Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở Đầu
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định Nguồn lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,
tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững, Con ngời và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nớc trong thời
kỳ CNH,HĐH
Đây là một bớc phát triển quan trọng trong lý luận về
vấn đề con ngời. Nguồn lực con ngời là điểm cốt yếu nhất của
nội lực của một nớc, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố
con ngời và nâng cao chất lợng nguồn nhân lực. Vì vậy em
chọn đề tài : Vai trò của yếu tố con ngời và các giải
pháp phát huy vai trò con ngời trong thời kỳ CNH-
HĐH.
Để thấy đợc tầm quan trọng của yếu tố con ngời - nguồn
nhân lực có tác động quan trọng nh thế nào trong thời kỳ
CNH-HĐH ở nớc ta. Thông qua sự hớng dẫn tận tình của
thầy giáo: Nguyễn Vĩnh Giang và qua những lần đợc thầy
chỉnh, sửa các bản đề cơng sơ bộ, đề cơng chi tiết, và bản thảo.
Em đã hoàn thành đề án này. Tuy nhiên trong quá trình hoàn
thành đề án không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót. Do
vậy em mong đợc thầy chỉ bảo nhiều hơn nữa để đề án của em
hoàn thành tốt hơn. Nhất là đối với em, một sinh viên kinh tế
lao động sau này ra làm công tác quản lý con ngời.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nội Dung
Chơng I: Vai trò con ngời trong
sự nghiệp CNH, HĐH
I. Một số quan điểm về con ngời, nguồn lực con ngời
A.Quan điểm về con ngời
tâm. Hêghen, với cách nhìn của chủ nghĩa duy tâm khách quanm, thông qua
sự vận động của ý niệm tuyệt đối. Bớc diễu hành của ý niệm tuyệt đối
thông qua quá trình tự ý thức của con ngời đã đa con ngời trở về giá trị tinh
thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống con ngời. Hêghen cũng là ng-
ời trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình t duy của
con ngời, là rõ cơ chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động
của con ngời. Mặc dù, con ngời đợc nhận thức từ góc độ duy tâm khách
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan, nhng Hêghen là ngời khẳng định vai trò chủ thể của con ngời đối với
lịch sử, đồng thời là kết quả của sự phát trỉên lịch sử.
T tởng triết học của nhà duy vật Phoiơbẵc đã vợt qua những hạn chế trong
triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con ngời một cách đích thực.
Phoiơbẵc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản
chất con ngời trong triết học Hêghen, đồng thời khẳng định con ngời do sự
vận động của thế giới vật chất tao nên. Con ngời là kết quả của sự phát triển
của thế giới tự nhiên. Con ngời và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời.
Phoiơbẵc đề cao vai trò trí tuệ của con ngời với tính các là những cá thế ng-
ời. Đó là những con ngời cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai.
Quan niệm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yết tố tự nhiên, Phoiơbẵc
không thấy đợc bản chất xã hội trong đời sống con ngời, tách con ngời khỏi
những điều kiện lịch sử cụ thể . Con ngời của Phoiơbẵc là phi lịch sử, phi giai
cấp và trừu tợng.
