Luận văn
Quản lý và Sử dụng
nguồn vốn ODA tại thành
phố Hồ Chí Minh
Thực trạng và Giải pháp
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ODA 4
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ODA 4
1.1.1. Nguồn gốc của ODA 4
1.1.2. Các khái niệm và đònh nghóa về ODA 5
1.1.3. Thực chất của ODA 6
1.1.4. Phân loại ODA 7
1.1.4.1. Phân loại ODA theo hình thức cung cấp 7
1.1.4.2. Phân loại ODA theo nguồn cung cấp 9
1.1.4.3. Phân loại ODA theo mục tiêu sử dụng 11
1.2. VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUỒN VỐN ODA 11
1.2.1. Đối với Bên tiếp nhận vốn 11
1.2.2. Đối với Bên tài trợ vốn 13
1.3. TÌNH HÌNH VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN ODA TRÊN
THẾ GIỚI HIỆN NAY 14
1.3.1. Tình hình nguồn vốn ODA trên thế giới 14
1.3.2. Xu hướng phát triển nguồn vốn ODA trên thế giới 18
1.4. NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM VỀ THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ODA CỦA CÁC NƯỚC 19
1.4.1. Những kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực Đông Nam
2.3.1. Thực trạng quá trình thu hút, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA tại thành phố Hồ Chí Minh 38
2.3.1.1. Theo cơ cấu vốn 40
2.3.1.2. Theo lónh vực tài trợ 41
2.3.1.3. Theo nhà tài trợ 43
2.3.1.4. Tình hình giải ngân trong thời gian vừa qua 44
2.3.2. Nhận xét về vai trò của ODA đối với sự phát triển của nền kinh tế-xã
hội thành phố Hồ Chí Minh 44
2.3.3. Quy trình quản lý dự án ODA tại Phòng Quản lý Dự án ODA thuộc Sở
Kế hoạch và Đầu tư-thành phố Hồ Chí Minh 47
2.3.3.1. Giới thiệu về Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh 47
2.3.3.2. Giới thiệu về Phòng Quản lý Dự án ODA 47
2.3.3.3. Quy trình quản lý dự án ODA 48
2.4. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯC 50
2.5. NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 51
2.5.1. Những khó khăn chung 51
2.5.2. Trong công tác huy động 52
2.5.3. Trong công tác tiếp nhận 53
2.5.4. Trong công tác sử dụng 54
2.5.5. Trong công tác giải ngân 55
2.5.6. Trong công tác quản lý 59
2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG II 59
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG NGUỒN VỐN ODA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 61
3.1. NHẬN XÉT 61
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP 63
3.2.1. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận động, tiếp nhận, quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh 64
3.2.1.1. Đối với việc vận động nguồn vốn ODA 64
3.2.1.2. Đối với việc tiếp nhận ODA 66
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
United Nation Development
Project
UNDP
Chương trình Phát triển của
Liên hiệp quốc
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài.
VCG Vietnam Consultative Group
Nhóm Tư vấn các Nhà tài trợ
cho Việt Nam
LHQ Liên hiệp quốc
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa.
TCQT Tài chính Quốc tế
QLDA Quản lý Dự án
XHCN Xã hội Chủ nghóa
CNXH Chủ nghóa Xã hội
UBND Ủy ban Nhân dân
Sở KHĐT Sở Kế hoạch và Đầu tư
Bộ KHĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ TC Bộ Tài chính
4
Bộ XD Bộ Xây dựng
Bộ
NN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn
Thuế
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghóa chọn đề tài:
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và
của khu vực Đông Nam Á nói riêng, việc hỗ trợ cho các nước đang và chậm phát
triển để phát triển nền kinh tế của các nước này là một vấn đề mang tính toàn
cầu. Các quốc gia phát triển đã có những chính sách và biện pháp hỗ trợ về vốn,
kỹ thuật cho các nước đang và kém phát triển, trong đó có nguồn vốn
Hỗ trợ
Phát triển Chính thức (nguồn vốn ODA) được các nước phát triển cung cấp
nhiều nhất vì mục tiêu của ODA là nhằm tạo điều kiện cho công cuộc phát triển
kinh tế xã hội của các nước đang và kém phát triển.
