được tổ chức chặt chẽ, có vốn chung và đủ tư cách pháp nhân, có điều lệ riêng, hoạt động
theo Luật hợp tác xã. Tuy có sự khác nhau về qui mô, trình độ và tính chất, nhưng nhìn
chung cơ sở kinh tế đầu tiên hình thành nên loại hình kinh tế này chủ yếu là vốn cổ phần,
chứ không phải là công hữu hóa các tài sản. Các cổ đông là người chủ sở hữu cổ phần
của mình, nhưng cùng làm chủ toàn bộ nguồn vốn cổ phần được tạo nên vào mục đích kinh
doanh. Việc phân phối cho các hộ cổ đông phải căn cứ vào số lượng cổ phần, công đóng
góp và số lượng dịch vụ sử dụng của hợp tác xã mà các hộ thành viên sử dụng.
Ba là, nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế hợp tác là
không bao trùm lên toàn bộ hoạt động kinh tế của các hộ xã viên mà chỉ tập trung vào
những khâu, những lĩnh vực đòi hỏi phải có sức mạnh tập thể mới có hiệu quả, còn
những khâu, những lĩnh vực, kinh tế hộ hoạt động có hiệu quả hơn thì các hộ tự tổ chức
làm.
Bốn là, các hình thức kinh tế hợp tác là những đơn vị kinh tế tự chủ hoạt động
theo pháp luật và chính sách của nhà nước và không có cấp trên trực tiếp. Đối với loại
hình có tổ chức ổn định, có tư cách pháp nhân, thì đại hội các cổ đông là cơ quan quyền
lực cao nhất, quyết định phương hướng kinh doanh, điều lệ hợp tác xã, số lượng góp vốn
cổ phần tối thiểu, cách thức quản lý, phân phối và bầu ra Ban Quản trị hợp tác xã.
Năm là, các tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động không bị giới hạn bởi địa giới
hành chính, được tự do đăng ký kinh doanh, tự chịu trách nhiệm vật chất trước các thành
viên và pháp luật. Có quyền bình đẳng với các thành viên kinh tế khác về quyền hạn,
nghĩa vụ theo qui định của pháp luật. Một hộ có thể tham gia nhiều tổ chức kinh tế hợp
tác.
Ngoài việc đóng góp đầy đủ nghĩa vụ thuế và các khoản chi khác cho nhà nước, phần còn
lại do hợp tác xã chủ động xử lý. Các quan hệ giữa hộ với hợp tác xã và giữa các hợp tác
xã với nhau trở nên phong phú, nhưng đều thực hiện trên nguyên tắc "thuận mua vừa
bán".
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
Thứ ba: Hợp tác xã kiểu mới ra đời là xuất phát từ yêu cầu thực tế trong sản xuất
của hộ nông dân. Hoạt động của hợp tác xã chỉ là nhằm giúp đỡ tháo gỡ những khó khăn
mà hộ nông dân không thể giải quyết một cách có hiệu quả. Do đó, hợp tác xã chỉ đảm
nhận một số khâu trong quá trình sản xuất của kinh tế hộ mà thôi. Vì thế, hợp tác xã mới
là một đơn vị kinh tế tự chủ, không làm chức năng của một tổ chức xã hội hay làm chức
năng hành chính ở địa phương.
Còn các hợp tác xã kiểu cũ là một tổ chức không phải chỉ để hoạt động về kinh tế
mà còn là một đơn vị quản lý hành chính xã hội. Trong sản xuất hợp tác xã là người chỉ
đạo các khâu của quá trình sản xuất và là người nắm ba quyền cơ bản (sở hữu về tư liệu
sản xuất, về quản lý và phân phối).
Như vậy, sự ra đời của kinh tế hợp tác xã kiểu mới là một xu thế tất yếu, do nhu
cầu phát triển của kinh tế hộ trong nền kinh tế thị trường và kinh tế hợp tác hoạt động với
tính chất, nội dung hoàn toàn mới so với mô hình cũ trước đó. Cũng vì nhu cầu bức xúc
cần phải có sự hợp tác với nhau giữa các hộ nông dân là cơ sở quyết định để cho kinh tế
hợp tác kiểu mới ra đời, nên mỗi vùng, mỗi địa phương kinh tế hợp tác ra đời và phát
triển khác nhau do có nhiều nhân tố khác nhau tác động
1.3. Những nhân tố cơ bản tác động đến sự hình thành và phát triển của
kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Giống như những hình thức sản xuất kinh doanh khác có nền tảng là kinh tế hộ
gia đình, trong quá trình phát triển kinh tế, kinh tế hộ nông dân có những nhu cầu tất yếu
phải liên kết với nhau một cách tự nguyện hình thành nên các loại hình kinh tế hợp tác
được mở rộng.
