DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Khoa học - công nghệ
KHCN
Kinh tế trang trại
Kttt
Kinh tế - xã hội
KT - XH
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nn&ptnn
Phát triển bền vững
PTBV
Sản xuất kinh doanh
Phú Thọ
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG
18
TRẠI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH PHÚ
THỌ THỜI GIAN QUA
2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế trang trại
35
theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ
2.2. Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra
35
trong phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở
tỉnh Phú Thọ thời gian qua
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
51
KINH TẾ TRANG TRẠI THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH PHÚ THỌ THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền
60
vững ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển
giàu từ chính nông nghiệp. Thực tế đó càng khẳng định tính ưu việt vượt trội của
kinh tế trang trại - một hình thức tổ chức SXKD chủ yếu của nền nông nghiệp
hàng hoá nước ta trong tương lai đang nhận được sự quan tâm, khuyến khích phát
triển của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Phú Thọ hiện nay.
Sự phát triển của KTTT nói riêng và phát triển kinh tế nói chung luôn phải
gắn với phát triển bền vững. Nghĩa là, quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý, hài hòa giữa ba mặt: kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trưởng, không những
cho thế hệ hiện tại mà còn cho cả các thế hệ mai sau. Phát triển bền vững đã trở
thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước.
Phú Thọ là tỉnh có nhiều ưu thế trong phát triển KTTT, nhất là ở khu vực
nông thôn, miền núi với diện tích đất đai rộng lớn, hệ thống sông suối, ao hồ
nhiều, nguồn lao động dồi dào và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp,... Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Phú Thọ đang đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với chương trình xây
dựng nông thôn mới; lãnh đạo và chính quyền địa phương đã có nhiều chủ trương,
chính sách thiết thực tạo môi trường cho KTTT phát triển. Trong đó, việc gắn
3
phát triển KTTT với các chương trình kinh tế trọng điểm trong quy hoạch phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh là điều kiện thuận lợi cho KTTT có
bước phát triển mới.
Tuy nhiên, thực trạng phát triển KTTT ở Phú Thọ thời gian qua còn chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Bên cạnh những kết quả đã đạt được,
quá trình phát triển loại hình kinh tế này còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế như:
hiệu quả kinh tế của các trang trại chưa cao, chưa ổn định; nhiều trang trại ở Phú
Thọ hình thành và phát triển mang tính tự phát, chưa theo quy hoạch; ít chú trọng
đến việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Do đó,
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KTTT theo hướng bền vững.
Do vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống tình hình phát triển
[30, tr.19]. Khái niệm đã đề cập những đặc trưng cơ bản
của KTTT so với kinh tế hộ nông dân và các loại hình SXKD khác trong nông
nghiệp. Trong đó, theo tác giả có một số đặc trưng rất quan trọng để phân biệt với
kinh tế hộ như: sản xuất của KTTT là sản xuất hàng hóa; chủ trang trại là người có
ý chí, có năng lực và kinh nghiệm trong SXKD, ... Công trình cũng đưa ra ba tiêu
chí cơ bản để xác định kinh tế trang trại gồm: giá trị sản lượng hàng hóa tạo ra
trong một năm; quy mô diện tích đất đai hoặc số lượng gia súc, gia cầm tùy theo
phương hướng SXKD của trang trại và quy mô vốn đầu tư cho SXKD [30, tr.44].
Trong công trình nghiên cứu của TS.Trương Thị Minh Sâm về “Kinh tế trang trại ở khu vực Nam
Bộ, thực trạng và giải pháp” lại đưa ra khái niệm về KTTT dưới góc độ quản lý kinh tế, coi “KTTT là
một hình thức tổ chức SXKD trong nông nghiệp - được hình thành và phát triển
trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân, có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về
đất đai, vốn, lao động, kỹ thuật,… nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn
hơn, với lợi nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước theo định hướng XHCN” [43, tr.35].
