luận văn phát huy nhân tố con người trong quá trình cnh, hđh nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát huy nhân tố con người trong quá trỡnh CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay

Phần mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đường lối đổi mới đất nước bắt đầu từ Đại hội VI mà đặc biệt là từ Đại hội VII
Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ vai trò động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội là con người. Chính con người với sức lực và trí tuệ của mình là nhân tố quyết định
hiệu quả của việc khai thác nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác. Từ đó đến nay,
Đảng ta luôn coi trọng con người là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng
thời là mục tiêu của CNXH.
Trong điều kiện gần 80% dân cư sống ở nông thôn, từ một nước nông nghiệp
lạc hậu bắt đầu đi vào CNH, HĐH ta chưa có những chỉ số cao về phát triển con người
như mong muốn. Đặc điểm ở nông thôn vùng núi chỉ số về phát triển con người còn quá
thấp so với thành thị. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nền

kinh tế - xã hội hiện nay" do GS. Lê Hữu Tầng chủ nhiệm; "Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn" PGS. TS Bùi Đình Thanh chủ nhiệm
Trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
tập trung ở vấn đề phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chính sách
xã hội ở nông thôn, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; xóa đói giảm nghèo, giải quyết
việc làm Đáng chú ý là các công trình "40 năm kinh nghiệm Đài Loan (Nxb Đà Nẵng,
1994); Công ty ADUKI "Vấn đề nghèo ở Việt Nam" (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội,
1996); GS Nguyễn Điền "CNH nông nghiệp, nông thôn các nước châu á và Việt Nam"
(Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997); PGS. PTS Nguyễn Đức Bách "Những lợi ích
kinh tế - xã hội tác động đến lòng tin của nông dân và con đường XHCN" (Tạp chí
nghiên cứu lý luận số 2-1992). Điển hình hơn là chương trình khoa học cấp Nhà nước

KX-08 "Phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, gồm 12 đề tài nhánh đã tập trung nghiên
cứu một cách toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn Việt Nam
theo định hướng XHCN.
Đối với khu vực Bắc Trung Bộ đã có một số công trình nghiên cứu: PGS. TS Lê
Đình Thắng, PTS Nguyễn Thanh Hiền "Xóa đói giảm nghèo ở khu IV cũ" (Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội, 1995); chương trình khoa học: "Con người Nghệ An trước yêu cầu của
sự nghiệp CNH, HĐH" (Sở khoa học công nghệ và môi trường, Vinh, 1998).
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nhân tố con người trong
quá trình CNH, HĐH, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, đầy đủ vai trò, vị trí của nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người. Vì vậy, tác giả mạnh
dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải cơ
sở lý luận và thực tiễn cho việc phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn Nghệ An theo định hướng XHCN.
3. Mục đích - nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng việc phát huy nhân tố con người trong nông
thôn, nông thôn Nghệ An hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nhân
tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn

ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để làm tư
liệu tham khảo trong việc giảng dạy nghiên cứu triết học. Góp phần phát huy nhân tố
con người đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 2 chương với 4 tiết và
danh mục các tài liệu tham khảo. Chương 1
Nhân tố con người và vai trò của nhân tố
con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.1. quan điểm mác xít về nhân tố con người
1.1.1. Khái niệm về con người
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như:
sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Song, giải đáp những vấn đề chung nhất
về con người như bản chất con người, mục đích và ý nghĩa cuộc sống của con người,
vai trò của con người trong thế giới như thế nào là những câu hỏi lớn của các hệ thống
triết học từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông sang phương Tây.
Trong triết học trước Mác đã từng tồn tại những quan điểm khác nhau về vấn đề
con người.
Triết học thời cổ đại, trong quan niệm về con người thường tập trung tìm
kiếm xem có cái gì đó là cơ sở đầu tiên cấu tạo nên con người và cấu tạo như thế nào
theo hai xu hướng (nhất nguyên luận và nhị nguyên luận).
Do hạn chế về điều kiện lịch sử, nên quan niệm về con người thường mang tính
chất thần bí và duy tâm.