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, tư liệu sản xuất còn thô sơ, sự tác động
của thị trường chưa cao, người nông dân sản xuất chủ yếu là nhằm mục đích tự cung, tự
cấp do đó chưa có nhu cầu hợp tác sản xuất (nếu có thì mức độ thấp và qui mô nhỏ bé).
Nhưng khi lực lượng sản xuất đã được phát triển, tư liệu sản xuất được cải tiến từ đơn
giản, thô sơ lên cơ khí, máy móc..., khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào
sản
xuất tăng lên, thị trường ngày càng mở rộng và sự tác động của các quy luật kinh tế của
nền
kinh
tế
thị
Footer Page 17 of 166.
trường
cũng
trở
nên
mạnh
mẽ
- Vốn đầu tư lớn, xuất hiện yêu cầu
dân nào cũng có thể mua được.
vay, hùn vốn.
- Kỹ thuật sử dụng giản đơn, đa số
- Kỹ thuật sử dụng pháp tạp không
thành viên trong hộ đều có thể sử
phải bất cứ nông dân nào cũng có
dụng được
khả năng sử dụng tốt.
- Tác dụng trên từng thửa ruộng nhỏ
- Tác dụng cho nhiều thửa ruộng,
hẹp
thậm chí cho nhiều thôn xã, cần điều
hòa phối hợp
- Kỹ thuật tưới tiêu đơn giản, úng thì
Từ sự phân tích trên có thể lý giải được tình trạng sai sót khi hình thành các đội
chuyên ồ ạt ở các hợp tác xã nông nghiệp cũ trước đây. Hiện nay, nhiều hợp tác xã nông
nghiệp chuyển sang làm dịch vụ nhưng số khâu dịch vụ và mức độ đảm nhiệm từng khâu
rất thấp. Do nhiều nguyên nhân nhưng có nhiều nguyên nhân là thiếu những tiền đề kinh
tế để thúc đẩy nhu cầu dịch vụ của các hộ đối với hợp tác xã nông nghiệp.
Kinh tế hợp tác với nhiều hình thức khác nhau hoạt động tương trợ lẫn nhau sẽ
tạo được môi trường cho việc áp dụng những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Với những ưu thế đó kinh tế hợp tác là cơ sở
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của kinh tế hộ, của nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế
hợp tác vừa là kết quả, vừa là động lực của sự phát triển LLSX. Sự phát triển của LLSX
trong nông nghiệp là nhân tố khách quan tất yếu thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phải hợp
tác và chỉ có thông qua hợp tác hộ nông dân mới tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường hiện nay.
1.3.2. Sự tác động về mặt vĩ mô của Nhà nước
Đây chính là nhân tố có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của kinh tế hợp tác cả
về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn. Bởi lẽ, sự định hướng của Nhà nước ở tầm vĩ mô
vừa là sự định hướng, vừa là sự hỗ trợ tạo điều kiện để cho các thành phần kinh tế hoạt
động một cách có hiệu quả nói chung, để cho kinh tế hợp tác phát triển nói riêng.
Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm, chú ý đến việc xây dựng và phát triển
kinh tế hợp tác và hợp tác xã và Đảng ta coi đó là con đường tốt nhất để đưa nông dân
Footer Page 19 of 166.
Header Page 20 of 166.
thoát khỏi đói nghèo. Vì vậy, các chính sách, các quyết định của Nhà nước về thuế, về
giá, về đào tạo cán bộ, về giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân... là những tác
động ở tầm vĩ mô để tạo cho người dân yên tâm sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp
phần ổn định đời sống và xây dựng nông thôn mới.
phạm vi hoạt động thì những yêu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn. Do đó, để đáp ứng
yêu cầu của thị trường, để tồn tại và phát triển, kinh tế hộ nông dân phải không ngừng áp
dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm
đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Từng hộ nông dân tự thực hiện điều đó, chắc
chắn không thu được kết quả như mong muốn. Để khắc phục được những mặt yếu kém
Footer Page 20 of 166.
Header Page 21 of 166.
của sản xuất cá thể trong nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường các hộ nông dân
phải hợp tác với nhau ở từng mức độ, từng hình thức tùy theo điều kiện sản xuất, quy mô
sản xuất của từng vùng, từng địa phương thì mới đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3.4. Sự nhận thức của hộ nông dân về kinh tế hợp tác
Thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong thời gian qua ở cả nước
cũng như ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đã chứng tỏ rằng có nơi kinh
tế hợp tác và hợp tác xã vẫn ra đời và phát triển, có nơi hợp tác xã không còn và nếu còn
hoạt động thì gặp rất nhiều khó khăn... Một trong những nguyên nhân của tình hình đó là
do sự nhận thức của người nông dân chưa đúng, chưa đủ về kinh tế hợp tác và hợp tác xã.