Cùng nghiên cứu về vấn đề này nhiều nhà khoa học cũng và đưa ra quan
điểm của cá nhân thông qua các bài viết trên các tạp chí khoa học uy tín như:
“Nhận diện kinh tế trang trại trong nông nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa - khái niệm, đặc trưng, tiêu chỉ” của tác
giả Nguyễn Điền [23]; “Một số ý kiến bước đầu về lý luận KTTT" của PGS. TS.
Hoàng Việt [63]; “Bàn thêm về tiêu chí để xác định
kinh tế trang trại”
của GS.TS.
Nguyễn Thế Nhã [37], …
Về nhận dạng KTTT, trong công trình “Tư liệu về kinh tế trang trại” do
Ban Vật giá Chính phủ chù trì biên soạn, các nhà khoa học đã đưa ra bốn đặc
trưng của KTTT so với kinh tế hộ gia đình nông dân. Trong đó, nhấn mạnh hai
khách quan, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
6
hội chủ nghĩa ở nước ta và do yêu cầu của công cuộc CNH, HĐH đất nước mà
nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” [1, tr.151].
Theo công trình “Tư liệu về kinh tế trang trại” với bài viết: “Vai trò của
kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp và nông thôn” của Trần Trác đã
phân tích rõ về bốn vai trò của KTTT, đó là: sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai;
vai trò khai thác vốn trong dân; vai trò giải quyết lao động xã hội và vai trò chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp và nông
thôn. Tác giả cũng khẳng định: “KTTT tuy mới xuất hiện và còn là một lực
lượng
sản xuất nhỏ bẻ, nhưng đang đóng góp đáng kể vào phát huy nội lực, khơi dậy tiêm năng lao động, đất
đai, tiền vốn trong dân vào sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn” [1, tr.213-216].
Cùng nghiên cứu về vai trò của KTTT, tác giả Đào Hữu Hòa
với công trình “Phát
triển KTTT trên địa bàn duyên hải Nam trung bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã phân tích và chỉ rõ sáu vai trò của
KTTT. Tác giả kết luận: KTTT không chỉ có tác động đến CNH, HĐH mà còn
hướng đến sự phát triển bền vững. Trong Luận án Tiến sĩ của Phạm Bằng Luân về
“Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó đối với xây dựng tiềm lực quốc
trong các hội thảo khoa học, những bài viết đăng trên các tạp chí khoa học về
“Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững tại Việt
Nam” của Trung tâm Tài nguyên - Môi trường và Công nghệ sinh học [54]; “Phát
triển bền vững Kinh tế trang trại - thực trạng và giải pháp” của tác giả Trịnh
Xuân Báu [2]; “Phát triển bền vững kinh tế trang trại ở Việt Nam trong giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Văn Vang [62].
Đề tài cấp bộ trọng điểm về “Nghiên cứu các mô hình phát triển bền vững
trang trại ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang” do PGS.TS Phạm Văn Khôi làm chủ
nhiệm [32], với mục tiêu nghiên cứu là xác định rõ mô hình trang trại có hiệu quả
trong số các mô hình trang trại ở vùng cây ăn quả tỉnh Bắc Giang; đề tài đã đưa ra
khái niệm: “mô hình phát triển trang trại bền vững là những mô hình cụ thể của
các trang trại có sự phát triển bền vững”. Từ đó đưa ra hai nhóm nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của vùng cây ăn quả và xây dựng các chỉ tiêu
đánh giá tính bền vững của mô hình trang trại. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá tính
bền vững của các mô hình trang trại ở vùng cây ăn quả, cùng với những phân tích,
dự báo, đánh giá những tác động, đề tài đưa ra 5 quan điểm, 2 nhóm giải pháp
(nhóm giải pháp chung và nhóm giải pháp đối với trang trại) cũng như đề xuất lựa
chọn một số mô hình phát triển bền vững các trang trại ở vùng cây ăn quả.
