LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI TRONG lực LƯỢNG vũ TRANG địa PHƯƠNG THÀNH PHỐ cần THƠ HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố hàng
đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội, mà
hơn thế nữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của mọi quá
trình lịch sử. Là sản phẩm của lịch sử, con người còn là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính mình. Chính vì vậy, Đảng ta luôn xác định con người Việt Nam
vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngay từ Đại hội lần thứ III năm 1960, Đảng ta đã khẳng định: "Con
người là vốn quý nhất" [9, tr. 77], Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đưa ra luận
điểm về "Con người mới - con người làm chủ tập thể" [17, tr. 64]. Kế tiếp các
kỳ Đại hội VI, VII, VIII trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng
định: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững" [14, tr. 85]. Và Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng
định: "Con người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [16, tr. 201]. Điều đó cho thấy,
tư tưởng, quan điểm của Đảng ta về con người, về vai trò của nhân tố con
người (NTCN) là nhất quán. Song, trong thực tiễn không phải thời kỳ nào
chúng ta cũng thực hiện đầy đủ tư tưởng trên. Trước đổi mới, chúng ta xem
xét đánh giá con người, NTCN có phần chung chung, trừu tượng. Từ Đại hội
VI năm 1986 đến nay, con người mới được xem xét một cách cụ thể hơn. Các
chủ trương, chính sách để phát huy NTCN ngày càng rõ ràng, thiết thực hơn.
Cho nên, trong sự nghiệp đổi mới đất nước việc phát huy NTCN Việt Nam đã
có bước chuyển biến đáng kể về mọi mặt, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới đất
nước phát triển.
Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) có sự phát triển mới. Quân
đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) nói chung và lực lượng vũ trang (LLVT)


Khả Phiêu: "Sự thách thức đối với quân đội nhân dân lớn nhất là sự thách
thức trên mặt trận chính trị, tư tưởng" [53, tr. 61]. Tình hình đó, đòi hỏi cán


3

bộ, chiến sĩ quân đội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức
trong sáng, cảnh giác mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, SSCĐ và chiến đấu
thắng lợi trong mọi tình huống. Quân đội ta không chỉ là công cụ bạo lực vũ
trang chủ yếu, là lực lượng chính trị đặc biệt trung thành và tin cậy của Đảng,
của Nhà nước và của nhân dân, mà còn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng
nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và chiến tranh nhân dân (CTND), sẵn sàng
chống vũ trang xâm lược của kẻ thù, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng,
bảo vệ chế độ và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương,
đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với yêu cầu, chức
năng, nhiệm vụ mới, đòi hỏi quân đội nói chung và LLVT địa phương thành
phố Cần Thơ nói riêng, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu mới. Đó
là, thiện chiến trong chiến đấu, thiện chiến trong đấu tranh chính trị, tư tưởng.
Cần Thơ là thành phố có vị trí đặc biệt quan trọng, không những là trung
tâm về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật... mà còn là địa bàn chiến
lược quân sự quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cần Thơ là
đầu mối giao thông thuận tiện về đường thủy và đường bộ nối với các tỉnh
miền Tây sông Hậu và thành phố Hồ Chí Minh. Đảng bộ, dân và quân thành
phố Cần Thơ đã và đang dồn hết sức xây dựng phát triển kinh tế - xã hội,
xứng đáng là thành phố trực thuộc Trung ương. Trong nhiệm vụ BVTQ,
thành phố Cần Thơ là nơi trực tiếp xây dựng tiềm lực, thế trận QPTD, là nơi
trực tiếp ngăn ngừa và đánh bại chiến lược "DBHB", bạo loạn lật đổ ở khu
vực này. Khi có chiến tranh, thành phố Cần Thơ là khu vực phòng thủ quan
trọng vừa là tiền tuyến chiến đấu, vừa là hậu phương chi viện sức người, sức
của để BVTQ.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình hoạt động thực tiễn của LLVT
địa phương thành phố Cần Thơ: Xây dựng, huấn luyện và SSCĐ. Dựa vào kết
quả điều tra, khảo sát thực tế về thực trạng NTCN, cũng như việc phát huy