Việc thành lập các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB-World
Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF-International Monetary Fund), Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB-Asian Development Bank) và các tổ chức thuộc hệ
thống của Liên Hiệp Quốc đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng loại hình
viện trợ cho các nước đang và chậm phát triển và thực hiện tương đối khách
quan hơn sự giúp đỡ giữa các nước với nhau.
Đối với Việt Nam, ngoại trừ các năm bò ảnh hưởng bởi cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực thì các năm còn lại, tốc độ tăng trưởng
GDP của nền kinh tế luôn ở tốc độ cao.
Từ năm 2000 trở lại đây, tốc độ tăng
trưởng GDP luôn diễn ra theo xu hướng tăng dần (Năm 2000: 6,79%; Năm 2001:
6,89%; Năm 2002: 7,04%; Năm 2003: 7,24%; Năm 2004:7,7
0%). Để đạt được
những thành tựu đó, Việt Nam đã tận dụng và phối hợp mọi nguồn lực trong sự
nỗ lực không ngừng của mình. Trong số đó, nguồn vốn là một trong những nguồn
lực chính và có ý nghóa quyết đònh.
Theo báo cáo Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của Bộ kế hoạch và
Đầu tư, trong năm 2004, nguồn vốn trong nước thực hiện ước đạt 206,5 nghìn tỷ
khoảng 5% (150 đến 200 tỷ)), chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng và thực
hiện dự án còn chậm/chưa đảm bảo tiến độ dự án đã dẫn đến tình hình giải ngân
chậm gây lãng phí rất lớn cho nguồn vốn này, việc sử dụng nguồn vốn ODA
chưa hiệu quả Để khắc phục tình trạng này, Thành phố cần phải có những sự
thay đổi và điều chỉnh trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA theo
hướng có hiệu quả hơn mới có thể mang lại sự phát triển bền vững của nền kinh
tế Thành phố, nâng cao khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài
nước vào Thành phố.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé trong việc tìm kiếm giải
pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố
Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý và Sử dụng nguồn vốn ODA tại
thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và Giải pháp”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài dựa trên thực trạng trong công tác tiếp
nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh để từ đó
đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tiếp nhận, quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA
tại thành phố Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Xuất phát từ mục tiêu đã trình bày, đề tài xác đònh đối tượng nghiên cứu
là nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, vấn đề về nguồn vốn ODA là rất rộng và có liên
quan đến nhiều lónh vực như: Xây dựng, Tài Chính, Ngân hàng, Đầu tư và cả
những vấn đề ở phạm vi quốc tế. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập
trung nghiên cứu về tình hình tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở
khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
3
4. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ phương pháp luận của chủ nghóa duy vật biện chứng, duy
vật lòch sử cùng với các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ
những giải pháp thích hợp cho việc nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và
sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung của chương này là đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA tại thành phố Hồ Chí Minh từ những
phân tích về tình hình tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở
Chương
2
và những bài học kinh nghiệm đã rút ra từ Chương 1. 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ODA
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ODA
1.1.1.
Nguồn gốc của ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức thực ra đã có từ rất lâu đời, nhưng vào thời kỳ
ấy người ta chưa gọi nó với tên gọi Hỗ trợ
hính thức như ngày nay. Phát triển C
Ngay từ thời xã hội con người chưa hình thành nên nhà nước, giữa các bộ lạc đã
có sợi dây liên hệ giúp đỡ nhau về mặt kinh tế, chủ yếu thông qua hình thức sơ
khai (tiền thân của ODA ngày nay)
thể hiện khi một bộ lạc thiếu thốn về mặt
nào đó sẽ được bộ lạc khác dư dả hơn giúp đỡ. Đầu tiên sự giúp đỡ này còn vô
tư, về sau biến tướng đi
và kèm theo những điều kiện do bên cho mượn đặt ra
buộc bên kia phải chấp nhận.
Trong thời kỳ đầu, việc vay mượn rất đơn giản, chỉ đơn thuần là hàng hóa,
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD): ODA là một
giao dòch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển
kinh tế-xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dòch
này có tính chất ưu đãi và yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%.
Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một đòa phương, một
ngành, được Tổ chức quốc tế hay một nước bạn nào đó xem xét và cam kết tài
trợ thông qua một Hiệp đònh quốc tế, được đại diện có thẩm quyền của hai Bên
nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp đònh quốc tế này được chi phối bởi Công pháp
quốc tế.