Vậy các quan niệm con ngời trớc Mác, dù là đứng trên nền tảng thế
giới quan duy tâm, nhị nguyên luận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản
ánh đúng bản chất con ngời. Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét
con ngòi một cách trừu tợng, tuyết đối hoá về tinh thần hoặc thể xác con ng-
ời, tuyệt đối hoá về mặt tự nhiên- sinh học mà không thấy mặt xã hội trong
đời sống con ngời. Tuy nhiên một số trờng phái triết học vẫn đạt đợc những
thành tựu trong việc phân tích, quan sát con ngời, đề cao lý tính, xác lập các
trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển
của con ngời luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau,
nhng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên nh quy luật về sự
phù hợp cơ thể với môi trờng, quy luật về sụ trao đổi chất, về di truyền, biến
dị, tiến hoá, quy định phơng diện sinh học của con ngời. Hệ thống các quy
luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con ng-
ời nh hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật
xã hội quy định quan hệ xã hội giữa ngời với ngời.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn
chỉnh trong đời sống con ngời bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối
quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh
học và nhu cầu thẩm mỹ và hởng thụ các giá trị tinh thần
Với phơng pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng nh nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong mỗi con ngời là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của
con ngời với loài vật. Nhu cầu sinh học phảI đợc nhân hoá để mang giá trị
văn minh con ngời, và đến lợt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền
đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào
nhau để tạo thành con ngời viết hoa, con ngòi tự nhiên-xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hoà những
quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con ngời vợt lên
thế giới loài vật trên cả phơng diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ
với xã hội, với quan hệ với chính bản thân con ngời. Cả ba mốí quan hệ đó,
suy cho cùng đề mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa con ngời với
con ngời là quan hệ bản chất, bao chùn tất cả các mối quan hệ khác và mọi
hoạt động trong chừng mực liên quan đến con ngời.
Do vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con ngời,C.Mác đã nêu lên luận
đề nổi tiếng Luận cơng về Phoiơbắc: Bản chất con ngời là tổng hoà những
hội loài ngời.
B.Quan điểm về nguồn lực con ngời
Trong các nguồn lực có thể khai thác nh nguồn lực tự nhiên, nguồn
lực khoa học công nghệ, nguồn lực con ngời thì nguồn lực con ngời là quyết
định nhất, bởi lẽ nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn
lực con ngời đợc phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngợic
lại nguồn lực con ngời ngày càng đa dạng và phong phú.
Các lĩnh vực khoa học khác nhau, có thể hiểu nguồn lực theo những
cách khác nhau, nhng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà
mỗi nhân tố đó có vai trò riêng nhng có mối quan hệ với nhau tạo nên sự phát
triển của một sự vật, hiện tợng nào đó.
Từ cách hiểu nh vậy, nguồn lực con ngời là những yếu tố ở trong con ngời có
thể huy động, sử dụng để thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn lực con ngời. Ngân hàng
thế giới cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn ngời ( thể lực, trí lực, kỹ
năng, nghề nghiệp,...) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động đợc trong quá
trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó.
Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con ngời là tổng thể những
yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị
thế xã hội, ... tạo nên năng lực của con ngời, của cộng đồng ngời có thể sử
dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc và trong
những hoạt động xã hội.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi chúng ta nói tới nguồn lực con ngời là ta nói tới con ngời với t
cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã
hội.
Nói tới nguồn lực con ngời là nói tới số lợng và chất lợng nguồn nhân
lực
Số lợng nguồn nhân lực đợc xác định trên qui mô dân số, cơ cấu độ
mạng khoa học và công nghệ hiện đại ngay trong quá trình công nghiệp hoá.
công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng
pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Nh vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có một phạm vi rộng lớn, bao
trùm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, trong đó công nghiệp và khoa học-công
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghệ đóng vai trò rất quan trọng, cốt lõi của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay: có những điểm mới
so với quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trớc khi đổi mới. Thứ
nhất: Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá . Nớc ta tiến hành công nghiệp
hoá trong điều kiện thế giới đang diễn ra cuộc Cách mạng khoa học và công
nghệ và một số nớc đã bắt đầu phát triển nền kinh tế tri thức, bởi vậy không
chỉ chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí hoá mà còn phải tranh
thủ ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của
thời đại.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nêu lên quan điểm:
khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Kết
hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào
hiện đại ở những khâu quyết định
Thứ hai: CNH,HĐH trớc đây đợc tiến hành theo cơ chế kế hoạch hoá,
tập chung quan niêu, bao cấp, với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ngày nay,
CNH,HĐH theo cơ chế thị trờng có sự quản lý nhà nớc. Kế hoạch chủ yếu
mang tính định hớng, thị trờng phản ánh nhu cầu xã hội, sẽ quyết định việc
phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, lấy hiệu
quả kinh tế - xã hội làm thớc đo.
