LUẬN VĂN: Phát huy nhân tố con người trong lực lượng vũ trang địa phương thành phố Cần Thơ - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Phát huy nhân tố con người trong lực lượng
vũ trang địa phương thành phố Cần Thơ Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất, là yếu tố hàng đầu, yếu
tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội, mà hơn thế nữa, con
người còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của mọi quá trình lịch sử. Là sản phẩm của
lịch sử, con người còn là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính mình. Chính vì vậy, Đảng ta
luôn xác định con người Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước.

cực từ mặt trái của kinh tế thị trường, làm cho một số cán bộ, chiến sĩ LLVT nói chung
và cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành phố Cần Thơ nói riêng nhận thức chưa đầy
đủ về nhiệm vụ xây dựng quân đội, nhiệm vụ BVTQ, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu
quả trong thực hiện nhiệm vụ và sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Nhiệm vụ BVTQ của nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh cuộc đấu tranh
chính trị thế giới hết sức phức tạp. Các thế lực phản động, thù địch tìm mọi cách chống
phá cách mạng nước ta, chống phá công cuộc xây dựng CNXH của nhân dân ta bằng
chiến lược "DBHB" và bạo loạn lật đổ, kết hợp răn đe quân sự với các loại hình chiến
tranh xâm lược có tính chất, quy mô khác nhau, mà mũi nhọn chống phá của chúng là
lĩnh vực chính trị, tư tưởng, quân đội ta được coi là một trong những đối tượng chủ yếu
nhằm "phi chính trị hóa lực lượng vũ trang". Đúng như nhận định của nguyên Tổng Bí
thư Lê Khả Phiêu: "Sự thách thức đối với quân đội nhân dân lớn nhất là sự thách thức
trên mặt trận chính trị, tư tưởng" [53, tr. 61]. Tình hình đó, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ quân
đội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, cảnh giác mọi
âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, SSCĐ và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. Quân
đội ta không chỉ là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu, là lực lượng chính trị đặc biệt trung
thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân, mà còn là lực lượng nòng cốt
trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và chiến tranh nhân dân (CTND), sẵn
sàng chống vũ trang xâm lược của kẻ thù, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ chế độ và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng;
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ mới, đòi hỏi quân
đội nói chung và LLVT địa phương thành phố Cần Thơ nói riêng, không ngừng nâng cao
sức mạnh chiến đấu mới. Đó là, thiện chiến trong chiến đấu, thiện chiến trong đấu tranh
chính trị, tư tưởng.
Cần Thơ là thành phố có vị trí đặc biệt quan trọng, không những là trung tâm về
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật mà còn là địa bàn chiến lược quân sự quan
trọng của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cần Thơ là đầu mối giao thông thuận
tiện về đường thủy và đường bộ nối với các tỉnh miền Tây sông Hậu và thành phố Hồ Chí

viện Quân chính Lênin, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960); "Học thuyết Mác-Lênin về chiến
tranh và quân đội" (của D.A.Vôn-cô-gô-nốp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1987);
"Hệ thống con người và kỹ thuật quân sự" (của giáo sư, tiến sĩ triết học A.B.Pypco, Nxb
Quân đội nhân dân, 1976). Và đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước ở Việt
Nam, vấn đề con người, NTCN được Đảng, Nhà nước ta chú ý quan tâm. Những kết quả
thu được bằng nhiều công trình của tập thể và cá nhân có liên quan đến các khía cạnh
khác nhau đã được công bố như:
"Con người - những ý kiến mới về một đề tài cũ" (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987);
"Bàn về chiến lược con người" (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1989); "Con người Việt Nam trong
công cuộc đổi mới" (Đề tài KX.07); "Mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí
trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam" (của tác giả Phạm Thanh
Sơn, Luận án PTS triết học, 1994); "Nâng cao chất lượng của nhân tố con người trong
sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân hiện nay" (của tác giả Hoàng Quang Đạt,
Luận án PTS triết học, 1995); "Tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong
xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" (của tác giả Nguyễn Văn Tài, Luận án
tiến sĩ triết học, 1998); "Phát huy nhân tố con người bộ đội pháo binh Việt Nam trong
việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay" (của tác giả Nguyễn Đức Khang, Luận
án tiến sĩ triết học, 2002); "Nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dựng sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" (tác giả Phạm Khắc Ninh,
Luận văn thạc sĩ triết học, 1997).
Và một số công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí, báo chí như:
"Các Mác với vấn đề con người và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa" (tác giả Lê
Thi, tạp chí triết học, số 4, tháng 12/1983); "Mấy vấn đề về "trồng người" trong tư tưởng
Hồ Chí Minh" (tác giả Lê Sỹ Thắng, tạp chí triết học, số 2, tháng 6/1995); "Về con người
Việt Nam trước và sau 10 năm đổi mới" (tác giả Lê Hữu Tầng, tạp chí triết học, số 4,
tháng 8/1997); "Nhân tố con người và những giá trị văn hóa" (tác giả Trường Lưu, tạp
chí triết học, số 1, tháng 3/1993); "Nâng cao năng lực trí tuệ-một công việc cấp bách xây
dựng Quân đội nhân dân trong giai đoạn cách mạng mới" (tác giả Đặng Vũ Hiệp, tạp chí

Nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy quân sự Trung ương, Tổng Cục chính trị, Đảng ủy quân
sự Quân khu 9, Thành ủy Cần Thơ và Đảng ủy quân sự thành phố Cần Thơ.
- Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin
về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp khác:
lịch sử và lôgíc, điều tra xã hội học, so sánh, đối chiếu
6. Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò NTCN trong LLVT, đặc biệt ở thành phố Cần Thơ,
cũng như những bài học kinh nghiệm để phát huy NTCN trong LLVT địa phương thành
phố Cần Thơ.
- Phân tích thực trạng NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ, đề ra
một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy NTCN của LLVT địa phương thành phố Cần
Thơ. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy NTCN trong LLVT địa phương thành
phố Cần Thơ đối với nhiệm vụ BVTQ; nhiệm vụ quốc phòng, công tác QSĐP trong tình
hình mới.
Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo trong giảng dạy ở Trường quân
sự Quân khu 9, Trường QSĐP thành phố Cần Thơ cũng như trong hoạt động thực tiễn
của các cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương. Mặt khác, luận văn góp phần làm phong phú
đường lối quân sự của Đảng ta trên vấn đề NTCN trong xây dựng LLVT địa phương là
nâng cao NTCN và tích cực phát huy NTCN của LLVT nói chung, LLVT địa phương
thành phố nói riêng. Từ đó, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng
bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.

cuộc sống của họ. Cách khác, họ thừa nhận tác động của môi trường đối với sự cải biến
con người, mà họ giải thích không đúng với bản chất con người và vai trò của con người
trong thực tiễn cách mạng, cũng như vai trò của thực tiễn đối với việc hình thành và phát
triển con người.
Chỉ có C. Mác và Ph. Ăngghen nghiên cứu, nhận thức về con người mới có sự
thay đổi căn bản về chất so với các nhà triết học khác.
Xuất phát từ con người hiện thực, C. Mác vận dụng phép biện chứng duy vật vào
việc phân tích các mối quan hệ xã hội và chỉ ra rằng, con người tồn tại với tư cách là
người khi nó gắn với thế giới xung quanh, với cộng đồng và với người khác. Hoạt động
thực tiễn của con người tạo thành hệ thống các mối quan hệ xã hội. C. Mác viết trong
Luận cương về Feuerbach: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu
của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các
quan hệ xã hội" [38, tr. 11]. Điều đó có nghĩa là, những quan hệ xã hội đó được thể hiện
trong toàn bộ hoạt động cụ thể của con người. Chỉ có những con người sống, hoạt động
trong một xã hội nhất định, một thời đại nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định
chứ không có những con người trừu tượng. Con người chỉ có thể bộc lộ và thực hiện
được bản chất của mình trong toàn bộ những quan hệ xã hội cụ thể mà thôi. Chúng ta
không thể dừng lại ở mối quan hệ chật hẹp giữa cơ thể con người và môi trường, mà muốn
hiểu được nó - Con người hiện thực, đời sống hiện thực của con người thì phải xem xét
toàn diện các mối quan hệ. Đó chính là mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã
hội.
Tự nhiên, xã hội và con người là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ gắn
bó chặt chẽ với nhau. Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể sáng tạo ra tự nhiên và
xã hội ở trình độ cao hơn. Cho nên, không có xã hội và tổng hòa các mối quan hệ xã hội
thì sẽ không có con người đúng theo nghĩa của nó. Bản chất của con người hiện thực
được quy định bởi các quan hệ xã hội. Tự nhiên sinh ra con người, là cái có trước con
người, nên con người phụ thuộc vào tự nhiên và các quy luật của tự nhiên. Con người trở thành chính mình là vì không lệ thuộc thụ động vào tự nhiên như những sinh vật khác.