kiện do hoạt động của họ sáng tạo ra" [23, tr. 267]. Đó là những con người sống trong
một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có những quan hệ xã hội nhất
định. Những con người sống và hoạt động, mà hoạt động bản chất nhất, có tính người
nhất là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, mặc dầu ăn, uống, sinh con đẻ cái
cũng là hoạt động có tính người.
Triết học Mác không hề phủ nhận cũng không tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh
học khi xem xét con người với tư cách là những cá nhân đang sống và hoạt động. Trước

hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp, sản phẩm của quá trình tiến hóa
tự nhiên. Mác viết: "Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là
thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình thường
xuyên để tồn tại" [23, tr. 135]. Con người, do đó không nằm ngoài sự chi phối của quy
luật tự nhiên bởi lẽ, "bản thân chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong
lòng giới tự nhiên" [22, tr. 657].
Thừa nhận yếu tố sinh vật của con người nghĩa là thừa nhận những quy luật
sinh học chung của con người, những đặc điểm về cấu trúc và chức năng cơ thể, đời
sống sinh lý, đặc tính di truyền Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng:
cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng thuần túy của
con người.
Cái sinh vật của con người (cái sinh vật này không còn mang tính tự nhiên
thuần túy động vật) chỉ tồn tại đối với con người xã hội. Nghĩa là trong xã hội, cái sinh
vật đã được xã hội hóa. Nếu tách khỏi quan hệ xã hội thì chỉ còn lại bản năng sinh vật.
Những thiên chức bẩm sinh do tự nhiên "ban tặng" bởi quá trình tiến hóa lâu dài của sự
sống hữu cơ, có thể được nuôi dưỡng phát triển hoặc thui chột đi tùy thuộc vào điều
kiện, môi trường xã hội, do hoàn cảnh xã hội quyết định.
Cái nền tảng căn bản - có tính chất quyết định của sự thống nhất giữa cái sinh
vật và cái xã hội - chính là hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất. Thông
qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới hiện thực khách quan mà con người tự khẳng
định mình như một thực thể xã hội, thoát khỏi trạng thái tự nhiên thuần túy. Chính "lao
động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một


Vấn đề quan trọng trong tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh là tin tưởng và tôn
trọng mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, đặc biệt là quần chúng nhân dân
lao động: "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Hồ Chí Minh rất coi trọng tính tự giác, chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo
của con người trong hoạt động (cả trong hoạt động thực tiễn và nhận thức).
Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con
người. Bởi vì, nếu các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người không được quan
tâm đúng mực thì tính tự giác, tích cực của họ bị giảm sút, xã hội mất đi nguồn động lực
của sự phát triển.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của
nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Có như vậy thì nhân dân mới tin, mới
dám nói sự thật, đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng, mới có sự sáng tạo, từ đó tạo ra
động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ. Bao
nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây
dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [16, tr. 368]
Nhận thức trên đây là một căn cứ xuất phát rất quan trọng định hướng cho quá
trình xây dựng và phát triển con người mới, phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, năng
động, sáng tạo của nhân tố con người, cho quá trình xây dựng và phát triển đời sống
vật chất, văn hóa tinh thần nói chung, và đặc biệt cho sự thắng lợi của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước ta hiện nay.
Khái niệm nhân tố con người
Trong lịch sử triết học trước Mác, do quan niệm sai lầm về nguồn gốc bản chất
của con người, cho nên các nhà triết học trước Mác chưa có được một quan niệm đúng
đắn về vai trò của nhân tố con người trong tiến trình vận động của lịch sử, chưa thấy hết
được sức mạnh cải tạo thế giới của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn. Đặc

biệt, họ không phát hiện được vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo
chân chính ra lịch sử, là nhân tố quyết định tiến trình lịch sử.