Thứ ba: CNH,HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần
xã hội chủ nghĩa.
Các nớc đã trải qua giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa, bớc vào thời
kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ cần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở
vật chất - kỹ thuật đã đáp ứng đợc theo yêu cầu chế độ mới và tiếp tục ứng
dụng những công nghệ mới nhất, hiện đại nhất.
Các nớc có nền kinh tế phát triển cha cao và các nớc công nghiệp lạc
hậu, sản xuất nhỏ còn phổ biến tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhất thiết phải
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
để nhằm thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hoá và một phần tự
động hoá (khi có điều khiển) trong các ngành của nền kinh tế quốc dân; đồng
thời trên cơ sở trình độ đã đạt đợc của cơ sở vật chất -kỹ thuật mới cải biến
cơ cấu kinh tế lạc hậu, què quặt, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã
hội, mở rộng thị trờng, phát triển sản xuất và lu thông hàn hoá trong nớc và
quốc tế.
b. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra lực lợng sản xuất mới về chất,
tạo tiền đề cho sự hình thành nhiều mối quan hệ mới về kinh tế, xã hội, chính
trị trong toàn xã hội. Trên cơ sở lực lợng ản xuất phát triển, quan hệ sản xuất
từng bớc đợc hình thành, mở rộng và củng cố, đời sống của nhân dân sẽ dần
cải thiện, liên minh công-nông-trí thức và chính quyền nhà nớc sẽ đợc củng
cố và kiện toàn, cách mạng t tởng và văn hoá sẽ có nhiều điều kiện thực hiện.
Sự giúp đỡ của công nghiệp và thành thị đối với nông nghiệp và nông thôn đ-
ợc tăng cờng và có hiệu quả hơn; tạo ra nhiều điều kiện để thực hiện từng b-
ớc sự bình đẳng về kinh tế giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân c, giữa các
vùng trong nớc. Điều đó đa đến sự thống nhất ngày càng cao về chính trị và
tinh thần trong xã hội.
c. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là yêu cầu khách quan của việc
củng cố và tăng cờng khả năng quốc phòng, của sự thống nhất giữa sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá còn là yêu cầu khách quan mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại...
có hiệu quả tiềm năng đất đai, biết kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất
nh huy động vốn, động viên khuyến khích ngời lao động làm việc có hiệu
quả, quản lý chặt chẽ nguyên liệu vật t, do vậy, hiệu quả kinh doanh sẽ tốt
hơn. Ngày nay vai trò ngời quản lý trong sản xuất kinh doanh ngày càng trở
nên quan trọng, do vậy, các quốc gia thờng rất quan tâm tới đào tạo, bồi dỡng
đội ngũ cán bộ này.
Trong quá trình xây dựng đất nớc tiến nên chủ nghĩa xã hội, ngời lao
động trở thành những ngời làm chủ đất nớc, làm chủ trong quá trình tổ chức
quản lý sản xuất, từ việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh tới tổ chức
sản xuất kinh doanh và làm chủ trong quá trình phân phối sản phẩm. Điều đó
tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát huy nguồn lực con ngời, phát triển
kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, làm cho đất nớc ngày càng giàu đẹp.
b. Vai trò nguồn lực trong lĩnh vực chính trị
Xét nguồn lực trên lĩnh vực chính trị, khi mà ngời dân có tri thức, có
năng lực, thấy đợc trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những ngời có
đức, có tài vào các cơ quan nhà nớc sẽ góp phần xây dựng nhà nớc vững
mạnh.
Cán bộ nhà nớc có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy đợc trách
nhiệm của mình đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự
tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân sẽ đợc dân mến, dân tin, dân ủng hộ.