7

NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ ở một số cơ quan, đơn vị
trực thuộc Bộ chỉ huy quân sự thành phố.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, chính sách và đường lối của
Đảng và Nhà nước ta; các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy quân sự Trung
ương, Tổng Cục chính trị, Đảng ủy quân sự Quân khu 9, Thành ủy Cần Thơ
và Đảng ủy quân sự thành phố Cần Thơ.
- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận của triết học
Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết
hợp các phương pháp khác: lịch sử và lôgíc, điều tra xã hội học, so sánh, đối
chiếu...
6. Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò NTCN trong LLVT, đặc biệt ở thành
phố Cần Thơ, cũng như những bài học kinh nghiệm để phát huy NTCN trong
LLVT địa phương thành phố Cần Thơ.
- Phân tích thực trạng NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần
Thơ, đề ra một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy NTCN của LLVT địa
phương thành phố Cần Thơ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy NTCN trong LLVT địa
phương thành phố Cần Thơ đối với nhiệm vụ BVTQ; nhiệm vụ quốc phòng,
công tác QSĐP trong tình hình mới.

được đặt ra và các nhà tư tưởng, các trường phái triết học quan tâm nghiên
cứu. Suy cho cùng, chính từ con người, vấn đề cơ bản của triết học mới được
xác định, cũng như những vấn đề về thế giới quan và phương pháp luận mới
được đặt ra. Không phải C. Mác là người đầu tiên phát hiện vấn đề con người
là vấn đề trung tâm của thế giới để đặt ra vấn đề giải phóng xã hội loài người;
mà trước đó, các trường phái triết học cũng đề cập vấn đề này trên nhiều bình
diện khác nhau. Nhưng chỉ có C. Mác mới xem xét vấn đề con người một
cách cụ thể, sâu sắc và toàn diện trên quan điểm duy vật biện chứng bằng sự
kế thừa rất biện chứng những giá trị khoa học đã có trong lịch sử triết học về
con người. Các nhà triết học trước C. Mác do hạn chế về thế giới quan, hoặc
do hạn chế về điều kiện lịch sử nên vấn đề con người giải thích theo hướng
duy tâm thần bí, siêu hình.
Sai lầm của các nhà triết học duy tâm khi coi bản chất con người là
sản phẩm của các đấng siêu nhiên tối cao, là hiện thân của "tinh thần tuyệt
đối", là kết quả của sự "tha hóa" của tinh thần tuyệt đối mà có, hoặc là sản
phẩm của ý thức chủ quan của chính bản thân con người. Còn quan điểm của
các nhà triết học duy vật trước C. Mác cho rằng, con người là sản phẩm của tự


10
nhiên, là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Họ còn cho rằng, con người
bẩm sinh là một sinh vật có tính xã hội. Họ chỉ thấy sự tồn tại hiện thực của
con người trong mối quan hệ với tự nhiên mà không hề xét đến mối quan hệ
chi phối cuộc sống của họ. Cách khác, họ thừa nhận tác động của môi trường
đối với sự cải biến con người, mà họ giải thích không đúng với bản chất con
người và vai trò của con người trong thực tiễn cách mạng, cũng như vai trò
của thực tiễn đối với việc hình thành và phát triển con người.
Chỉ có C. Mác và Ph. Ăngghen nghiên cứu, nhận thức về con người
mới có sự thay đổi căn bản về chất so với các nhà triết học khác.
Xuất phát từ con người hiện thực, C. Mác vận dụng phép biện chứng

con người tự hoàn thiện chính mình, tự khẳng định mình trước tự nhiên.
Con người có trước xã hội. Xã hội loài người hiểu theo đúng nghĩa
của nó khi tính cộng động và những mối quan hệ xã hội con người được hình
thành và thiết lập vững chắc. Chỉ có trong đời sống thực tiễn, con người mới
được hình thành và ngày càng hoàn thiện. C. Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu
sâu sắc những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và chỉ ra
rằng: Con người không do ai sáng tạo ra mà là sản phẩm cao nhất trong quá
trình phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Đây là bước ngoặt cách mạng trong
nhận thức về bản chất con người do hai ông đem lại.
C. Mác chỉ rõ rằng, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều gắn với một
phương thức sản xuất vật chất nhất định, khi phương thức sản xuất vật chất
biến đổi thì lực lượng sản xuất cũng biến đổi theo. Nhân tố quyết định sự biến
đổi đó chính là hai yếu tố: người lao động và tư liệu sản xuất. Con người cùng
với công cụ lao động do con người tạo ra đã quyết định sự phát triển của xã
hội. Ngược lại, sự phát triển của xã hội đến lượt nó lại quyết định sự hoàn
thiện và phát triển chính bản thân con người. Đây là luận điểm có ý nghĩa
quan trọng mà C. Mác đã vạch ra, là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu con
người, NTCN trong xã hội hiện nay. C. Mác và Ph.Ăngghen đã viết:
Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những
tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực


12

mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những
cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt
vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những
điều kiện do họ hoạt động của chính họ tạo ra [38, tr. 28-29].
Chính việc đưa quan điểm thực tiễn vào việc nghiên cứu con người,
C. Mác và Ph.Ăngghen đã chuyển từ những suy luận tư biện về con người

phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội và cần phải phán
đoán lực lượng của bản tính anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng
của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội [37,
tr. 200].
Con người tồn tại, phát triển và tham gia vào các hoạt động đời sống
hiện thực cần phải thỏa mãn những tiền đề về nhu cầu tự nhiên như một cá thể
sinh vật, xã hội. Và chính hoạt động sáng tạo trong đời sống hiện thực đã đem
lại sự hoàn thiện NTCN. Theo C. Mác, giải phóng con người chính là hoàn
thiện NTCN, hình thành nên những cá nhân tự do, làm phong phú và lành
mạnh các quan hệ xã hội của con người. Xét về bản chất, phát triển con người
là quá trình giải phóng NTCN để hoàn thiện năng lực người. Con người mang
bản chất người nhiều hơn. Qua mỗi giai đoạn cách mạng, con người được hình
thành và hoàn thiện từng bước, khắc phục sự tha hóa của con người, để con
người hoạt động với tư cách là chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo vì sự phát
triển xã hội.
Tóm lại, triết học Mác đã góp phần thực hiện mục tiêu giải phóng con
người khỏi áp bức bất công, xây dựng cuộc sống con người văn minh, hạnh
phúc. C. mác đã nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề con người; đồng
thời đặt ra những điều kiện cần thiết để con người phát triển toàn diện, hài
hòa và đạt tới tự do khi đã nhận thức được cái tất yếu. Chính lý luận của chủ
nghĩa Mác về con người và bản chất con người đã đem lại phương pháp tiếp
cận mới trong việc giáo dục, xây dựng con người, phát huy NTCN.
1.1.2. Khái niệm nhân tố con người


14
NTCN là một khái niệm rộng được các nhà khoa học Việt Nam và các
quốc gia trên thế giới tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều lĩnh vực khác nhau, góc
độ khác nhau. Họ tìm kiếm con đường, giải pháp để phát huy tính tích cực xã
hội của con người trong đời sống thực tiễn. Quan niệm về NTCN của một số

không được sử dụng chúng với tư cách như là công cụ nhận thức khoa học.
1.1.3. Khái niệm nhân tố con người trong lực lượng vũ trang
NTCN trong LLVT là sự vận dụng khoa học đối với khái niệm chung
về NTCN nhằm mục đích nghiên cứu một chủ thể xác định là LLVT nói
chung và LLVT địa phương thành phố Cần Thơ nói riêng nhằm khai thác
chiều sâu về những đặc trưng riêng có của con người trong LLVT gắn với quá
trình thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay.
LLVT địa phương thành phố Cần Thơ mà đề tài nghiên cứu trong luận
văn này là những con người cụ thể (cán bộ, chiến sĩ) đang làm nhiệm vụ trong
các cơ quan, đơn vị, nhà trường và địa phương. Họ là chủ thể của quá trình
thực hiện công tác quân sự, quốc phòng ở thành phố Cần Thơ, giữ vai trò chủ
yếu trong xây dựng củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã
hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Là một bộ phận của QĐNDVN, LLVT địa phương thành phố Cần Thơ
được thành lập ngày 30 tháng 7 năm 1945. Trải qua 59 năm xây dựng, chiến đấu
và trưởng thành, LLVT địa phương thành phố không ngừng lớn mạnh, xây
dựng, huấn luyện, SSCĐ cao; từng bước xây dựng LLVT địa phương là đội
quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bao gồm: lực lượng
thường trực, lực lượng DBĐV và lực lượng DQTV được liên kết với nhau theo
nguyên tắc tổ chức của quân đội, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong giai
đoạn cách mạng hiện nay. Từ đó cho thấy, hoạt động của LLVT địa phương
thành phố thể hiện những đặc điểm nổi bật mà đề tài tập trung nghiên cứu đối
tượng này.
NTCN trong LLVT là sự tiếp cận khái niệm chung về NTCN, đó là hệ
thống các yếu tố, các đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, tự giác,
sáng tạo của con người LLVT, là một chỉnh thể thống nhất giữa hoạt động