phẩm chất, năng lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát
triển xã hội nhất định [27, tr. 120].
Kế thừa những quan điểm của các tác giả trên, có thể đưa ra một quan niệm như
sau:
Nhân tố con người là sự thống nhất hữu cơ các mối liên hệ, quan hệ giữa các
mặt hoạt động với các đặc trưng về năng lực, phẩm chất xã hội của con người trong
quá trình sáng tạo ra toàn bộ đời sống hiện thực.
ở đây, khái niệm "nhân tố con người" phản ánh những đặc trưng bản chất nhất
của con người hiện thực - với tính cách là một thực thể xã hội:
- Hoạt động thực tiễn là đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực với tư
cách là chủ thể sáng tạo. Đương nhiên, hoạt động đó của con người là do nhu cầu của con
người quyết định (chứ không phải do ý thức, tư duy), những nhu cầu đó "được phản ánh
vào trong đầu óc con người làm cho người ta ý thức rõ hơn về nhu cầu đó". Do đó, quá
trình hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có phương pháp. Qua đó, nhân tố
con người giữ vai trò là tác nhân trực tiếp tạo ra sự biến đổi, phát triển của lịch sử. Hoạt
động thực tiễn vừa là cơ sở vừa là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức, thúc đẩy sự
hình hành phát triển các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người, đồng thời là
quá trình hiện thực hóa các năng lực, phẩm chất của con người. Cùng với sự tiến triển
của hoạt động thực tiễn, các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người ngày càng
phát triển và hoàn thiện hơn.
- Những phẩm chất, năng lực của con người phản ánh những giá trị xã hội trong
những điều kiện lịch sử cụ thể - đặc trưng cho con người với tư cách là một nhân cách.
Các năng lực: nhận thức, tổ chức quản lý, điều hành hoạt động, khả năng tự ý thức, tự
nhận thức, tự đánh giá hành vi trong hoạt động của chủ thể Các phẩm chất xã hội:
quan điểm đạo đức, chính trị, thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, lập trường, thái độ, lối

ứng xử Những năng lực, phẩm chất đó đặc trưng cho con người với tư cách là chủ thể
mang những giá trị văn hóa - lịch sử, phản ánh trình độ phát triển, mức độ hoàn thiện
của con người.
- Mối liên hệ biện chứng giữa các mặt hoạt động (hoạt động thực tiễn và hoạt

Khái niệm "nhân tố con người" và "nguồn lực con người" có cùng một nghĩa
như nhau khi đặt trong mối quan hệ với các nhân tố khác (vật chất) đều biểu hiện ở
những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người: là nhân tố hoạt động sống, khả năng
tái sản sinh và tự nhân mình lên gấp bội tiềm năng vô tận của trí tuệ và tinh thần con
người. "Do đó, phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con
người, khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra
động lực phát triển của một quá trình xã hội" [15, tr. 127].
1.1.2. Những điều kiện khách quan ảnh hưởng đến việc phát huy nhân tố
con người ở Việt Nam
- Môi trường tự nhiên (môi trường địa lý)
Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên sinh thái là
một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều tiềm năng to
lớn, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với con người.
Tuy ba miền Bắc - Trung - Nam mà mỗi miền có những nét khác biệt nhau về
địa hình, khí hậu, môi trường sinh thái, tài nguyên, nhưng tính nhiệt đới gió mùa và bán
đảo vẫn là đặc trưng chung của thiên nhiên Việt Nam. Những điều kiện tự nhiên đó kết
hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có ảnh hưởng nhất định đến vai trò hoạt động của
nhân tố con người, đến tính tích cực, sáng tạo của con người, lòng say mê hoạt động của
họ cũng như tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ trong quá trình xây dựng nước nhà,
phát triển kinh tế, xã hội.

Trong lịch sử xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, con người Việt
Nam vừa thích nghi vừa khai phá những tài nguyên và mặt thuận lợi của thiên nhiên để
mở mang ruộng đồng, làng xóm, phát triển kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước kết hợp
với nghề thủ công, chăn nuôi, săn bắt Mặt khác, con người cũng phải liên kết với nhau
trong cuộc đấu tranh khắc phục những trở ngại của thiên nhiên, chống thiên tai, nhất là
lũ lụt, hạn hán Từ rất sớm con người Việt Nam đã biết đắp đê sông, đê biển chống lũ
lụt, bão tố, đào kênh, khơi mương làm thủy lợi để chống hạn hán, tưới tiêu cho đồng
ruộng. Công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội trong những đặc điểm
của thiên nhiên Việt Nam, sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng, sự gắn bó quê hương, xóm