Cán bộ tích cực tuyên truyền đờng lối của đảng, phổ biến luật phát của
nhà nớc đến nhân dân, làm cho dân hiểu dân tin; ngời dân chủ động tích cực
thực hiện đờng lối đó, có ý thức tôn trọng luật phát, thực hiện những nghĩa vụ
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công dân, hiểu rõ quyền lợi của mình, kiên quyết đấu tranh với sức mạnh của
nhà nớc xã hội chủ nghĩa.
Nói về vai trò của quần chúng tham gia công việc của nhà nớc, Hồ Chí
Minh đã viết: khi ngời dân ... biết hởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân
chủ của mình, dám nói, dám làm, thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm đ-
mạnh to lớn trong việc phát huy nguồn lực con ngời để nhận thức, cải tạo tự
nhiên và xã hội. Ngợc lại, sự thiếu thống nhất, sự phối hợp không ăn khớp
của các thành viên trong xã hội sẽ làm giảm đi, thậm chí triệt tiêu cả động
lực phát triển tự nhiên và xã hội.
Nguồn lực con ngời, xét về mỗi cá nhân, còn là những tiềm năng yếu
tố cấu thành con ngời có thể đợc khai thác. Nhng hiệu quả việc phát huy
nguồn lực con ngời lại tuỳ thuộc vào chế độ xã hội, tuỳ thuộc vào cách tổ
chức xã hội, phụ thuộc vào năng lực và nghệ thuật của quản lý xã hội, phụ
thuộc vào cơ chế và chính sách xã hội.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn lực con ngời không khai thác, không phát huy đợc là lãng phí
lớn nhất. Đặc biệt, là đội ngũ trí thức càng hoạt động, càng phong phú và sâu
sắc. Nớc ta đang còn là một nớc nghèo, kinh tế kém phát triển, thì việc phát
huy nguồn lực con ngời để xây dựng đất nớc càng trở nên quan trọng.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II: Đánh giá vai trò con ngời và nguồn nhân
lực trong sự nghiệp CNH,HĐH hiện nay
1.Vai trò con ngời và nguồn nhân lực đã đóng góp những mặt tích cực
cho sự nghiệp CNH-HĐH:
a.Ngay từ đầu thành lập nớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (1946),
nhất là sau năm 1945, đất nớc thống nhất. Hơn 30 năm sự nghiệp giáo dục,
dạy nghề không ngừng phát triển, đặc biệt là 20 năm đổi mới cùn với những
thành tựu to lớn trong việc thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế xã hội
thời kỳ 1991-2000 và 2001-2010 Đảng và Nhà nớc Việt Nam đã luôn luôn
quan tâm phát triển nguồn nhân lực, đầu t mạnh vào vốn con ngời và đã đạt
đợc kết quả quan trọng. Trình độ dân trí và chất lợng, tính năng động xã hội
của nguồn nhân lực đợc nâng lên đáng kể. Đến nay tỷ lệ ngời lớn biết chữ
đạt 94%, trong đó tỷ lệ lao động biết chữ đạt 97%; số năm đi học trung bình
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lên 2300. Tuy nhiên , về thứ hạng, vị trí của nớc ta năm nay là 112 trên 177
quốc gia tham gia tính HDI.
Theo nhận định của Báo cáo thì so với Pakítan có cùng mức thu nhập
nhng Việt Nam có HDI cao hơn nhờ có chỉ số tuổi thọ và chỉ số giáo dục cao
hơn. Có thể thấu rõ điều này qua số liệu của một số quốc gia khác. GDP bình
quân đầu ngời tính bằng đôla Mỹ theo phơng pháp sức mua tơng đơng của
ấn Độ là 2670, chỉ số GDP là 0,52 bằng Việt Nam nhng thứ hạng HDI là 133.
So sánh với nớc ASEAN về chỉ số HDI, với vị trí xếp hạng và giá trị
chỉ số HDI nh trên, Việt Nam giữ vị trí thứ 7/10, năm 2002 và 2003 là 6/10.