16


17
đại và tương lai có thể chiến đấu, đánh thắng vũ khí công nghệ cao. "Chiến
tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại thì đòi hỏi phải có nhân lực có chất
lượng cao" [26, tr. 191].
Thứ hai, phẩm chất và năng lực của cán bộ, chiến sĩ LLVT địa
phương thành phố Cần Thơ được hình thành trong quá trình đào tạo, huấn
luyện; đặc biệt, là rèn luyện thử thách trong thực tiễn. Cán bộ, chiến sĩ phải
trải qua quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện trong quân đội nói chung và
trong các cơ quan, đơn vị nói riêng mới có đủ những kiến thức nhất định về
chính trị, quân sự và giác ngộ sâu sắc mục đích ý nghĩa của nhiệm vụ quân
sự, quốc phòng BVTQ hiện nay. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương
thành phố hình thành những tình cảm, thái độ, hành động tích cực phù hợp
với các chuẩn mực đạo đức, phong cách, chính trị, tư tưởng của LLVT, quân
đội; từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật theo yêu
cầu nhiệm vụ và chức trách được giao.
Phẩm chất và năng lực của con người là sản phẩm của quá trình phát
triển lâu dài về mặt lịch sử - xã hội.
Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài và làm thay đổi
tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của nó.
Con người phát triển những tiềm lực đang "ngái ngủ" ở trong bản
tính đó và bắt sự hoạt động của những tiềm lực ấy phải phục tùng
quyền lực của mình [39, tr. 17].
Đặc điểm hoạt động của cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành phố
trong nhiệm vụ BVTQ đặt ra yêu cầu rất cao là phải phát huy những tiềm lực
đang "ngái ngủ" trong con người, đó là năng lực suy nghĩ và hành động tự
giác, độc lập sáng tạo trong học tập, công tác và chiến đấu.
Con người trong LLVT địa phương thành phố được tổ chức theo một
hệ thống nhất định. Hệ thống đó là sức mạnh chiến đấu bao gồm cả số lượng





19

lối sống lành mạnh, tiến bộ, văn minh, yêu mến thiết tha gắn bó với quân
đội, SSCĐ BVTQ. "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức
thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [46, tr 209]. Phải
hết lòng thương yêu đồng đội, đoàn kết giúp đỡ nhau mọi mặt, khắc phục
khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, góp
phần xây dựng đơn vị VMTD.
Tóm lại, phẩm chất và năng lực của cán bộ, chiến sĩ LLVT địa
phương thành phố được trải nghiệm trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu và
trưởng thành, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đi trước xây dựng nên hình ảnh
"Người chiến sĩ lực lượng vũ trang thành phố Cần Thơ" với những đặc điểm
chung có giá trị nhân cách hết sức tiêu biểu của "Bộ đội Cụ Hồ".
1.2. YÊU CẦU CẤP BÁCH PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ HIỆN NAY

1.2.1. Vai trò nhân tố con người trong lực lượng vũ trang địa
phương thành phố Cần Thơ
Con người là chủ thể của quá trình phát triển xã hội với những tiềm
năng to lớn về hoạt động cải tạo xã hội. Cho nên, phát huy NTCN phải đặt
trong mối quan hệ giữa khai thác, bồi dưỡng và phát triển. Mục tiêu vì con
người không chỉ là tạo điều kiện tối đa cho sự phát triển tự do của mỗi cá
nhân mà còn phải bảo đảm cho sự phát triển của mỗi cá nhân không nằm
ngoài sự phát triển tự do của mỗi người. Nên mọi dự án, chiến lược phát triển
xã hội bao giờ cũng tập trung cho sự chuẩn bị về NTCN, đặt con người vào vị
trí trung tâm của mọi quá trình biến đổi xã hội, coi đó là nguồn lực nội sinh
quyết định sự phát triển. "Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con
người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động" [11, tr. 36]. Song, vấn đề

quá trình tìm kiếm, phát hiện con đường và biện pháp, nguyên nhân chủ quan
và điều kiện khách quan để khai thác, bồi dưỡng và phát triển tính tích cực, tự
giác, sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng BVTQ một cách có hiệu quả nhất. Phát huy NTCN trong LLVT địa


