Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất phải phù hợp đòi hỏi nền kinh tế hiện đại - 2 - Pdf 19

tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hoà các quan hệ xã hội”.
Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa
con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cùng đều
mang tính xã hội. Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với con người là quan
hệ bản chất nhất bao trùm lên các mối quan hệ khác. Thực tế lịch sử đã chứng
minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân
cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để SXVC mà phải liên
kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau. Từ đó hình
thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động, hành vi của con người.
Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của
mình. Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của
mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Không có giới tự nhiên,
không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản
phẩm của lịch sử. Song điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch
sử - xã hội.
Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sử
trong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh và điều
kiện sẵn có do quá khứ để lại. Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ hai chiều
giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người. Thông qua
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiện các quan hệ
xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật.
b. Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX.
Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân là người lao động”. Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội. nhân tố con người vừa là phương
tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện
ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọi tài
sản vô giá ấy. Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong

khẳng định rằng nhân tố con người đóng vai trò quyết định quá trình lao động sản
xuất ra của cải vật chất.
II.Chiến lược phát triển GD ĐT nguồn nhân lực theo hướng CNH, HĐH ở Việt
Nam trong thời kì quá độ.
1. Tính tất yếu khách quan và nội dung CNH, HĐH của Việt Nam trong thời kí
quá độ.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
a. Tính tất yếu khách quan nước ta phải CNH, HĐH.
Mỗi phương thức sản xuất đều ra đời và tồn tại trên một cơ sở VCKT tương
ứng với nó. Cơ sở VCKT của CNXH là một nền công nghiệp lớn hiện đại, trước
hết là công nghiệp nặng có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại cho công nghiệp
và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, nhằm không ngừng phát triển nền
sản xuất lớn xá hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống nhân dân.
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện hoạt động kinh tế,
dịch vụ và quản lý từ trạng thái sử dụng sức lao động là chính sang trạng thái sử
dụng sức lao động kết hợp với kỹ thuật công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao
động ngày càng cao.
CNH, HĐH là một tính quy luật để xây dựng cơ sở VCKT cho CNXH. Cơ
sở VCKT của một phương thức sản xuất là toàn bộ những tư liệu vật chất trong đó
chủ yếu là công cụ sản xuất mà lao động trong xã hội sử dụng. Cơ sở VCKT của
phương thức sản xuất trước tư bản là hết sức lạc hậu, chủ yếu là công cụ lao động
thủ công. Trong chủ nghĩa tư bản nền đại công nghiệp cơ khí hoá đã tạo cái cốt
cho chủ nghĩa tư bản tồn tại. Nó tự khẳng định mình là một phương thức sản xuất
thống trị trong lịch sử. Việt Nam quá độ lên CHXH bỏ qua giai đoạn tư bản thiếu
một tiền đề VCKT mà chủ nghĩa tư bản để lại. Mặt khác Việt Nam là một nước có
nền kinh tế kém phát triển, chưa có nền sản xuất lớn dựa trên nền tảng công
nghiệp lớn. Do đó để xây dựng CNXH tất yếu nước ta phải CNH, HĐH.
Gắn CNH với HĐH làm cho kinh tế nước ta dần đạt tới trình độ tiên tiến
của thế giới. Thời đại ngày nay cách mạng khoa học công nghệ là một đặc trưng,
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com

nghệ. Nhờ đó cho phép ta khai thác được các nguồn lực trong nước và khắc phục
được nguy cơ tụt hậu kinh tế cũng như thúc đẩy nền sản xuất hướng về xuất khẩu
ra thị trường quốc tế.
Ngoài ra, ta phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế là tổng
thể các ngành, vùng kinh tế trong đó cơ cấu kinh tế ngành là quan trọng được cân
đối về quy mô, về tỉ trọng, phù hợp điều kiện của tự nhiên và xu hướng phân công
hợp tác lao động quốc tế. Trước hết, nó phải phù hợp với các quy luật khách quan
và xu thế phát triển của khoa học công nghệ đồng thời phát huy được lợi thế so
sánh trong nước. Để xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý phải chuyển dịch cơ cấu
gắn liền với phân công lại lao động x• hội theo một tính quy luật. Trong đó tỉ trọng
lao động trong ngành công nghiệp gia tăng, nông nghiệp giảm còn dịch vụ tăng
lên. Tuy nhiên phải luôn luôn đảm bảo tỉ trọng hợp lý giữa chúng một cách tương
đối so với nhau. Mặt khác tỉ trọng lao động giản đơn, lao động cơ bắp giảm còn
lao động phức tạp tăng lên.
2. Chiến lược phát triển GD ĐT nguồn nhân lực nước ta.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
a. Vai trò và thực trạng nguồn nhân lực nước ta.
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực
khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định
nhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực
con người được phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại
nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú.
Các lĩnh vực khoc học khác nhau có thể hiểu nguồn lực theo những cách
khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân
tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau tạo nên sự phát triển
của một sự vật, hiện tượng nào đó. Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là
những yếu tố có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy nền kinh tế đất nước và sự
phát triển xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là nói tới con người
với tư cách là chủ thể của quá trình sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến
đổi xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status