Báo cáo phát triển con ngời 2004 của UNDP cũng cho biết chỉ số HDI
của nớc ta từ năm 1990 đến năm 2002 có xu hớng tăng lên một cách vững
chắc. Trong 13 năm , từ năm 1990 đến năm 2002, chỉ số HDI của nớc ta đ-
ợc cải thiện đáng kể, tăng 0,081, từ 0,610 năm 1990 đến năm 2000 là 0,686,
năm 2002 là 0,691; trung bình mỗi năm tăng 0,0062
Năm 1990 1995 2000 2002
Giá trị chỉ số HDI 0,610 0,649 0,686 0,691
(Nguồn Báo cáo phát triển con ngời của UNDP 2004)
Chỉ số phát triển giới (GDI) của nớc ta trong Báo cáo 2004 có giá trị
chỉ số là 0,689, xếp thứ 87/144 quốc gia tham gia tính GDI. Năm 2003 nớc ta
xếp thứ 89/144 nớc giá trị chỉ số là 00,687. Trừ Brunei và Myanmar không
tham gia tính GDI, Việt Nam đứng thứ nớc ASEAN tham gia tính GDI . Nếu
ở chỉ số HDI, Inđônêsia đứng trên Việt Nam 1 bậc, xếp thứ 111 thì ở chỉ số
GDI Inđônêsia lại kém ta 3 bậc, xếp thứ 90/144 nứoc với giá trị chỉ số GDI
là 0,685.Nhìn chung, Việt Nam đợc đánh giá là một trong những nớc có chỉ
số GDI tốt trong khu vực. Với 27,3% đại biểu quốc hội là nữ , nớc ta đang có
tỉ lệ nữ tham gia chính trị cao nhất trong kh vực.
Khi đề cập vai trò con ngời và nguồn nhân lực đã đóng góp những mặt
tích cực cho sự nghiệp CNH-HĐH không thể không nói đến tinh thần hiếu
học- một truyền thống hết sức tốt đẹp và quan trọng của dân tộc ta. Hiếu học,
2 Học vấn tính từ THPT trở lên
Tốt nghiệp THPT 113242 752255
Cao đẳng-đại học 11471 113070
Sau đạo học 126 642
Nguồn: Xử lý số liệu Tổng điều tra dân số 1989- Ban chỉ đạoTổng
điều tra dân số TW, Hà Nội-1991, và Tổng điều tra dân số-nhà ở 1999-
Nxb.Thống kê,Hà Nội-200.
Qua các số liệu trong bảng, có thể thấy sự tiến bộ về trình độ học vấn
của đồng bào các dân tộc thiểu số nớc ta cụ thể nh sau:
Nếu nh năm 1989, số ngời tốt nghiệp PHTH mới chiếm tỉ lệ 1,3% tổng
số thì đến năm 1999 tỉ lệ này đạt 7,15%, tăng gấp 5,5 lần.
Nếu nh năm 1989, số ngời tốt nghiệp CĐ-ĐH mới đạt 0.13% thì đến
năm 1999, tỉ lệ này đạt 1,07%, tăng gấp 8,2 lần.
Nếu nh năm 1989, số ngời có trình độ sau đại học mới đạt tỉ lệ
0,0001%, thì đến năm 1999, tỉ lệ này là 0,007%, tăng gấp 70 lần( tính để
tham khảo thêm, đợc biết tỉ lệ tăng tơng ứng ở dân tộc Kinh là 3,16 lần).
Tham khảo thêm các số liệu Bảng 5, có thể thấy đợc một khía cạnh khác về
thành tựu này của nhân dân các dân tộc thiểu số, cụ thể là:
Bảng 5. Tình hình học vấn các dân tộc thiểu số qua 2 kỳ Tổng điều tra dân
số(1989,1999) chia theo cấp đào tạo và số lợng dân tộc
14