LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và giải pháp doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành
thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và
giải pháp
Mở Đầu

1. Sự cần thiết của đề tài

Với luận văn này, chúng tôi muốn kế thừa những thành quả nghiên cứu của các
tác giả trên, đồng thời thông qua thực tiễn sản xuất ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
để tìm ra các giải pháp phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với đặc thù kinh tế của các
huyện ven thành phố Hồ Chí Minh.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động của kinh tế hợp tác ở thành
phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với
điều kiện sản xuất ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế
hợp tác trong nông nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và các huyện ngoại
thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phát triển.
Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ kinh tế hợp tác là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển nền kinh
tế từ trình độ lạc hậu đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
- Khảo sát, nghiên cứu tìm ra những ưu - nhược điểm của các hình thức kinh tế
hợp tác ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay.
- Đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với yêu
cầu thực tiễn sản xuất ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần thúc đẩy sản
xuất phát triển.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu khảo sát tình hình phát triển kinh tế hợp
tác trong nông nghiệp ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh như: Bình
Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ từ năm 1986 đến nay (mà chủ yếu là năm
1997 đến nay).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bản luận văn này tác giả chủ yếu kết hợp sử dụng phương pháp biện chứng
lịch sử với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sát thực tế trên địa bàn

vì nó có rất nhiều ưu thế so với lao động riêng lẻ.
Nông nghiệp là ngành sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người,
gắn liền với những điều kiện của tự nhiên nên có nhiều nét đặc thù. Do đó, hợp tác lao
động trong nông nghiệp bên cạnh những ưu thế chung thì còn có những nét riêng:
Thứ nhất: Khác với các hoạt động sản xuất của các ngành, các lĩnh vực khác
trong nền kinh tế, sản xuất trong nông nghiệp luôn gắn liền với những cơ thể sống mà sự
tồn tại và phát triển của nó luôn tuân theo những quy luật sinh học. Mặt khác, kết quả của
quá trình sản xuất đó không chỉ là kết quả sản xuất trực tiếp của người lao động mà còn
là kết quả của sự sinh trưởng và phát triển của đối tượng sản xuất. Từ đặc điểm này cho
thấy, để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có một kiểu tổ
chức, hợp tác gắn bó chặt chẽ giữa người lao động với đối tượng sản xuất nhằm đáp ứng
kịp thời các yêu cầu sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi.
Thứ hai: Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quá trình lao động và quá trình
sản xuất phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều khâu kế tiếp nhau và không trùng hợp nhau
về thời gian. Hoạt động sản xuất trong nông nghiệp mang tính thời vụ rõ rệt. Đặc điểm
này quy định sản xuất nông nghiệp có thể tổ chức sản xuất theo mô hình của các hộ nông
dân, bởi vì kiểu tổ chức sản xuất dựa trên hộ nông dân là kiểu tổ chức năng động, linh
hoạt, cho phép sử dụng hợp lý mọi nguồn lực sản xuất nông nghiệp. Lịch sử phát triển
của phương thức sản xuất TBCN và sự phát triển nông nghiệp của thế giới đã cho thấy
CNTB khi đã tạo được nền đại công nghiệp cũng không công nghiệp hóa nghề nông theo
con đường mà họ đã làm đối với công nghiệp, không xây dựng trong nông nghiệp những
xí nghiệp lớn trên cơ sở chuyên môn hóa lao động mà vẫn duy trì các hình thức hợp tác
dựa trên cơ sở hộ nông dân. Trong CNTB hộ nông dân vẫn là chủ thể kinh doanh, vẫn là
sự dung hợp giữa nghề nông với phương thức kinh doanh hiện đại. Do gắn bó với ruộng
đất và đối tượng sản xuất, người nông dân thực sự am hiểu quá trình sinh trưởng cây
trồng, vật nuôi. Người nông dân lại là chủ thể quá trình canh tác, trực tiếp tổ chức thực
hiện, gắn trách nhiệm với toàn bộ quá trình canh tác từ đầu cho đến khi kết thúc. Lợi ích