cho tư duy huyền thoại vốn đã xuất hiện từ sớm cùng với lịch sử loài người.
Nền sản xuất tiểu nông, năng suất lao động thấp, người ta phải lo vun vén cho
lợi ích nhỏ nhen của mình. Tính ích kỷ nhỏ nhen, trục lợi lại trỗi dậy có khi lấn át cả
tính cộng đồng. Người ta thường chỉ thấy lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ mà không
thấy được lợi ích toàn bộ, lâu dài. Phương pháp suy nghĩ nặng về tình cảm, nhẹ về lý trí,
dễ mắc bệnh chủ quan ảo tưởng, làm kìm hãm sự phát triển trí tuệ, hạn chế tính tích cực,
năng động, sáng tạo của con người.
Nền kinh tế khép kín, tự túc, tự cấp, lại bị hàng ngàn năm Bắc thuộc, do vậy
không có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật của nền đại công nghiệp. Đây cũng là
một nguyên nhân cản trở phát triển tư duy trí tuệ, tư duy kinh tế.
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, với nền sản xuất nhỏ,
manh mún, đời sống bấp bênh đã rèn luyện cho con người tính cần cù, chịu khó, ý chí
vượt qua khó khăn, khả năng phản ứng mau lẹ, linh hoạt, thông minh sáng tạo.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay đòi hỏi một mặt, kiên quyết đấu
tranh khắc phục những tàn dư, tư tưởng tiêu cực, lạc hậu, mặt khác, phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với nâng cao, phát triển tư duy lý luận, tư duy kinh tế.

- Điều kiện văn hóa - lịch sử
Lịch sử dân tộc ta đã phải trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc, nguy hiểm
đến sự tồn vong của dân tộc, nguy cơ bị đồng hóa, mất nước, để lại những hậu quả hết
sức nặng nề, tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều, đòi hỏi thời gian lâu dài mới khắc
phục được. Ngay cả bây giờ, các thể lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế
độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta. ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến công
cuộc xây dựng đất nước đi lên CNXH.
Chính tính đặc thù trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã tác
động sâu sắc đến sự phát triển tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc, ý chí quật cường,
bất khuất, niềm tự hào dân tộc.
Tinh thần yêu nước, yêu quê hương xử sở, nơi chôn rau cắt rốn được hun đúc
lên và phát triển thành ý thức bảo vệ non sông đất nước, ý thức sâu sắc về lãnh thổ quốc
gia.

trường hợp phát triển chệch hướng của tinh thần dân tộc hoặc theo khuynh hướng Sô-
vanh nước lớn, chủ nghĩa đại dân tộc, hoặc theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, chủ nghĩa quốc gia vị kỷ. Trên thế giới hiện nay, cả hai khuynh hướng đó là nguyên
nhân sâu xa của nhiều xung đột sắc tộc, quốc gia, khu vực. Nhưng trong lịch sử cũng đã
thể nghiệm sức mạnh lớn lao của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của
nhiều dân tộc trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc mình.
Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của Việt Nam trong thời đại
ngày nay là:
- Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH.
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí
Minh.

- Tiếp nhận những tư tưởng tiên tiến của thời đại văn minh công nghiệp và hậu
công nghiệp.
Chủ nghĩa yêu nước giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc đổi
mới, CNH, HĐH đất nước hiện nay. Chủ nghĩa yêu nước là mẫu số chung của mọi
người Việt Nam thuộc các dân tộc người (ta có 54 tộc người quen gọi là 54 dân tộc), các
tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhau cũng như mọi thành viên trong cộng đồng Việt
Nam thuộc các xu hướng chính trị khác nhau đang sinh sống ở nước ngoài. Đó là cơ sở
chung cần phát huy để đoàn kết tập hợp mọi lực lượng của dân tộc trong sự nghiệp xây
dựng đất nước. Chủ nghĩa yêu nước là nhân tố cơ bản của bản lĩnh dân tộc, là động lực
nội sinh tạo nên quyết tâm, ý chí, nghị lực và trí tuệ để xây dựng đất nước, vượt qua
nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp trào lưu văn minh của thời đại, đảm bảo sự phát triển bền
vững và ổn định, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc trong giao lưu văn hóa và hội nhập
vào cộng đồng khu vực cũng như cộng đồng thế giới.
Yêu cầu đặt ra trong việc phát huy chủ nghĩa yêu nước trong quá trình CNH,
HĐH thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh là phải nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa yêu nước, lòng tự
tôn dân tộc. Do vậy, cần phải có những giải pháp đồng bộ trong giáo dục gia đình,
trường học và tạo lập môi trường văn hóa xã hội mang tính giáo dục cao của toàn xã