Nhận thức của nông dân về kinh tế hợp tác và hợp tác xã chưa tốt là do:
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế hợp tác và hợp tác xã chưa được
phổ biến rộng rãi ở nông thôn.
Do trình độ học vấn của người nông dân còn thấp (thậm chí có người không
biết chữ.)
Do sự thiếu quan tâm của các cấp chính quyền địa phương trong việc tổ chức,
hướng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ (đặc biệt trong việc đào tạo cán bộ) để hộ nông dân có
điều kiện phát triển kinh tế hợp tác.
Hộ nông dân nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa cách trung
tâm thành phố thường thiếu các thông tin có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đến
kinh nghiệm phát triển kinh tế hợp tác cũng như các mô hình kinh tế hợp tác có hiệu quả.
Footer Page 22 of 166.
Header Page 23 of 166.
Chương 2
Thực Trạng KINH Tế Hợp Tác
ở Các Huyện Ngoại Thành Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là thành phố) trong địa giới hiện nay bao gồm
thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn trước đây.
Thành phố Hồ Chí Minh ở vào 10038’-110 vĩ Bắc và 106022’-186024’ kinh Đông;
diện tích tự nhiên: 2093,7 km2 trong đó khu vực nội thành rộng 440 km2, ngoại thành
rộng 1.653,7km2. Thành phố Hồ Chí Minh có 1 hải cảng quan trọng, cảng sông Sài Gòn
có độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển có trọng tải trên 30.000 tấn. Có một hệ thống sông
đi từ thành phố lên miền Đông, xuống miền Tây và sang Campuchia. Thành phố Hồ Chí
Minh là đầu mối đường bộ với khu vực Đông Dương. Ngoài ra thành phố còn có sân bay
Tân Sơn Nhất cách trung tâm 7 km.
Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhiệt độ trung bình
27,3 0C; lượng mưa bình quân hàng năm là 1879 mm; thời tiết thuận hòa, ít bão, ít ngập
lụt là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất-kinh doanh.
Theo quyết định số 03 QĐ/CP ngày 6/1/1997 của Chính phủ về việc thành lập
các quận mới ở thành phố Hồ Chí Minh, thì hiện nay thành phố Hồ Chí Minh có 17 quận
và 5 huyện ngoại thành bao gồm: Huyện Bình Chánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn và Nhà
Bè (số liệu cụ thể xin xem bảng biểu số 6 phần phụ lục).
- Về tự nhiên: Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh xét về địa giới
hành chính là những huyện nằm ở vùng ven của trung tâm thành phố Hồ Chí Minh là
vùng tiếp giáp giữa trung tâm với các tỉnh lân cận (như Tây Ninh, Bình Dương, Đồng
Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu...). Có diện tích tự nhiên là 1653,7 km2, đất đai bằng
thương, chịu khó trong lao động, đoàn kết, gắn bó trong sinh hoạt cộng đồng... Ngày nay,
trong công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội khi những chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp lòng dân và được vận dụng một cách
Footer Page 24 of 166.
Header Page 25 of 166.
khoa học, thiết thực vào cuộc sống thì truyền thống quý báu đó lại càng được phát huy
mạnh mẽ hơn, đặc biệt là sự hợp tác mạnh mẽ giữa các hộ nông dân để tạo ra sức mạnh tổng
hợp thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn làm cho các huyện
ngoại thành trở thành vùng kinh tế phát triển, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến,
chính trị - xã hội ổn định, đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc.
Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
tháng 9/1992 đã đánh giá vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc như sau:
"Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm giao dịch quốc
tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí chính trị quan trọng sau
thủ đô Hà Nội. Nhân dân lao động thành phố Hồ Chí Minh vốn có tinh thần yêu nước
nồng nàn, có truyền thống cách mạng kiên cường, đồng thời lại rất năng động và giàu
sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.
Riêng về kinh tế, thành phố là một trung tâm công nghiệp lớn, có năng lực sản
xuất công nghiệp khá phát triển, nhất là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; ngành nghề
tiểu thủ công nghiệp rất phong phú; đội ngũ công nhân và thợ thủ công có tay nghề khá,
lực lượng khoa học, kỹ thuật đông đảo, có tài năng, có kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát
triển công nghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch.
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông lớn cả về thủy, bộ và hàng không;
thông thương thuận tiện với các tỉnh ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ... cả nước và quốc tế.
Điều đặc biệt quan trọng là kinh tế của thành phố gắn liền với một vùng nông
lâm, ngư nghiệp trù phú (B2 cũ) có nền sản xuất hàng hóa phát triển, có những khả năng