Thứ ba: Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất (TLSX) đặc
biệt không thể thay thế được. Ruộng đất vừa là vật chịu tác động của lao động, vừa là vật
truyền dẫn lao động của con người đến cây trồng. Mặt khác, ruộng đất cũng là không
gian rộng lớn mà ở đó con người tổ chức các quá trình lao động sản xuất và chịu tác động
trực tiếp của điều kiện tự nhiên như mưa, nắng, bão tố vì thế hoạt động nông nghiệp
mang tính đa dạng, không có một mô hình kinh tế hợp tác cụ thể nào phù hợp cho tất cả
mọi vùng, mọi địa phương. Hơn nữa, ruộng đất lại là một loại TLSX đặc biệt (vì đất đai
là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con người, đất đai lại là TLSX không thể sinh sôi
nảy nở), do đó, quá trình phát triển sản xuất cũng là quá trình bảo tồn ruộng đất và làm
cho độ phì nhiêu của đất không ngừng được nâng lên. Để thực hiện được yêu cầu này,
quá trình sản xuất nông nghiệp cũng là quá trình bắt buộc phải tổ chức hợp tác giữa
những người nông dân trong việc chống các tai họa của thiên nhiên làm hao tổn và xói
mòn ruộng đất.
Như vậy, nhu cầu hợp tác trong quá trình sản xuất nông nghiệp là có thật, bắt
nguồn từ yêu cầu hiệu quả trong sản xuất. Các mô hình sản xuất hợp tác nông nghiệp
kiểu cũ trước đây không phát huy được ưu thế của hợp tác lao động, lại còn thua kém cả
lao động cá thể vì không tôn trọng tính tự chủ và lợi ích thiết thân của nông hộ, không tạo
ra những điều kiện cơ bản để phát huy ưu thế của hợp tác lao động và không tuân thủ
những nguyên tắc khi tiến hành hợp tác hóa. Hợp tác lao động thực chất là một cuộc cách
mạng về tổ chức lao động nhưng hợp tác lao động chỉ phát huy được ưu thế hơn lao động
cá thể khi nó tuân thủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, muốn tổ chức hợp tác lao động có hiệu quả, các hộ nông dân - thành
viên của tổ chức kinh tế hợp tác - phải thấy rõ lợi ích kinh tế do sự hợp tác mang lại, họ
tự nguyện gia nhập vì lợi ích của chính bản thân họ.
Thứ hai, hợp tác lao động phải được dựa trên một kế hoạch chặt chẽ, khoa học,
và được triển khai một cách đồng bộ từ một trung tâm điều hành. Điều kiện này rất quan
trọng và cần thiết để khắc phục được những hạn chế, yếu kém của từng cá nhân, để phát

từng tồn tại từ lâu ở các nước nông nghiệp. Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc,
hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có
chung một ngân quỹ [13, 9].
Dưới ánh sáng Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là sau khi có Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 thì hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ ở nông
thôn. Mỗi hộ có quyền tự quyết định mục tiêu và quá trình sản xuất kinh doanh, trực tiếp
quan hệ với thị trường khi có sản phẩm hàng hóa, tự hạch toán, lời ăn lỗ chịu chính sự
công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động theo những nội dung trên
đã làm cho các hợp tác xã kiểu cũ hầu như mất dần tác dụng. Trước đây, trong hợp tác xã
cũ hộ gia đình tuy chỉ chiếm 5% ruộng đất nhưng lại đảm bảo đến 60 - 70% nguồn sống.
Điều đó cho thấy, khi các hộ nông dân trở thành các đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế hộ
nông dân có điều kiện phát huy tối đa thế mạnh của mình để phát triển sản xuất. Từ khi
có đường lối đổi mới, sự phát triển kinh tế hộ ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí
Minh đã góp phần tạo ra những biến đổi to lớn trong năng suất lao động nông nghiệp và
trong đời sống của nông dân và nông thôn.
— Về năng suất: Năng suất thâm canh lúa đông xuân tăng lên từ
33,2 tạ/ ha năm 1997 tăng lên 33,5 tạ/ha, năm 1998 và 1999 là 34,2 tạ/ha.
Để có được những thay đổi trên là do nhiều nguyên nhân tác động nhưng nổi bật
là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
+ Nhờ được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và được quyền sở hữu về các
TLSX khác đã làm cho các hộ gia đình hăng say, phấn khởi. Qua đó sức sản xuất của
nông hộ không ngừng được nâng cao.
+ Nếu trước đây sức lao động của các hộ nông dân bị ràng buộc do chế độ quản
lý của các hợp tác xã kiểu cũ thì ngày nay sức lao động đó được hoàn toàn giải phóng,
người nông dân có quyền tự do di chuyển, tìm kiếm việc làm, tự do tham gia các hình
thức tổ chức sản xuất khác nhau, không phân biệt địa giới hành chính [19, 21].
+ Sự phát triển của kinh tế hộ nông dân trong thời gian qua góp phần đưa kinh tế