8
Công trình “Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với mục tiêu bền vững ở
khu vực duyên hải Nam Trung bộ” của Đào Đình Hòa cũng đã lý giải sự cần thiết
phải phát triển KTTT theo hướng triển bền vững, mối quan hệ giữa phát triển
KTTT với môi trường, những nguyên tắc quy hoạch trang trại, những bất cập trong
phát triển KTTT hiện nay và đưa ra một số vấn đề cần phải giải quyết để phát triển
KTTT theo hướng bền vững. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cho rằng
phát triển KTTT bao gồm ba nội dung: phát triển về mặt số lượng; phát triển về mặt
chất lượng và cuối cùng là phát triển về mặt cơ cấu. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của KTTT, bao gồm 7 chỉ tiêu,
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển KTTT theo hướng bền vững ở
tỉnh Phú Thọ dưới góc độ kinh tế chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: nghiên cứu phát triển kinh tế trang trai theo hướng
bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.
Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu từ năm 2009 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về
Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ, từ đó xây
dựng hệ thống quan điểm và giải pháp phù hợp để đẩy mạnh phát triển loại
hình kinh tế này theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm:
phương pháp nghiên cứu đặc thù của Kinh tế chính trị Mác - Lênin (phương
pháp trừu tượng hóa khoa học), cùng các phương pháp phân tích, thống kê, so
sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá và phương pháp quan sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa của đề tài
10
Luận văn góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về
phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ.
Góp phần cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho Đảng bộ, chính
quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTTT theo hướng bền vững
ở tỉnh Phú Thọ thời gian tới.
lớn; có cách thức tổ chức quản lý tiến bộ; áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công
nghệ vào sản xuất; hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
Khi bàn đến phạm trù “Kinh tế trang trại”, theo Nghị quyết số
03/2000/NQ-CP của Chính phủ chỉ rõ: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng
hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng
quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ
sản” [8]. Dưới góc độ quản lý kinh tế, đây được xem là khái niệm chung nhất về
KTTT ở nước ta hiện nay, nó chỉ ra những nội dung cốt lõi của KTTT là sản xuất
12
hàng hóa; nguồn gốc chủ yếu từ kinh tế hộ phát triển lên; mục tiêu là mở rộng,
nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp; sản xuất gắn liền với thị trường.
Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, cần đảm bảo được những
nội dung cơ bản, đó là: 1- KTTT là phạm trù kinh tế chỉ một loại hình sản xuất
hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp; phản ánh tổng hợp các mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên, giữa người với người trong quá trình sản xuất nông
nghiệp. Đó là quá trình tổ chức lại sản xuất và phân công lại lao động chủ yếu ở
những hộ gia đình nông dân từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán chuyển sang
sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Đó là quá trình không ngừng đổi mới,
nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các yếu tố sản xuất. Trong quá trình này mọi
hoạt động SXKD phải tuân theo các quy luật kinh tế khách quan. 2- Hiệu quả của
KTTT là tạo ra nhiều nông phẩm hàng hóa có giá trị cho thị trường. 3- mục tiêu là
không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân.
Từ những nội dung ở trên có thể rút ra: Kinh tế trang trại là một phạm trù
kinh tế, chỉ một loại hình kinh tế hàng hoá trong nông, lâm, ngư nghiệp; phản ánh tổng hợp các mối quan hệ trong quá trình tổ chức lại sản
xuất, phân công lại lao động chủ yếu của những hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn; đó là quá trình khai
thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, nhằm cải thiện, nâng cao đời
sống người nông dân.
hệ quan trọng nhất, bởi vì nó quyết định đến kết quả của hoạt động SXKD. Nếu hai mối quan hệ này giải quyết không tốt sẽ dẫn
đến hiệu quả KT - XH không cao, KTTT khó tồn tại và phát triển.
Tổ chức lại sản xuất trong KTTT, thực chất đó là quá trình tích tụ ruộng đất và tập trung các yếu tố
sản xuất
khác đến một mức độ nhất định, đủ điều kiện để sản xuất hàng hoá lớn; đó là quá trình chuyển
dịch cơ cấu sản xuất từ nhỏ lẻ, manh mún, phân tán, chuyển sang sản
hóa tập trung, quy mô lớn, hướng tới những loại cây trồng, vật nuôi cho giá trị kinh tế cao, sản
xuất hàng
xuất luôn gắn liền với
thị trường.