-
Theo Nghò đònh 87/CP của Chính phủ có hiệu lực ngày 20/08/1997
đònh nghóa: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi chính thức
6
-
Theo Quy chế Quản lý và Sử dụng Nguồn vốn ODA ban hành kèm
theo Nghò đònh 17/2001/NĐ-CP ngày 04/05/2001 đònh nghóa: ODA được hiểu là
các hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghóa Việt Nam với các Nhà tài trợ bao gồm: Chính phủ nước ngoài,
các Tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia với phương thức cung cấp ODA
bao gồm:
(1) Hỗ trợ cán cân thanh toán; (2) Hỗ trợ chương trình; (3)Hỗ trợ dự
án.
1.1.3.
Thực chất của ODA
Vốn ODA mang đậm tính chất về chính trò. Thông qua nguồn ODA, Chính
phủ các nước (các thành viên của các tổ chức TCQT) mở đường cho các doanh
nghiệp của mình vào tìm kiến thò trường hoặc gây ảnh hưởng về chính trò-xã hội
với nước nhận. Vì vậy, không phải nước nghèo, chậm phát triển nào mong muốn
phát triển nền kinh tế của mình cũng có thể được nhận viện trợ từ một nước
vùng, lãnh thổ. Ngoài ra, ODA không hoàn lại còn hỗ trợ cho các hoạt động sản
xuất, trong một số trường hợp đặc biệt còn góp phần tạo việc làm, giải quyết các
vấn đề về xã hội ở nước nhận viện trợ
và phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa
nước nhận và nước cung cấp
, thường được cung cấp dưới các dạng sau:
-
Hỗ trợ kỹ thuật: Thực hiện các nghiên cứu phát triển, lập nghiên cứu
khả thi, đánh giá tác động về môi trường, nghiên cứu thay đổi thể chế chính
sách, đào tạo tăng cường năng lực quản lý, hỗ trợ ngành nghề, xây dựng các
công trình cơ sở hạ tầng cơ bản
. Các tổ chức tài trợ thực hiện thông qua việc
thuê mướn chuyên gia về để đào tạo cho nước nhận ODA.
-
Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình
thức hiện vật như: lương thực, vải, thuốc chữa bệnh, vật tư, nguyên liệu nhưng
thông thường sẽ được tính với giá rất cao.
8
- Đầu tư các dự án bảo vệ môi trường: Các dự án xử lý chất thải rắn đô
thò, xử lý nước thải đô thò, xây dựng các bệnh viện phục vụ cộng đồng
b.
Viện trợ có hoàn lại (ODA có hoàn lại-tín dụng ưu đãi): Nhà tài trợ sẽ
cho nước cần vốn vay một khoản tiền hoặc hàng hóa (bao gồm cả vật tư, nguyên
nhiên liệu) tùy theo quy mô và mục đích đầu tư với mức lãi suất ưu đãi và thời
gian trả nợ thích hợp, trong đó yếu tố không hoàn lại của khoản vay tối thiểu
phải là 25%. Tín dụng ưu đãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ODA thế giới
và
sử dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho những mục đích có khả năng thu hồi
vốn gián tiếp bảo đảm hoàn trả nợ nước ngoài.
có chiều hướng giảm hình thức viện trợ không hoàn lại và tăng hình thức tín
dụng ưu đãi hoặc cho vay hỗn hợp. Bên cạnh đó, hiện đang xuất hiện xu hướng
đồng tài trợ của nhiều quốc gia khác nhau cho một chương trình-dự án.
1.1.4.2. Phân loại ODA t
heo nguồn cung cấp
a.
ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến
nước kia, từ nước phát triển tài trợ cho những nước đang và kém phát triển
hoặc
giữa những nước với nhau (Việt Nam viện trợ cho Lào, Campuchia hoặc Trung
Quốc viện trợ cho Việt Nam trong những năm kháng chiến)
, thông qua các hiệp
đònh được ký kết giữa hai Chính phủ. Trong tổng số ODA trên thế giới, ODA
song phương chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 80%) do ODA song phương
dựa trên
mối
quan hệ hữu nghò giữa hai quốc gia với nhau nên thủ tục tiến hành cung cấp
và tiếp nhận so với ODA đa phương sẽ đơn giản, thời gian ký kết cũng nhanh
hơn và các lónh vực hợp tác cũng đa dạng, qui mô dự án cũng linh hoạt hơn. Tuy
nhiên, vấn đề tài trợ song phương cũng có những điều kiện ràng buộc khi cho
vay: Bên nhận tài trợ thường phụ thuộc việc thuê chuyên gia tư vấn của nước
tài trợ. Nước nhận tài trợ phải mua máy móc, hàng hóa, dòch vụ của nước tài trợ
và t
hông qua các điều kiện ràng buộc này, các nước tài trợ mở rộng được thò
trường, thò phần cung cấp hàng hóa, kỹ thuật và dòch vụ của nước mình ở các
nước tiếp nhận ODA và cả các mục tiêu phi kinh tế (chính trò và sự ảnh hưởng).