của Hêghen một cách sáng tạo khi cho rằng, con người là sản phẩm của chính họ, cái gọi
là tính người chính là sản phẩm của hoạt động lao động của con người. Hai ông đã khẳng
định rằng, hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Mặt khác, hai ông phê phán
Feuerbach và các nhà triết học duy vật trước kia, rằng họ chỉ thấy giới tự nhiên như là
khách thể mà không nhìn thấy trong giới tự nhiên có hoạt động thực tiễn của con người.
Trong hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra thiên nhiên thứ hai chính từ thiên nhiên
thứ nhất. Con người đã khách thể hóa bản chất của mình vào tự nhiên thuần túy để tạo
nên thiên nhiên thứ hai cho mình. Đây là phát hiện mới của hai ông: con người có khả
năng cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình thông qua hoạt động thực tiễn.
Xuất phát điểm từ thực tiễn, C. Mác đã xây dựng lý luận về vai trò tích cực của
con người-Con người là chủ thể của sự vận động lịch sử, của sự phát triển trong mỗi cá
nhân con người. Nói cách khác, hoạt động thực tiễn trở thành yếu tố quyết định đến sự
hình thành nhân cách, làm con người trở thành người thực sự, bản chất con người chính
là nhân cách. Nhân cách đó được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội. Quá trình lao
động sáng tạo chính là quá trình con người nhập thân vào các quan hệ xã hội, tạo ra
những giá trị xã hội. Mặt khác, chính những giá trị này tác động trở lại hình thành và phát
triển nhân cách con người, bản chất xã hội của con người.
Khác hẳn quan niệm con người ý thức của chủ nghĩa duy tâm, con người sinh vật
của chủ nghĩa nhân bản Feuerbach, quan niệm của C. Mác rất khoa học:
Nếu như tính cách con người là do hoàn cảnh tạo nên thì do đó phải làm
cho hoàn cảnh hợp với tính người. Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật có
tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình
trong xã hội và cần phải phán đoán lực lượng của bản tính anh ta, không phải căn
cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội
[37, tr. 200].
Con người tồn tại, phát triển và tham gia vào các hoạt động đời sống hiện thực cần
phải thỏa mãn những tiền đề về nhu cầu tự nhiên như một cá thể sinh vật, xã hội. Và chính hoạt động sáng tạo trong đời sống hiện thực đã đem lại sự hoàn thiện NTCN. Theo C. Mác,

tiễn và vai trò của NTCN có ảnh hưởng đến việc cải biến thế giới hiện thực. Còn theo
GS.TS Phạm Minh Hạc, trong sự phát triển kinh tế, xã hội, NTCN giữ vị trí trung tâm,
quyết định. NTCN chẳng những là nhân lực, mà trở thành nguồn lực sinh ra các nguồn
lực khác và được gọi là nguồn nhân lực hay nguồn lực con người [22, tr. 11]. ở đây, tác
giả đề cập đến vai trò NTCN, nhấn mạnh đến vai trò quyết định của NTCN trong chuỗi
hệ thống nhân tố tác động đến sự phát triển xã hội.
Nhìn chung, khi xây dựng khái niệm NTCN, các tác giả đều nhấn mạnh đến mặt
hoạt động thực tiễn của con người. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan niệm cho rằng:
"Nhân tố con người chính là tổng hòa các đặc trưng xã hội quy định vai trò chủ thể tích
cực, tự giác, sáng tạo của con người trong một quá trình lịch sử, xã hội". Do vậy, khi
nghiên cứu NTCN, tùy theo mục đích, phạm vi nghiên cứu và các quan hệ xác định để sử
dụng, nhưng không được sử dụng chúng với tư cách như là công cụ nhận thức khoa học.
1.1.3. Khái niệm nhân tố con người trong lực lượng vũ trang
NTCN trong LLVT là sự vận dụng khoa học đối với khái niệm chung về NTCN
nhằm mục đích nghiên cứu một chủ thể xác định là LLVT nói chung và LLVT địa
phương thành phố Cần Thơ nói riêng nhằm khai thác chiều sâu về những đặc trưng riêng
có của con người trong LLVT gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ BVTQ hiện nay.
LLVT địa phương thành phố Cần Thơ mà đề tài nghiên cứu trong luận văn này là
những con người cụ thể (cán bộ, chiến sĩ) đang làm nhiệm vụ trong các cơ quan, đơn vị,
nhà trường và địa phương. Họ là chủ thể của quá trình thực hiện công tác quân sự, quốc
phòng ở thành phố Cần Thơ, giữ vai trò chủ yếu trong xây dựng củng cố quốc phòng, an
ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Là một bộ phận của QĐNDVN, LLVT địa phương thành phố Cần Thơ được thành
lập ngày 30 tháng 7 năm 1945. Trải qua 59 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, LLVT
địa phương thành phố không ngừng lớn mạnh, xây dựng, huấn luyện, SSCĐ cao; từng bước xây dựng LLVT địa phương là đội quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại, bao gồm: lực lượng thường trực, lực lượng DBĐV và lực lượng DQTV được liên kết
với nhau theo nguyên tắc tổ chức của quân đội, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong

truyền thống và vũ khí hiện đại, cách đánh truyền thống và cách đánh hiện đại trong
những tình huống cụ thể để đánh thắng kẻ thù có vũ khí hiện đại và tương lai có thể chiến
đấu, đánh thắng vũ khí công nghệ cao. "Chiến tranh hiện đại cũng như kỹ thuật hiện đại
thì đòi hỏi phải có nhân lực có chất lượng cao" [26, tr. 191].
Thứ hai, phẩm chất và năng lực của cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành phố
Cần Thơ được hình thành trong quá trình đào tạo, huấn luyện; đặc biệt, là rèn luyện thử
thách trong thực tiễn. Cán bộ, chiến sĩ phải trải qua quá trình giáo dục, học tập, rèn luyện
trong quân đội nói chung và trong các cơ quan, đơn vị nói riêng mới có đủ những kiến
thức nhất định về chính trị, quân sự và giác ngộ sâu sắc mục đích ý nghĩa của nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng BVTQ hiện nay. Từ đó, cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành
phố hình thành những tình cảm, thái độ, hành động tích cực phù hợp với các chuẩn mực
đạo đức, phong cách, chính trị, tư tưởng của LLVT, quân đội; từng bước nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật theo yêu cầu nhiệm vụ và chức trách được giao.
Phẩm chất và năng lực của con người là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài
về mặt lịch sử - xã hội.
Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài và làm thay đổi tự nhiên,
con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của nó. Con người phát triển
những tiềm lực đang "ngái ngủ" ở trong bản tính đó và bắt sự hoạt động của
những tiềm lực ấy phải phục tùng quyền lực của mình [39, tr. 17].
Đặc điểm hoạt động của cán bộ, chiến sĩ LLVT địa phương thành phố trong
nhiệm vụ BVTQ đặt ra yêu cầu rất cao là phải phát huy những tiềm lực đang "ngái ngủ"
trong con người, đó là năng lực suy nghĩ và hành động tự giác, độc lập sáng tạo trong học
tập, công tác và chiến đấu.
Con người trong LLVT địa phương thành phố được tổ chức theo một hệ thống
nhất định. Hệ thống đó là sức mạnh chiến đấu bao gồm cả số lượng và chất lượng, là nhân tố đầu tiên trong quan hệ với các nhân tố khác (vũ khí, kỹ thuật, trang thiết bị, cơ sở
vật chất ); mà thành tố cốt lõi tạo nên nhân lực có chất lượng cao là phẩm chất, năng lực
cán bộ, chiến sĩ; là sự kết tinh phẩm chất và năng lực của con người Việt Nam, của người