Phân công lại lao động trong KTTT gồm phân công ngay trong nội bộ từng
trang trại và giữa các trang trại với nhau. Sự phân công đó vừa mang tính chuyên
môn hóa vừa kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm khai thác tối đa các nguồn tự
nhiên, lao động, vật tư kỹ thuật và các cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có để mang lại hiệu
quả cao, đồng thời cũng nhằm khắc phục tính thời vụ trong sản xuất.
Trong quá trình SXKD, các yếu tố sản xuất luôn được khai thác sử
dụng có hiệu quả và không ngừng được đổi mới nâng cao để tăng năng suất
lao động, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành sản phẩm.
Mục tiêu phát triển KTTT là nhằm thoát nghèo, vươn lên làm giàu của
những hộ gia đình nông dân, đồng thời KTTT cũng phải vươn tới mục tiêu xã
hội để phát triển bền vững.
* Quan niệm phát triển kinh tế trang trại
với người lao động; mối quan hệ giữa người lao động với người lao động, …
Phát triển KTTT nhằm hướng tới mục tiêu là gia tăng năng lực sản xuất,
nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả SXKD nông nghiệp, đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy, phát triển KTTT là phát triển hình thức tổ chức SXKD trong
nông nghiệp, hướng tới mục tiêu gia tăng năng xuất, chất lượng, hiệu quả SXKD
nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân.
1.1.2. Phát triển bền vững và phát triển theo hướng bền vững
* Phát triển bền vững
Ngày nay, PTBV là xu hướng tất yếu trong tiến trình phát triển của nhân
loại, là vấn đề có tính toàn cầu tác động đến việc xây dựng chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, dân tộc. Xét về nguồn gốc, triết lý “phát triển bền
vững” được biết đến rất sớm. Học thuyết Mác - Lênin đã coi con người là một bộ
15
phận không thể tách rời của giới tự nhiên. C.Mác khẳng định: “Chừng nào loài
người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau” [5, tr.25].
Ph.Ăng - ghen cũng đã cảnh báo về “sự trả thù của giới tự nhiên” khi chúng bị
tổn thương. Đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX, thuật ngữ “phát triển bền vững”
đã xuất hiện trong các phong trào bảo vệ môi trường. Tuy vậy, phải đến Hội nghị của
Liên hợp quốc về Môi trường con người (năm 1972 tại Stockholm) tầm quan trọng
của vấn đề môi trường và PTBV mới chính thức được thừa nhận. Đến năm 1987,
trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Chủ tịch Hội đồng Thế giới về Môi
trường và Phát triển (WCED - Liên hợp quốc) đã chỉ rõ: “Phát triển bền vững là sự
phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [7, tr.64].
Tiếp đó, năm 1992 các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển
của Liên hiệp quốc Rio de Janeiro đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới chính phủ của
tất cả các nước về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã
* Phát triển theo hướng bền vững
Cùng với khái niệm về PTBV, các quan niệm về phát triển theo hướng bền
vững cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và từng bước hoàn thiện.
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều
thống nhất cần đạt được một số điểm chính đó là: đạt được sự hòa hợp của các
chu trình sinh học tự nhiên và dần kiểm soát được chúng; bảo vệ và khôi phục độ
phì của đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phải dần tối ưu hóa việc quản lý
và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; giảm thiểu việc sử dụng các nguồn
không tái sinh được và nguồn đầu vào của sản xuất phải mua từ bên ngoài; đảm
bảo đầy đủ và đáng tin cậy nguồn thu nhập của người lao động; khuyến khích
được gia đình và cộng đồng cùng tham gia; giảm thiểu được tác động xấu lên sức
khỏe con người, sự an toàn các loài hoang dã, chất lượng nước và môi trường.