- Bếp ga - điện 9,2% 15,4%
- Điện thoại 2,6% 6,8%
- Xe máy 55% 63,9%
- Nhà ở kiên cố 9,8%
- Bán kiên cố 65%
- Nhà tranh 25,2%
Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1999.
Bên cạnh những thành tựu mà kinh tế hộ nông dân đã đạt được thì trong quá trình
phát triển trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,
kinh tế hộ nông dân đã dần dần bộc lộ những hạn chế nhất định, điều đó đã làm ảnh
hưởng không nhỏ đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp. Đó là:
+ Nguồn lực sản xuất như đất đai, vốn còn gặp nhiều hạn chế, luôn luôn bị biến
động. Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm. Nếu diện tích đất nông nghiệp năm
1995 là 9.916.401 ha thì đến năm 2000 chỉ còn lại 9.528.855 ha, giảm 387.546 ha. Các
hộ nông dân cũng gặp nhiều khó khăn về vốn kinh doanh bởi vì các huyện ngoại thành
thành phố là những vùng ven, trước đây chủ yếu là những vùng căn cứ của cách mạng
(Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh ), lại là những vùng sâu vùng xa, đời sống người dân
còn gặp nhiều khó khăn (theo Ban chỉ đạo chương trình xóa đói giảm nghèo của thành
phố thì hiện nay các huyện ngoại thành có 9/13 xã, phường thuộc diện nghèo nhất thành
phố) [1], do đó phần lớn các hộ ngoại thành chỉ mới đầu tư sản xuất theo chiều rộng,
chưa có điều kiện đầu tư chiều sâu. Những khó khăn về vốn, về ruộng đất cũng là nguyên
nhân làm hạn chế sự phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành trong thời gian qua.
+ Lao động ở các huyện ngoại thành chủ yếu là lao động thủ công, giản đơn. Dân
số ở các huyện vẫn tăng nhưng số lao động ở các hộ nông dân làm nông nghiệp thì ngày
càng giảm vì bộ phận lao động trẻ, có học thức, tay nghề ở các hộ nông dân đã chuyển
vào làm ở các khu chế xuất hay các quận nội thành với thu nhập cao ngày càng nhiều.
Tình trạng thiếu lực lượng lao động trẻ, có trình độ trong nông nghiệp ở các huyện ngoại

của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp đỡ nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế xã
hội của đất nước" [19, 5].
Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng, hợp tác xã là hình thức hợp tác cao nhất,
đặc trưng nhất của kinh tế hợp tác. Căn cứ vào Luật hợp tác xã và tư duy mới về kinh tế
hợp tác, có thể thấy kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác xã, theo tư duy mới có các nội
dung chủ yếu sau đây:
Một là, kinh tế hợp tác bao gồm những hình thức hợp tác giản đơn hay "lỏng lẻo"
nội dung chủ yếu là trao đổi lao động như tổ đổi công, vần công, trao đổi kinh nghiệm kỹ
thuật, hợp tác chỉ mang tính chất thời vụ hay từng công việc cụ thể. Loại hình này thường
không có tổ chức ổn định, chưa có tư cách pháp nhân, không có vốn chung, không có tổ
chức bộ máy hoạt động theo Luật dân sự. Nó được hình thành trên cơ sở thỏa thuận trực
tiếp giữa các hộ để giải quyết một công việc hay dịch vụ cụ thể như: hoạt động của tổ
đường nước, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác sản xuất rau sạch. Do trình độ hợp tác còn
giản đơn, chưa đủ các điều kiện để được thừa nhận là hợp tác xã, nhưng nó được chính
quyền, các tổ chức đoàn thể (như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội thanh niên ) tạo điều
kiện và khuyến khích phát triển để dần dần có thể trở thành hợp tác xã.
Hai là, kinh tế hợp tác lại bao gồm cả những đơn vị kinh tế hợp tác xã do những
chủ thể kinh doanh độc lập tự nguyện góp vốn, góp sức cùng kinh doanh. Loại hình này
được tổ chức chặt chẽ, có vốn chung và đủ tư cách pháp nhân, có điều lệ riêng, hoạt động
theo Luật hợp tác xã. Tuy có sự khác nhau về qui mô, trình độ và tính chất, nhưng nhìn
chung cơ sở kinh tế đầu tiên hình thành nên loại hình kinh tế này chủ yếu là vốn cổ phần,
chứ không phải là công hữu hóa các tài sản. Các cổ đông là người chủ sở hữu cổ phần
của mình, nhưng cùng làm chủ toàn bộ nguồn vốn cổ phần được tạo nên vào mục đích kinh
doanh. Việc phân phối cho các hộ cổ đông phải căn cứ vào số lượng cổ phần, công đóng
góp và số lượng dịch vụ sử dụng của hợp tác xã mà các hộ thành viên sử dụng.
Ba là, nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế hợp tác là