được trải nghiệm trong thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được các thế hệ
cán bộ, chiến sĩ đi trước xây dựng nên hình ảnh "Người chiến sĩ lực lượng vũ trang thành
phố Cần Thơ" với những đặc điểm chung có giá trị nhân cách hết sức tiêu biểu của "Bộ
đội Cụ Hồ".
1.2. YÊU Cầu Cấp Bách Phát HUY NHÂN Tố CON Người TRONG Lực
Lượng Vũ TRANG Địa PHƯƠNG Thành Phố Cần THƠ Hiện NAY
1.2.1. Vai trò nhân tố con người trong lực lượng vũ trang địa phương thành
phố Cần Thơ
Con người là chủ thể của quá trình phát triển xã hội với những tiềm năng to lớn
về hoạt động cải tạo xã hội. Cho nên, phát huy NTCN phải đặt trong mối quan hệ giữa
khai thác, bồi dưỡng và phát triển. Mục tiêu vì con người không chỉ là tạo điều kiện tối
đa cho sự phát triển tự do của mỗi cá nhân mà còn phải bảo đảm cho sự phát triển của
mỗi cá nhân không nằm ngoài sự phát triển tự do của mỗi người. Nên mọi dự án, chiến
lược phát triển xã hội bao giờ cũng tập trung cho sự chuẩn bị về NTCN, đặt con người
vào vị trí trung tâm của mọi quá trình biến đổi xã hội, coi đó là nguồn lực nội sinh quyết
định sự phát triển. "Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục
đích cao nhất của mọi hoạt động" [11, tr. 36]. Song, vấn đề đặt ra là phải biết sử dụng
đúng đắn vai trò của NTCN-nghĩa là, đem những yếu tố, những đặc trưng của NTCN vào
một "quỹ đạo" chung, để biến đổi tích cực, đúng phương hướng, có hiệu quả tác động
như thế thì những phẩm chất xã hội của chủ thể mới bộc lộ ra, tạo sự cải biến tích cực có
hiệu quả vào quá trình phát triển xã hội, tạo động lực để phát triển xã hội và phát triển
con người.
Đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ Việt Nam XHCN, Đảng ta đặc biệt chú ý
đến phát huy NTCN và vì con người. Thực tế cho thấy, sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta lãnh đạo và khởi xướng đã chứng tỏ vai trò to lớn của NTCN. Vì vậy, nhận thức
đúng vai trò, động lực của NTCN, đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình đổi
mới để phát huy cao độ nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
BVTQ trong giai đoạn cách mạng hiện nay trở nên cấp bách. "Chăm sóc, bồi dưỡng phát

XHCN trong sự nghiệp BVTQ hiện nay.
Vai trò NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ là biểu hiện của
người quân nhân vừa mang cái chung của người chiến sĩ quân đội, đồng thời mang cái
riêng của LLVT địa phương, được thể hiện thông qua sức mạnh chiến đấu của cán bộ,
chiến sĩ. Sức mạnh chiến đấu của LLVT địa phương thành phố bao gồm hai yếu tố: tinh
thần và vật chất. Đó là, giác ngộ chính trị, tinh thần chiến đấu sâu sắc, ý thức chấp hành
tổ chức kỷ luật nghiêm minh, trình độ tổ chức lực lượng chiến đấu, trình độ hiệp đồng,
phối hợp tác chiến, biên chế con người và trang bị vũ khí kỹ thuật, trình độ kỹ chiến
thuật, bản lĩnh lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu của đội ngũ cán bộ,
Phẩm chất chính trị, tinh thần của người chiến sĩ là yếu tố hàng đầu, quyết định
đến thắng lợi trong chiến đấu. Đặc điểm hoạt động quân sự là kề bên cái sống, cái chết,
rất nguy hiểm đến tính mạng con người. Do vậy khi tham gia vào quá trình chiến đấu,
người chiến sĩ phải vượt qua mọi trở ngại thử thách, gian khổ, vượt qua tính chất ác liệt
của chiến tranh, tâm lý căng thẳng, thể lực luôn vận động không ngừng trên diện rộng
chiến trường. Chính vì vậy, nếu có sự giác ngộ về đường lối chính trị của Đảng, về mục
đích ý nghĩa của cuộc chiến đấu; có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí kiên định; có tri
thức khoa học về nghệ thuật quân sự thì người chiến sĩ sẽ chiến đấu dũng cảm, mưu trí và
sáng tạo trong chiến đấu. Phẩm chất chính trị,tinh thần của người chiến sĩ cách mạng
trong chiến đấu còn thể hiện ở sự thống nhất giữa ý chí quyết đánh với tri thức khoa học
biết đánh. Đây là yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định để giành thắng lợi trong chiến đấu,
"biết thắng" của LLVT địa phương thành phố. Truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc
là thứ vũ khí sắc bén, có sức mạnh phi thường trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân
tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Ta phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự
nguyện cầm súng thì mới thắng" [44, tr. 349]. Trong lĩnh vực quân sự, ảnh hưởng của
cuộc cách mạng khoa học-công nghệ dẫn đến sự biến đổi của vũ khí, trang bị và kỹ thuật
quân sự thì chiến tranh tương lai có thể xảy ra sẽ được tiến hành bằng vũ khí có tầm bắn xa, độ chính xác cao, có sức hủy diệt rất lớn thì vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần
không giảm mà ngày càng tăng. Chính vì vậy, chiến tranh hiện đại đòi hỏi con người phải

hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, LLVT địa phương thành phố phải thực hiện tốt ba
nội dung của cuộc vận động: "Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị
vững mạnh toàn diện và xây dựng chính quy hóa lực lượng vũ trang" [18], để đáp ứng với
yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng BVTQ hiện nay.
Vai trò NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ đối với nhiệm vụ xây
dựng nền khoa học - nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Nghệ thuật quân sự Việt Nam ra đời và phát triển trong cuộc đấu tranh dựng
nước và giữ nước, chống các kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần.
Điểm xuất phát của nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc. Mặt
khác, nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển còn là sự vận dụng sáng tạo khoa học nghệ
thuật quân sự Mác-Lênin và tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh đặt con người là
vị trí trung tâm, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi "Người trước, súng sau", dựa vào
lòng yêu nước của nhân dân, tìm sức mạnh trong khối đoàn kết toàn dân, động viên sức
mạnh vật chất, tinh thần và trí tuệ của toàn dân, tổ chức cho toàn dân đánh giặc lấy LLVT
nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt, phải đánh lâu dài, đề cao mưu trí, chỉ chấp nhận giao
chiến trong thế có lợi, cách đánh có lợi, phát huy được cái mạnh của ta, hạn chế được cái
mạnh của địch để tạo lực, tạo thế, lấy ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn, chuyển yếu thành mạnh,
phát huy cao nhất khả năng của thế trong việc kết hợp với lực tạo sức mạnh lớn giành thế
chủ động chiến trường; kết hợp kế thừa truyền thống quân sự dân tộc với tinh hoa của
quân sự thế giới.
Ngày nay nghệ thuật quân sự Việt Nam tiếp tục hoàn thiện những
phương pháp đấu tranh vũ trang truyền thống của mình, trên cơ sở đó đề ra
những vấn đề chuẩn bị đất nước, chuẩn bị lực lượng vũ trang bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới (trong đó có sử dụng lực
lượng vũ trang chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ) [65, tr. 546]. Thực hiện đường lối quân sự của Đảng, xuất phát từ yêu cầu thực tế, dựa vào
niềm tin và sức mạnh to lớn của nhân dân, LLVT địa phương thành phố đã phát huy cao
độ tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo độc đáo những cách đánh truyền thống và hiện đại,

tạo nên thế chủ động và giành thắng lợi trên chiến trường, góp phần to lớn vào thắng lợi
vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.
1.2.2. Yêu cầu cấp bách phát huy nhân tố con người trong lực lượng vũ
trang địa phương thành phố Cần Thơ hiện nay
Trong chiến tranh giải phóng, chiến tranh BVTQ và làm nhiệm vụ quốc tế
Campuchia, LLVT địa phương thành phố Cần Thơ đã phải tiến hành cuộc chiến đấu đầy
hy sinh, gian khổ để giành thắng lợi. Thắng lợi đó, suy cho cùng, là thắng lợi của con
người mới Việt Nam XHCN. "Quyết định thắng lợi của chiến tranh có nhiều nhân tố,
nhưng nhân tố cơ bản nhất là con người" [10]. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, nhiều nhà chiến lược quân sự Việt Nam khẳng định: "Nói thắng lợi của kháng
chiến là thắng lợi của con người, cũng có nghĩa đó là thắng lợi của sự nghiệp bồi dưỡng
và phát huy nhân tố con người" [62, tr. 272].
Ngày nay, nhiệm vụ xây dựng đất nước và BVTQ là quy luật tồn tại và phát triển
của dân tộc ta. Vì vậy, trong bất cứ tình huống nào, việc phát huy NTCN đối với quân đội
nói chung và LLVT địa phương nói riêng đã trở thành yêu cầu cấp bách đặt ra. Phát huy
NTCN trong LLVT địa phương thành phố Cần Thơ là sự thể hiện hành động đường lối
quân sự của Đảng ta về vai trò NTCN trong chiến tranh, là quá trình không ngừng nâng
cao tính tích cực, sáng tạo của mỗi cán bộ, chiến sĩ trên cơ sở giải quyết mối quan hệ biện
chứng giữa con người với con người, giữa con người với vũ khí, giữa quân sự với chính
trị, hậu cần, kỹ thuật; giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và DQTV; giữa lực
lượng thường trực với lực lượng DBĐV, giữa tổng quân số với khả năng vũ khí, trang
bị, nhằm chuẩn bị cuộc "chiến tranh tự vệ" để BVTQ: "Nhà nước xã hội chủ nghĩa đánh
thắng các cuộc chiến tranh xâm lược nhất thiết phải chuẩn bị chiến tranh chống xâm lược
bằng vũ trang để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa" [61, tr. 29].
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Người cha thân
yêu của các LLVT đã trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh
BVTQ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status