b.
ODA đa phương: Là nguồn viện trợ của một tổ chức quốc tế (IMF, WB,
AD
số ODA trên thế giới và được hình thành từ sự đóng góp của các nước thành
viên. Chính vì lý do đó, điều kiện tài trợ thường có lợi cho các nước đóng góp
nhất là các nước có tỷ lệ mức đóng góp cao. Hầu như các Nhà tài trợ đều dựa
vào số tiền mà mình đóng góp trong quỹ đa phương để gây áp lực buộc bên nhận
11
1.1.4.3. Phân loại ODA t
heo mục tiêu sử dụng
a.
Hỗ trợ cán cân thanh toán: Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ
ngân sách Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng:
-
Hỗ trợ nhập khẩu dưới hình thức nhận viện trợ hàng hóa: Chính phủ
nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trò tương đương với các
khoản cam kết, sau đó bán hàng hóa ở thò trường nội đòa để thu nội tệ
;
-
Chuyển giao trực tiếp cho nước nhận ODA: Loại hình này rất ít;
b.
Tín dụng thương nghiệp: Tương tự như loại viện trợ hàng hóa nhưng
kèm theo điều kiện ràng buộc trong vay mượn.
c.
Viện trợ phi dự án: Nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký kết hiệp
đònh cho mục đích tổng quát mà không cần xác đònh chính xác khoản viện trợ sẽ
sử dụng cho dự án nào.
d.
Tài trợ theo chương trình, dự án: Thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
vốn ODA. Điều kiện để nhận tài trợ là phải có dự án cụ thể, chi tiết và các hạng
mục sẽ sử dụng ODA. Tài trợ cơ bản thường dùng cho các dự án xây dựng đường
giao thông, cầu, cống, hệ thống đê sông, biển, các dự án bảo vệ môi trường, xây
có cơ hội để nhập khẩu máy móc hiện đại và phát triển nguồn nhân lực cần thiết
cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
d.
Hoàn thiện cơ cấu kinh tế: Đối với các nước đang phát triển, khó khăn
kinh tế là vấn đề không thể tránh khỏi, trong đó, nợ nước ngoài và thâm thụt cán
13
thể chế chính sách và điều chỉnh chính sách cơ cấu kinh tế cho phù hợp.
e.
Hỗ trợ thực hiện chiến lược về mặt xã hội: Xét về mặt tổng thể, ODA
cũng là công cụ quan trọng hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện chiến lược
xóa đói giảm nghèo, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn,
điện khí hóa nông thôn, thủy lợi, chỉnh trang đô thò, giải quyết các vấn nạn về ô
nhiễm môi trường, bảo vệ sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em là những chương
trình, dự án mang lại ý nghóa phát triển xã hội một cách sâu sắc.
f.
Tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát
triển trong nước: Để thu hút vốn đầu tư, mỗi quốc gia phải đảm bảo cho mình
một môi trường đầu tư thuận lợi về cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, hệ thống chính
sách luật pháp (nhất là
Luật Đầu tư) đảm bảo đầu tư có lợi với chi phí thấp và
hiệu quả đầu tư cao. Muốn thực hiện được vấn đề này, Chính phủ và Nhà nước
phải tập trung vào việc nâng cấp, cải thiện và xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống
tài chính, nghiên cứu mới và bổ sung hoàn thiện hệ thống luật pháp Chỉ có như
thế mới tăng được sức hút đối với dòng vốn FDI, thúc đẩy đầu tư trong nước phát
triển và đạt được sự phát triển bền vững của nền kinh tế và ổn đònh xã hội
.
1.2.2.