phát triển mạnh mẽ, vững chắc của kinh tế hộ nông dân ở những khâu, những lĩnh vực
hay công việc mà các hộ tự mình không làm được hoặc làm không có hiệu quả. Hộ là
người chịu trách nhiệm về các quyết định của mình chứ không phải là ai khác. Còn các
hợp tác xã kiểu cũ xã viên là người chỉ biết nhận phần việc do hợp tác phân công và
hưởng theo công điểm. Khoán gọn và sau này là khoán theo từng khâu cũng là sự biến
tướng của chế độ công điểm mà thôi.
Thứ hai: Hoạt động kinh tế trong hợp tác xã kiểu mới khác với hợp tác xã kiểu cũ
ở chỗ: vốn do xã viên đóng góp (xã viên góp vốn chứ không góp đất), ban quản lý do
những người góp vốn cử ra và chịu trách nhiệm trước xã viên về hiệu quả sử dụng đồng
vốn đó. Sau một chu kỳ sản xuất tùy theo quy định của đại hội xã viên người góp vốn có
thể rút vốn khi thấy hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả. Người có nhiều vốn có thể tham
gia nhiều hợp tác xã. Việc phân phối lợi nhuận do xã viên tự nguyện góp vốn quyết định.
Ngoài việc đóng góp đầy đủ nghĩa vụ thuế và các khoản chi khác cho nhà nước, phần còn
lại do hợp tác xã chủ động xử lý. Các quan hệ giữa hộ với hợp tác xã và giữa các hợp tác
xã với nhau trở nên phong phú, nhưng đều thực hiện trên nguyên tắc "thuận mua vừa
bán".
Thứ ba: Hợp tác xã kiểu mới ra đời là xuất phát từ yêu cầu thực tế trong sản xuất
của hộ nông dân. Hoạt động của hợp tác xã chỉ là nhằm giúp đỡ tháo gỡ những khó khăn
mà hộ nông dân không thể giải quyết một cách có hiệu quả. Do đó, hợp tác xã chỉ đảm
nhận một số khâu trong quá trình sản xuất của kinh tế hộ mà thôi. Vì thế, hợp tác xã mới
là một đơn vị kinh tế tự chủ, không làm chức năng của một tổ chức xã hội hay làm chức
năng hành chính ở địa phương.
Còn các hợp tác xã kiểu cũ là một tổ chức không phải chỉ để hoạt động về kinh tế
mà còn là một đơn vị quản lý hành chính xã hội. Trong sản xuất hợp tác xã là người chỉ
đạo các khâu của quá trình sản xuất và là người nắm ba quyền cơ bản (sở hữu về tư liệu
sản xuất, về quản lý và phân phối).
Như vậy, sự ra đời của kinh tế hợp tác xã kiểu mới là một xu thế tất yếu, do nhu