21

phương thành phố vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong thực hiện nhiệm vụ
BVTQ, đồng thời cũng là nội dung rất quan trọng của việc phát huy NTCN
của quân đội ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
LLVT địa phương thành phố Cần Thơ được xây dựng theo những
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mang bản
chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, phù hợp với yêu
cầu nhiệm vụ chính trị trong tình hình diễn biến phức tạp hiện nay. Thực tiễn
xây dựng và chiến đấu đã khẳng định LLVT địa phương thành phố Cần Thơ
là đội quân cách mạng, là lực lượng trung thành và công cụ bạo lực đáng tin
cậy để bảo vệ Đảng, Nhà nước; đồng thời là lực lượng nòng cốt xây dựng nền
QPTD và CTND. Cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành phố từ nhân dân
mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trải qua quá trình giáo dục, rèn luyện, huấn
luyện và chiến đấu trong thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng đã thể hiện
phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng "Bộ đội Cụ Hồ", một hình
ảnh tiêu biểu của con người mới XHCN trong sự nghiệp BVTQ hiện nay.
Vai trò NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ là biểu
hiện của người quân nhân vừa mang cái chung của người chiến sĩ quân đội,
đồng thời mang cái riêng của LLVT địa phương, được thể hiện thông qua sức
mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Sức mạnh chiến đấu của LLVT địa
phương thành phố bao gồm hai yếu tố: tinh thần và vật chất. Đó là, giác ngộ
chính trị, tinh thần chiến đấu sâu sắc, ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật
nghiêm minh, trình độ tổ chức lực lượng chiến đấu, trình độ hiệp đồng, phối

hiện sức mạnh tổng hợp của trí tuệ, thể chất và các điều kiện đảm bảo hậu
cần, kỹ thuật; tạo nên sức mạnh vật chất - sức mạnh của cán bộ, chiến sĩ đối
với nhiệm vụ xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của LLVT địa
phương.
Trong hoạt động quân sự, thực tiễn chiến đấu của người chiến sĩ trên
chiến trường, là sự kết hợp giữa hai yếu tố tinh thần và vật chất. Sức mạnh vật
chất là sự tổng hợp về trí tuệ và thể chất của người chiến sĩ. Thân thể cường
tráng, bền bỉ, dẻo dai chính là một yếu tố quyết định đến chiến thắng: "Thân


23

thể khỏe mạnh thì nhất định thắng,...Thân thể yếu đuối thì không thể thắng
được" [45, tr. 454]. Sức khỏe của người chiến sĩ tốt kết hợp với vũ khí, trang
bị và kỹ thuật thì sẽ trở thành sức mạnh vật chất để giành chiến thắng. Cho
nên, sức mạnh vật chất của NTCN phải là quá trình thống nhất biện chứng
giữa con người và vũ khí; sức mạnh chiến đấu của con người, NTCN nhân lên
khi được trang bị và sử dụng thành thạo vũ khí, kỹ thuật có trong tay và năng
lực hoạt động thực tiễn, năng lực tổ chức chiến đấu. Đó chính là điểm hội tụ
sức mạnh vật chất của NTCN quyết định thành bại trong chiến đấu.
Trong các giai đoạn cách mạng, LLVT địa phương thành phố đã tham gia
đầy đủ các mặt hoạt động, nâng cao trình độ SSCĐ và sức mạnh chiến đấu của
toàn quân, góp phần quan trọng trong thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
quân đội, tô đậm vẻ đẹp bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ". Là đội quân
chiến đấu, công tác và sản xuất, LLVT địa phương thành phố đã thể hiện sức
mạnh chiến đấu, hoạt động quân sự trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh
BVTQ, thực sự là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong đội hình chiến
đấu và hoạt động của LLVT ba thứ quân của quân đội ta. Tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã chỉ rõ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh:
"Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an

LLVT địa phương thành phố để bảo vệ và phát triển lực lượng, giành thế
chủ động chiến trường. Đó cũng là quy luật tồn tại của LLVT địa phương
thành phố. Trên chiến trường Cần Thơ, địch luôn càn quét tìm lực lượng ta
để tiêu diệt, LLVT địa phương thành phố luôn phải đương đầu chiến đấu lại
với binh hỏa lực rất mạnh của chúng để chiến thắng và tồn tại. Chính vì vậy,
cách đánh độc lập của LLVT địa phương thành phố đã khẳng định về sở
trường của LLVT địa phương: "Nghệ thuật dao phay", "nghệ thuật nạng giàn
thun", "nghệ thuật nuôi ong vò vẽ"... để đánh giặc rộng rãi, muôn màu,
muôn vẻ đặc biệt lợi hại góp phần giữ thế, tạo lực tiến công liên tục trên
chiến trường, tiêu diệt sinh lực địch, bảo vệ lực lượng ta. Nghệ thuật sử dụng
lực lượng của LLVT địa phương thành phố đã phát huy tinh thần tích cực,
sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, khẳng định tinh thần và ý chí, trí tuệ và tài



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status