Như vậy, phát triển theo hướng bền vững là sự phát triển từ trạng thái chưa
bền vững sang trạng thái phát triển bền vững (hay phát triển đến ngưỡng cho phép
- bảo đảm ổn định, an toàn, an ninh) về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
1.2. Quan niệm, tiêu chí và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ
1.2.1. Quan niệm phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền
vững ở tỉnh Phú Thọ
17
Trên cơ sở những nội dung phân tích ở trên, tiếp cận phạm trù phát triển
KTTT theo hướng bền vững nói chung dưới góc độ kinh tế chính trị, tác giả cho
rằng:
Phát triển KTTT theo hướng bền vững là phát triển KTTT một cách
hiệu quả trong hiện tại nhưng không làm cản trở hay tổn hại đến sự phát
triển KTTT trong tương lai ở các vùng miền, địa phương và cả nước - sự phát
triển từ trạng thái chưa bền vững sang trạng thái phát triển bền vững về kinh
tế, xã hội và môi trường sinh thái.
Kết quả và hiệu quả SXKD là nội dung trực tiếp phản ánh tính bền vững
về mặt kinh tế trong quá trình phát triển KTTT. Nội dung này cũng thể hiện khả
năng thích nghi, ứng phó với những biến động của môi trường kinh tế đến hoạt
động sản xuất trong KTTT ngày càng tốt hơn; năng lực cạnh tranh và năng lực
liên kết hoạt động SXKD của trang trại không ngừng tăng lên.
Thứ hai, phát triển KTTT theo hướng
bền vững về mặt xã hội:
phát triển KTTT theo
hướng bền vững xét theo nghĩa rộng là việc thúc đẩy, phát triển và giải quyết tốt
các mặt của quan hệ sản xuất, trực tiếp là quan hệ sở hữu; quan hệ lợi ích giữa chủ
trạng trại với người lao động; quan hệ giữa chủ trang trại với Nhà nước; quan hệ
giữa những người lao động với nhau trong hình thức SXKD trang trại theo đúng
quy định của pháp luật.
Trước hết, phát triển KTTT phải gắn liền với việc giải quyết việc làm, nâng cao
thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống cho
nhân dân tạo tính bền vững về xã hội trên địa bàn nông thôn, miền núi. Cùng với đó,
phát triển KTTT theo hướng bền vững về xã hội phải góp phần tích cực vào quá
trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Phát triển KTTT phải góp phần thu hẹp khoảng cách giàu
nghèo giữa các hộ dân cư trên từng địa bàn cụ thể; thu hẹp khoảng cách phát
triển giữa các vùng, giảm chênh lệch về trình độ phát triển giữa khu vực nông
thôn, miền núi với thành thị.
Phát triển KTTT theo hướng bền vững cần chú ý giải quyết hài hòa các mối
quan hệ lợỉ ích (lợi ích của chủ trang trại với lợi ích người lao động làm thuê, lợi
ích của các hộ gia đình xung quanh, lợi ích của các doanh nghiệp chế biến, tiêu
thụ hàng nông sản,v.v…); không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sống xung
quanh, góp phần ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hồi trên từng địa phương. Đây
4- Bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo ra cấu trúc các hệ sinh thái và nơi cư
trú, nuôi dưỡng những nguồn tài nguyên thiết yếu cho cuộc sống. Đa dạng sinh
học bao gồm các hệ sinh thái duy trì ôxy trong không khí, làm giàu đất, lọc sạch
nước, tránh được những tác hại do lũ lụt, bão và điều hòa khí hậu. Phát triển
KTTT theo hướng bền vững về môi trường còn là bảo vệ, gìn giữ, khái thác hiệu
20
quả nguồn gen quý hiếm của động, thực vật cũng như năng lực phòng chống và
giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh của trang trại.
5- Phát triển KTTT theo hướng bền vững về môi trường sinh thái phải đảm
bảo các trang
trại chủ động ứng phó trước những biến đổi của thời tiết, khí hậu, dịch
bệnh để vừa giảm được mức độ thiệt hại do thiên tai, địch họa gây ra vừa cải thiện
môi trường sinh thái.