Đối với Bên tài trợ vốn
-
Tình hình nguồn vốn ODA trên thế giới
Nguồn ODA song phương được phân bổ rộng khắp trên thế giới do các
Nhà tài trợ một mặt phải thực hiện nghóa vụ quốc tế
(theo quy đònh của Tổ chức
Liên hiệp quốc
), mặt khác, các Nhà tài trợ cũng muốn nâng cao vò thế của mình
và vươn rộng tầm ảnh hưởng ra các khu vực khác trên thế giới. Ở đây họ không
chỉ muốn tìm kiếm những lợi ích kinh tế mà còn muốn tăng cường ảnh hưởng về
chính trò đối với một phạm vi, một khu vực nào đó trên thế giới dựa vào việc
cung cấp viện trợ cho khu vực hay phạm vi ấy. Hơn thế nữa, trật tự an ninh chính
trò mà các Nhà tài trợ chủ trương thiết lập tại nước nhận viện trợ là dựa trên sự
mong muốn thiết lập một nền kinh tế phụ thuộc vào nền kinh tế của nước cung
cấp viện trợ. Trên cơ sở đó, họ hy vọng có thể cạnh tranh hiệu quả đối với các
15 Bảng 1-1: Nguồn vốn ODA từ các nước tài trợ thuộc Uỷ ban Hỗ trợ Phát
triển (DAC) giai đoạn 1992-2003
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Tính theo
giá trò (tỷ
USD)
62,4 56,1 58,8 58,8 55,6 48,5 52,1 53,2 53,7 52,4 58,3 69,0
Tính theo
% GNI
0.33 0,30 0,30 0,27 0,25 0,22 0,23 0,24 0,23 0,22 0,23 0,25
Nguồn: Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của OECD
Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới, trong suốt giai đoạn 11
năm, từ năm 1992 đến 2003, nguồn vốn ODA từ các nhà tài trợ có sự trồi sụt,
2006 có thể đạt khoảng 75,00 tỷ USD, tỷ lệ ODA/GNI đạt 0,29%; năm 2012 có
thể đạt khoảng 110,00 tỷ USD và tỷ lệ ODA/GNI cũng tăng lên khoảng 0,34%.
Đối với khu vực Châu Á, Nhật Bản là quốc gia cung cấp nguồn vốn ODA
nhiều nhất, Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á là những nước
tiếp nhận ODA nhiều nhất. Trên thế giới Mỹ là một trong những nước tài trợ lớn
nhất nhưng Mỹ không mấy quan tâm đến khu vực này do việc phân bổ nguồn
vốn ODA của Mỹ có liên quan đến yếu tố chính trò mà Việt Nam là một ví dụ
điển hình. Chúng ta nằm ngoài danh sách các nước nhận viện trợ của Mỹ trong
một thời gian khá dài kể từ sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam (kể từ ngày
30/04/1975). Trong thời gian ấy, Mỹ viện trợ cho chủ yếu Thailand và Phillipine.
Đối với khu vực Châu Phi, các nước như Cameroon, Tanzanya đây là
khu vực tập trung hầu hết các nước nghèo nhất trên thế giới nên nguồn viện trợ
đi vào các nước này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại và nguồn viện trợ thường
chiếm tỷ lệ cao so với các khu vực khác. Tuy nhiên, nguồn viện trợ dành cho các
nước này lại không mấy hiệu quả, tổng chi phí đầu tư vào khu vực này rất cao,
thấp nhất cũng chiếm 20% GDP của các nước này nhưng mặc dù có viện trợ
nhưng mức tăng trưởng của các nước này chỉ đạt khoảng 1% đến 3%).
Bảng 1-3: Phân bổ ODA theo vùng của 10 Nhà tài trợ lớn (năm 2000)
ĐVT: %
Stt Vùng Nhật Mỹ Đức Pháp
Hà
Lan
Anh Ý
Thụy
Điển
Cana
da
Đan
Mạch
1 Châu Á 41,2 5,5 22,9 7,3 5,0 10,2 8,7 10,2 18,8 11,9
hơn và Châu Á là khu vực họ thấy là có thể đáp ứng được yêu cầu đó do tốc độ
phát triển của GDP ngày càng tăng, điều kiện về môi trường kinh tế-chính trò ổn
đònh Chính vì lý do đó mà nguồn vốn ODA đã chuyển sang khu vực này. Bên
cạnh diễn biến của nguồn vốn ODA song phương, nguồn vốn ODA đa phương
chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn nhưng mang lại cho các nước tiếp nhận những nguồn
lợi to lớn hơn do mục đích tài trợ chính của các Tổ chức TCQT là nhân đạo, giúp
đỡ các nước chậm phát triển là chủ yếu.