dậy được nhu cầu chính đáng của hộ nông dân, bằng không sớm muộn cũng sẽ bị thất
bại, nhiều khi còn đem lại những thiệt hại to lớn.
Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy rằng, kinh tế hợp tác được hình thành một
cách khách quan do tác động bởi các nhân tố chủ yếu sau:
1.3.1. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế hợp tác cho thấy, khi lực lượng sản xuất
chưa phát triển thì mức độ, cũng như nhu cầu hình thành và phát triển kinh tế hợp tác
thấp, còn khi lực lượng sản xuất đã phát triển thì mức độ cũng như nhu cầu phát triển sẽ
được mở rộng.
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, tư liệu sản xuất còn thô sơ, sự tác động
của thị trường chưa cao, người nông dân sản xuất chủ yếu là nhằm mục đích tự cung, tự
cấp do đó chưa có nhu cầu hợp tác sản xuất (nếu có thì mức độ thấp và qui mô nhỏ bé).
Nhưng khi lực lượng sản xuất đã được phát triển, tư liệu sản xuất được cải tiến từ đơn
giản, thô sơ lên cơ khí, máy móc , khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào
sản
xuất tăng lên, thị trường ngày càng mở rộng và sự tác động của các quy luật kinh tế của
nền kinh tế thị trường cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Điều đó
đã đặt những người sản xuất cá thể trong ngành nông nghiệp trước hai
con đường:
Một là, họ sẽ bị phá sản nếu không thích ứng kịp với sự phát triển của lực lượng
sản xuất.
Hai là, các hộ nông dân phải hợp tác với nhau để khắc phục những hạn chế của
từng cá nhân, phát huy ưu thế của hợp tác lao động.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến lượt nó lại tạo điều kiện đòi hỏi mức độ
hợp tác tăng lên và hình thức hợp tác được phát triển đa dạng, phong phú. Nếu trước đây
lực lượng sản xuất chưa phát triển thì mức độ hợp tác chỉ nằm ở một số khâu của quá
trình sản xuất (như hợp tác về thủy lợi chẳng hạn ) và qui mô hợp tác chỉ bó hẹp ở một

- KL: Mỗi gia đình có thể đảm nhận,
không có nhu cầu hình thành một bộ
phận lao động chuyên môn đảm
nhiệm điều hòa lợi ích chung cho các
hộ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- KL: một người, một hộ không thể
đảm nhận tốt nên xuất hiện yêu cầu
có những cá nhân, bộ phận có trình
độ đứng ra đảm nhiệm phục vụ
chung cho nhiều hộ, nhiều cánh
đồng.
Từ sự phân tích trên có thể lý giải được tình trạng sai sót khi hình thành các đội
chuyên ồ ạt ở các hợp tác xã nông nghiệp cũ trước đây. Hiện nay, nhiều hợp tác xã nông
nghiệp chuyển sang làm dịch vụ nhưng số khâu dịch vụ và mức độ đảm nhiệm từng khâu
rất thấp. Do nhiều nguyên nhân nhưng có nhiều nguyên nhân là thiếu những tiền đề kinh
tế để thúc đẩy nhu cầu dịch vụ của các hộ đối với hợp tác xã nông nghiệp.
Kinh tế hợp tác với nhiều hình thức khác nhau hoạt động tương trợ lẫn nhau sẽ
tạo được môi trường cho việc áp dụng những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Với những ưu thế đó kinh tế hợp tác là cơ sở
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của kinh tế hộ, của nông nghiệp, nông thôn. Kinh tế
hợp tác vừa là kết quả, vừa là động lực của sự phát triển LLSX. Sự phát triển của LLSX
trong nông nghiệp là nhân tố khách quan tất yếu thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phải hợp
tác và chỉ có thông qua hợp tác hộ nông dân mới tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường hiện nay.
1.3.2. Sự tác động về mặt vĩ mô của Nhà nước
Đây chính là nhân tố có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của kinh tế hợp tác cả
về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn. Bởi lẽ, sự định hướng của Nhà nước ở tầm vĩ mô
vừa là sự định hướng, vừa là sự hỗ trợ tạo điều kiện để cho các thành phần kinh tế hoạt
động một cách có hiệu quả nói chung, để cho kinh tế hợp tác phát triển nói riêng.

dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi nhằm
đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Từng hộ nông dân tự thực hiện điều đó, chắc
chắn không thu được kết quả như mong muốn. Để khắc phục được những mặt yếu kém
của sản xuất cá thể trong nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường các hộ nông dân
phải hợp tác với nhau ở từng mức độ, từng hình thức tùy theo điều kiện sản xuất, quy mô
sản xuất của từng vùng, từng địa phương thì mới đạt được hiệu quả cao nhất.
1.3.4. Sự nhận thức của hộ nông dân về kinh tế hợp tác
Thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong thời gian qua ở cả nước
cũng như ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đã chứng tỏ rằng có nơi kinh
tế hợp tác và hợp tác xã vẫn ra đời và phát triển, có nơi hợp tác xã không còn và nếu còn
hoạt động thì gặp rất nhiều khó khăn Một trong những nguyên nhân của tình hình đó là
do sự nhận thức của người nông dân chưa đúng, chưa đủ về kinh tế hợp tác và hợp tác xã.
Nhận thức của nông dân về kinh tế hợp tác và hợp tác xã chưa tốt là do:
 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế hợp tác và hợp tác xã chưa được
phổ biến rộng rãi ở nông thôn.
 Do trình độ học vấn của người nông dân còn thấp (thậm chí có người không
biết chữ.)
 Do sự thiếu quan tâm của các cấp chính quyền địa phương trong việc tổ chức,
hướng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ (đặc biệt trong việc đào tạo cán bộ) để hộ nông dân có
điều kiện phát triển kinh tế hợp tác.
 Hộ nông dân nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa cách trung
tâm thành phố thường thiếu các thông tin có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, đến
kinh nghiệm phát triển kinh tế hợp tác cũng như các mô hình kinh tế hợp tác có hiệu quả.
 Một bộ phận nông dân thiếu niềm tin về kinh tế hợp tác do bị ảnh hưởng của
phong trào hợp tác hóa cũ trước đây, họ sợ vào hợp tác xã sẽ bị tập thể hóa về tư liệu sản
xuất
Kinh tế hợp tác có thể ra đời, tồn tại và phát triển được hay không là do các hộ

Thực Trạng KINH Tế Hợp Tác
ở Các Huyện Ngoại Thành Thành phố Hồ Chí Minh

2.1. Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là thành phố) trong địa giới hiện nay bao gồm
thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn trước đây.
Thành phố Hồ Chí Minh ở vào 10
0
38’-11
0
vĩ Bắc và 106
0
22’-186
0
24’ kinh Đông;
diện tích tự nhiên: 2093,7 km
2
trong đó khu vực nội thành rộng 440 km
2
, ngoại thành
rộng 1.653,7km
2
. Thành phố Hồ Chí Minh có 1 hải cảng quan trọng, cảng sông Sài Gòn
có độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển có trọng tải trên 30.000 tấn. Có một hệ thống sông
đi từ thành phố lên miền Đông, xuống miền Tây và sang Campuchia. Thành phố Hồ Chí
Minh là đầu mối đường bộ với khu vực Đông Dương. Ngoài ra thành phố còn có sân bay
Tân Sơn Nhất cách trung tâm 7 km.
Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhiệt độ trung bình
27,3
0

tuy đã được lãnh đạo thành phố quan tâm đầu tư nhưng cho đến nay tốc độ phát triển vẫn
còn chậm, kinh tế chưa đạt được hiệu quả cao. Đời sống nhân dân ngoại thành thấp hơn
và còn gặp nhiều khó khăn so với nội thành. Nhưng với ưu thế là những huyện nằm gần
trung tâm thành phố lớn, một trung tâm phát triển mạnh về các lĩnh vực: Công nghiệp -
thương mại - du lịch - ngân hàng - khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo - nghiên cứu khoa
học so với cả nước nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh trong thời gian
tới trên cả hai phương diện:
Một là: Có thể nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào
sản xuất để đạt được hiệu quả cao về kinh tế.
Hai là: Có thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn.
- Về xã hội: Trước đây, các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đã từng là
những căn cứ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc
Mỹ, là nơi có truyền thống anh dũng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh, cần cù, chịu
thương, chịu khó trong lao động, đoàn kết, gắn bó trong sinh hoạt cộng đồng Ngày nay,
trong công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội khi những chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp lòng dân và được vận dụng một cách
khoa học, thiết thực vào cuộc sống thì truyền thống quý báu đó lại càng được phát huy
mạnh mẽ hơn, đặc biệt là sự hợp tác mạnh mẽ giữa các hộ nông dân để tạo ra sức mạnh tổng
hợp thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn làm cho các huyện
ngoại thành trở thành vùng kinh tế phát triển, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến,
chính trị - xã hội ổn định, đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc.
Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
tháng 9/1992 đã đánh giá vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc như sau:
"Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, trung tâm giao dịch quốc
tế và du lịch của nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí chính trị quan trọng sau
thủ đô Hà Nội. Nhân dân lao động thành phố Hồ Chí Minh vốn có tinh thần yêu nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status