Phát triển KTTT theo hướng bền vững là công việc khó khăn và phức tạp,
không dễ dàng để giải quyết một cách tối ưu và toàn diện trong một sớm, một
chiều. Vì vậy, việc xây dựng nội dung phát triển KTTT theo hướng bền vững có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và cần phải căn cứ vào nội dung CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX; căn cứ vào Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 của Đại hội X, Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của Đại hội XI, Phương hướng, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội 2016 -2020 của Đại hội Đảng lần thứ XII và căn cứ vào Định
hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của
Việt Nam), cũng như đặc điểm riêng của từng địa phương.
Từ quan niệm và nội dung phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền
vững ở trên, tác giả đưa ra quan niệm về phát triển KTTT theo hướng bền vững
nhằm khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực góp phần phần phát triển
nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu cho
nông dân. Phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hoá, chú trọng
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh trên thị
trường. Phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững nhằm thực hiện Đề án
“tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển
bền vững” gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.
Ba là, phương thức tiến hành phát triển KTTT theo hướng bền vững. Phát triển
kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ được thực hiện thông qua các
hoạt động chủ yếu sau: thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đồng bộ và tạo
điều kiện để các chính sách đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư KHCN và đào tạo
lao động đến với các hộ làm trang trại; thông qua những chính sách thị trường
và tiêu thụ sản phẩm phù hợp nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
trang trại; thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông,
22
điện, thuỷ lợi,… ở các vùng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại, đồng thời
hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý SXKD, khoa học kỹ
thuật, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm cho các chủ trang trại, lao động
trang trại để quản lý, hoạt động SXKD đạt hiệu quả; thông qua phát huy sức
mạnh của quần chúng nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa
phương; thông qua các doanh nghiệp đầu tư, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu
thụ sản phẩm cho khu vực trang trại, thông qua đẩy mạnh hoạt động thu hút
đầu tư từ các nguồn khác nhau cho phát triển kinh tế trang trại: thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu tư từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, …
1.2.2. Tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững ở tỉnh Phú
Thọ
Căn cứ vào nội dung phát triển KTTT theo hướng bền vững ở trên, tác
Hiệu quả sử dụng
lao động (Hl)
Hiệu quả sử dụng
đất đai (Hđ)
Công thức tính
Hv ═
Hl =
Ttn
Tv
Ttn
Tl
Hđ =
Giải thích ký hiệu
- Ttn: tổng thu nhập của KTTT.
- Tv: tổng vốn SXKD của các trang trại.
-Tl: tổng số lượng lao động sử
dụng trong các trang trại.
- Ts: tổng diện tích đất đai sử dụng
của các trang trại.
Khi dựa vào hệ thống các tiêu chí trên để đánh giá, xu hướng chung là các
giá trị của chúng đều tăng theo thời gian (năm sau cao hơn năm trước). Song chủ
yếu phải dựa vào sự gia tăng của tiêu chí về quy mô các nguồn lực của trang trại
và tiêu chí về hiệu quả SXKD để đánh giá. Bởi đó là những tiêu chí cơ bản, phản
ánh rõ nét mức độ đạt được của phát triển KTTT theo hướng bền vững về kinh tế.
thải, nước thải; mức độ ô nhiễm môi trường, tài nguyên nước, mức độ sử dụng các loại hóa chất độc hại; diện
tích đất được sử dụng trồng rừng của các trang trại lâm tăng lên qua các năm, …
Đánh giá sự phát triển KTTT theo hướng bền vững ở tỉnh Phú Thọ hiện nay cần được dựa trên những nội dung và
hệ thống tiêu chí trên. Tuy nhiên, chỉ khi nào sự phát triển của KTTT đạt được đồng thời trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi
trường thì mới khẳng định phát triển KTTT đạt được sự phát triển theo hướng bền vững và khi đó các tiêu chí đánh giá tất yếu sẽ
25