Qua nghiên cứu tình hình nguồn vốn ODA trên thế giới Chính phủ Việt
Nam cần thấy rõ những vấn đề sau:
-
Thứ nhất: Hiện nguồn vốn ODA hiện đang tập trung chủ yếu ở khu vực
Châu Á. Vì vậy Chính phủ Việt Nam cần có những đònh hướng và chính sách để
có thể thu hút được nguồn vốn ODA song phương và nguồn vốn ODA đa phương.
-
Thứ hai: Đối với nguồn vốn ODA song phương dành cho khu vực Châu
Á, Nhật Bản là nước cung cấp nguồn vốn ODA lớn nhất. Bên cạnh đó, Nhật Bản
hiện đang là nước cung cấp ODA nhiều nhất cho Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ
Việt Nam cần có chính sách đối với Nhà tài trợ này để làm sao có thể thu hút
được nguồn vốn này.
18
- Thứ ba: Đối với các chương trình, dự án về phát triển giáo dục, xóa đói
giảm nghèo, điện khí hóa nông thôn nói chung là những chương trình nằm
trong mục tiêu của nguồn vốn ODA đa phương. Trên cơ sở đó, Chính phủ Việt
Nam cần có chính sách thích hợp để thu hút nguồn vốn này.
1.3.2. Xu hướng phát triển nguồn vốn ODA trên thế giới
Tỷ trọng ODA song phương có xu hướng tăng lên, ODA đa phương có xu
hướng giảm xuống. Dự kiến ODA song phương tăng từ 69% lên 75% và ODA đa
phương giảm từ 31% xuống còn 25%. Kết quả trên là hệ quả của quá trình đối
thoại trực tiếp giữa các quốc gia, các nước có quan hệ với nhau không còn phải
nhận được vào các lónh vực có thể phát huy cao nhất tác dụng của nó trong
khoảng thời gian ngắn nhất
và các lónh vực được các nước thuộc khu vực này
quan tâm, chú ý đầu tư nhất thuộc về nông nghiệp, y tế, giáo dục, xóa đói giảm
nghèo, giao thông vận tải, bảo vệ môi trường và hệ thống viễn thông.
1.4.1.1.
Kinh nghiệm thu hút
C
ác khoản ODA vay được dành cho lónh vực nông nghiệp chiếm một tỷ
trọng đáng kể. Nguồn vốn ODA cho lónh vực này được sử dụng nhằm mục đích
giữ vững sự ổn đònh về an toàn lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng
trong nước và đặc biệt chú ý tăng cường cho chăn nuôi gia súc-gia cầm. Từ việc
xác đònh đúng lãnh vực ưu tiên đầu tư bằng nguồn vốn ODA mà Đài Loan (nay
đã trở thành một trong những “con rồng của Châu Á”) đã dành hơn 1/2 nguồn
vốn vay từ nước ngoài để phát triển lónh vực nông nghiệp (khoảng hơn 130 triệu
USD) vào năm 1951; Nước thứ hai là Indonesia đã sử dụng nguồn vốn ODA
trong kế hoạch viện trợ hợp tác kỹ thuật của Nhật Bản tài trợ từ năm 1991 đến
1996 và đã phát triển thành công trang trại chăn nuôi và các làng trồng trọt nông
nghiệp ở vùng Đông Nam Slawesh.
Với Thái Lan: Trước khi tiến hành xin viện trợ, Chính phủ Thái Lan luôn
chuẩn bò tốt cho mình dự án để xin viện trợ, cụ thể là xem xét
trước các vấn đề:
(1) Tính cấp thiết của dự án; (2) Việc thực hiện dự án dựa trên nguồn vốn trong
nước hay vay từ nước ngoài; (3) Xác đònh rõ mức vốn cần vay và nguồn vốn
20
Ngoài
ra
, khi Chính phủ chưa phê duyệt, các chủ dự án không được phép tiếp xúc với
các đối tác nước ngoài để nhằm tránh những cuộc vận động ngầm không khách