hóa, điện khí hóa mà nó còn bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
đời sống vật chất và văn hóa tinh thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất
công nghiệp hiện đại và phương thức tổ chức tiên tiến. Đó là quá trình phát triển toàn
diện nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp
lý về cây trồng vật nuôi, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa;
phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản với công nghệ ngày càng cao gắn
với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp đô thị; phát triển các ngành nghề

truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi
nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân; xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới, văn minh
hiện đại.
- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước gắn liền với thị trường trong và ngoài nước. Nền kinh tế sản
xuất hàng hóa nhiều thành phần chính là xây dựng một hệ thống QHSX phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, có tác dụng to lớn
trong việc động viên nhân dân xây dựng kinh tế, phát triển LLSX, có khả năng hội nhập
vào thị trường quốc tế.
Tóm lại: Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn phải giữ vững định
hướng XHCN vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển của LLSX, vừa là nhân tố tích cực để
củng cố, hoàn thiện QHSX XHCN ở nông thôn phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội chung của đất nước trong từng thời kỳ. CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn trước hết và chủ yếu nhằm tăng nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, xây dựng nông thôn mới và
nâng cao đời sống nhân dân. Song đích cuối cùng phải hướng tới đó là nâng cao hiệu
quả tổng hợp của toàn bộ đất nước, bao gồm cả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,
môi trường, sinh thái.
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,

thị trường đông dân và sức mua hiện nay còn thấp, tiềm năng có thể khai thác rất lớn. Vì
CNH và HĐH nền kinh tế muốn phát triển bền vững và ổn định phải dựa vào thị trường
trong nước, trước hết là nông dân. Có thể nói, sức mua của nông dân có vai trò quan
trọng đôi khi là quyết định đối với quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp và dịch
vụ.

- Nông nghiệp, nông thôn chiếm tuyệt đại đa số tài nguyên thiên nhiên như đất
đai, khoáng sản, động, thực vật, rừng và biển là nơi ẩn chứa những tiềm năng to lớn
cho quá trình CNH, HĐH. Sự phong phú đa dạng của tài nguyên thiên nhiên sẽ là điều
kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cây trồng vật nuôi cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến xuất khẩu
Quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền sản xuất và đời sống xã hội, đã tạo khả
năng vận dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại qua giao lưu, hội nhập
và hợp tác quốc tế đa phương đa diện. Điều đó cho phép bỏ qua những "nấc thang" mà
loài người đã phải trải qua một cách chậm chạp trong tiến trình lịch sử. Đó chính là cơ
hội tốt nhất mà thời đại đưa đến cho các nước chậm phát triển đi lên CNXH bỏ qua giai
đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa như Việt Nam.
Khó khăn:
- Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh để lại hậu quả hết sức nặng nề.
Những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm
cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc của nhân dân. Đây là một khó khăn
lớn cho việc xây dựng nông thôn mới, văn minh hiện đại - một trở lực cho quá trình
CNH, HĐH.
- Nền kinh tế Việt Nam vốn có điểm xuất phát thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu,
sản xuất manh mún, lại bị thiên tai, địch hoạ tàn phá nặng nề nên cơ sở vật chất - kỹ
thuật, nhất là hệ thống thủy lợi bị xuống cấp nghiêm trọng, vốn đầu tư lại bị thiếu. Thêm
vào đó, ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài trong nhiều năm
cũng tạo ra những yếu tố kìm hãm đối với sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa gắn với thị trường, làm cho tiềm năng sản xuất, tài nguyên thiên nhiên ở vùng
nông thôn không được phát huy có hiệu quả. Điều đó, làm chậm tiến trình CNH, HĐH

ra - xu thế chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế trí tuệ. Con người càng

Trích đoạn Phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng khai thác lợi thế, ngăn chặn mặt tiêu cực của cơ chế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH, HĐH Có chính sách khuyến khích làm giàu chính đáng, gắn với xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hộ Thực hiện triệt để quy chế dân chủ ở xã Nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nâng cao sức khỏe cho nông dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status