Phương hướng và các giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của BIDV Hà Nội. - Pdf 30

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---o0o---
BẢN CAM KẾT
Tên em là: NGUYỄN KHẮC QUỲNH
Hiện đang học lớp: K38 Quản trị kinh doanh thương mại khoa Thương mại và kinh tế
quốc tế thuộc trường Đại học kinh tế quốc dân. Tại Thường Tín.
Em xin cam đoan chuyên đề: “Khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần khóa Minh
Khai_Thực trạng và giải pháp”.là em tự làm và chỉ sử dụng tài liệu để tham khảo.
Hà Nội, tháng 03 năm 2009.
Sinh viên.
Nguyễn Khắc Quỳnh .
MỤC LỤC
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………………………………………
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP……………………………………………………
I. Khả năng cạnh tranh và tính tất yều phải nâng cao khả năng cạnh
tranh trong cơ chế thị trường………………………………………………
1. Khái niệm cạnh tranh trong doanh nghiệp…………………………..
2. Tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
II. Các tiêu thức đánh giá khả năng canh tranh của doanh nghiệp…..
1. Vốn……………………………………………………………………….
2. Con người…………………………………………………………………
3. Quản lý……………………………………………………………………
4. Chất lượng sản phẩm……………………………………………………
5. Công nghệ………………………………………………………………...
6. Mối quan hệ với nhà cung ứng…………………………………………
7. Chất lượng hàng hóa…………………………………………………….
8. Giá cả……………………………………………………………………..
9. Trình độ công nghệ ứng dụng KHKT và quản lý hiện đại……………...

16
17
17
17
18
18
19
20
20
21
21
21
21
21
21
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 2
Quy định pháp luật…………………………………………………………….
Vấn đề mở cửa nền kinh tế……………………………………………………
2. Nhân tố chủ quan………………………………………………………..
Tiềm năng của doanh nghiệp………………………………………………….
Thị trường mục tiêu doanh nghiệp hướng tới và lơaj chọn đối thủ……..
Chiến lược sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp…………………..
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN KHÓA MINH KHAI…………………………………………
I. Lịch sử hình thành và phát triển………………………………………
1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần khóa minh khai…………………..
2. Cơ cấu tổ chức……………………………………………………………
3. Mô hình tổ chức sản xuất……………………………………………….
3.1 Phân xưởng cơ khí………………………………………………………………
3.2 Phân xưởng cơ điện……………………………………………………………

32
32
32
33
33
34
35
36
36
37
38
38
40
40
43
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 3
7. Nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch…………………………………
8. Trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật…………………………………
9. Hoạt động mua và dự trữ………………………………………………
10. Hoạt động bán hàng…………………………………………………….
11. Chiến lược kinh doanh và marketing…………………………………..
12. Độ nổi tiếng của thương hiệu…………………………………………..
13. Cơ sở vật chất kỹ thuật………………………………………………….
14.Đặc điểm khu vực kinh doanh………………………………………….
15.Hệ thống phân phối……………………………………………………
16.Cách thức quản lý…………………………………………………….
IV. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần khóa
Minh Khai. ………………………………………………………………………..
1. Từ 2003 đến 2007………………………………………………………..
2. Cách thức phân phối lợi nhuận…………………………………………

52
53
55
55
55
56
57
57
58
58
58
59
60
60
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 4
Ở khâu cung ứng………………………………………………………..
Ở khâu sản xuất………………………………………………………..
4. Tăng cường hoat động marketing và hoàn thiện hệ thống kênh
phân phối……………………………………………………………..
Nghiên cứu thị trường………………………………………………….
Xây dựng chính sách sản phẩm…………………………………………
Giá cả linh hoạt…………………………………………………………
Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối……………………………………
Quảng cáo……………………………………………………………….
5. Hoàn thiện tổ chức bán hàng………………………………………
6. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự………………………………
Đối với công nhân sản xuất…………………………………………….
Đối với cán bộ kỹ thuật………………………………………………….
Đối với cán bộ quản lý………………………………………………….
7. Hạ giá thành sản phẩm………………………………………………

70
71
72
LỜI NÓI ĐẦU
Trước kia nền kinh tế nước ta còn là nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Trong
thời kỳ đó khái niệm cạnh tranh hầu như không được biết đến. Ngày nay khi nền kinh tế
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 5
nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, mà đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh gay gắt. Do đó khái niệm cạnh
tranh được các doanh nghiệp quan tâm một cách đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường
các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài cần có một vị trí vững chắc đây là
điều kiện duy nhất cho sự tồn tại của các doanh nghiệp.
Ngày nay hội nhập đang trở thành một thực tiễn sinh động trong đời sống kinh tế
- xã hội ở tất cả các nước. Đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là
một chủ trương sáng suốt của Đảng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy khoa học phù
hợp với nhu cầu phát triển của đất nước. Toàn cầu hoá là xu thế khách quan tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần thấy
hết những khó khăn, thách thức để có chiến lược thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao. Việt
Nam đã tham gia các tổ chức như ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Bối cảnh mới đã đặt
nền kinh tế nước ta trước một cục diện mới mà sự lựa chọn chỉ có thể bằng cách nâng
cao toàn diện sức mạnh nền kinh tế trước hết là sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp,
để chủ động tiến những bước tích cực và vững chắc vào quá trình hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới, thiết thực đẩy sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần khoá Minh Khai em đã mạnh dạn
chọn đề tài: “Khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần khoá Minh Khai_Thực trạng
và giải pháp”. làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Đề tài được nghiên cứu thông qua các phương pháp như tư duy, biện chứng,
thống kê, so sánh, phân tích....
Kết cấu chuyên đề gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong

tương quan so sánh của doanh nghiệp. Sức cạnh tranh không đồng nhất với quy mô của
doanh nghiệp và nó được đo lường bởi các yếu tố cạnh tranh kinh điển mà phải đặt nó
vào trong mối quan hệ với thị trường cạnh tranh, môi trường cạnh tranh. Cạnh tranh
trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng thể các yếu tố để xác lập vị thế so sánh
tương đối hoặc tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng, sự phát triển bền vững, ổn định của
doanh nghiệp trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong cùng một thị
trường và thị trường cạnh tranh xác định trong một thời gian hoặc một thời điểm định
giá xác định.
2. Tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường.
Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngày càng gay
gắt, khốc liệt. Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam là
một nội dung cần được quan tâm.
Do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nền kinh tế thế giới hiện nay đang chuyển thành
một hệ thống liên kết ngày càng chặt chẽ thông qua các mạng lưới công nghệ thông tin.
Toàn cầu hóa đòi hỏi các quyết định kinh tế, dù được đưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế
giới, đều phải tính tới các yếu tố quốc tế. Xu thế mới nhất trong sự phát triển của nền
kinh tế thế giới và cũng là xu thế cơ bản của cạnh tranh quốc tế ngày nay là một mặt, tất
cả các nước đều phải gia tăng thực lực kinh tế của mình và lấy đó làm điểm tựa chính để
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 8
mở rộng khả năng tham dự vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên phạm vi toàn
cầu; mặt khác, cuộc cạnh tranh quốc tế lấy thực lực kinh tế làm cốt lõi có xu hướng
ngày càng quyết liệt đó cũng khiến cho nền kinh tế thế giới phát triển theo hướng quốc
tế hóa và tập đoàn hóa khu vực. Toàn cầu hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực
làm gia tăng sự liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời
cũng buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt. Sự ra
đời của thị trường toàn cầu; sự ra đời với tốc độ nhanh chóng của hàng loạt công ty mới
giàu tinh thần lập nghiệp và năng lực sáng tạo kinh tế; sự xuất hiện liên tục của những
kỹ thuật mới và thị trường mới; sự gia tăng thường xuyên sức ép trên thị trường chứng
khoán đối với giá cổ phiếu; sự rút ngắn vòng đời của sản phẩm và sự nhất thể hóa kinh

được lợi thế so sánh với đối thủ của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả
mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của
đối tác cạnh tranh.
1. Khả năng cạnh tranh về vốn.
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào, vốn là yếu tố vô cùng quan trọng không thể
thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh nó được thể hiện bằng tiền, tài sản của
doanh nghiệp như: nhà cửa, kho tàng, thương hiệu, máy móc… có vốn doanh nghiệp có
thể đầu tư, cải tiến, đổi mới máy móc, trang thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực và
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đứng trên giác độ pháp luật thì vốn được quy định thành vốn pháp định, vốn
điều lệ và vốn có quyền biểu quyết. Đứng trên giác độ hình thành vốn gồm: vốn đầu tư
ban đầu, vốn bổ sung, vốn liên doanh và vốn đi vay. Đối với công ty trách nhiêm hữu
hạn, công ty hợp danh thì các thành viên phải đóng đủ vốn ngay sau khi công ty được
thành lập. Đối với công ty cổ phần thì vốn điều lệ đươc chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần, trong đó có cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi. Chứng chỉ do
công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán gọi là cổ phiếu. Bên cạnh đó còn có vốn bổ
sung, vốn liên doanh, vốn đi vay.Đứng trên giác độ chu chuyển có: vốn lưu động, vốn
cố định.
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, với nguồn vốn lớn nó trở thành nguồn
lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạo, là điều kiện quan trọng để doanh
nghiệp thực hiện các chiến lược sản xuất kinh doanh, thu hút nhân tài, áp dụng và triển
khai khoa học kĩ thuật mới trong sản xuất kinh doanh, vượt qua đối thủ.Tuy nhiên, nó
chỉ phát huy tác dụng khi biết quản lý, sử dụng đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và hiệu
quả.
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 10
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/01/2004, cả nước có
72.012 doanh nghiệp thực tế hoạt động với tổng số vốn là 1.724.558 tỷ đồng (2003) thì
quy mô vốn của các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ tương đương với một tập đoàn đa
quốc gia cỡ trung bình trên thế giới. Trong đó doanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/%
tổng vấn của doanh nghiệp cả nước (1.018.615 tỷ đồng), doanh nghiệp ngoài quốc

hoạt động kinh doanh một mặt hàng trên cùng một thị trường đã dẫn đến tình trạng năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp giảm sút. Tình trạng các doanh nghiệp trong nước
cạnh tranh với nhau, làm giảm giá một cách không cần thiết, đặc biệt là với các mặt
hàng xuất khẩu đã làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Tiềm lực về tài chính (đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân) hầu như rất hạn chế,
vốn đầu tư ban đầu ít, vốn lưu động lại càng ít. Thiếu vốn dẫn đến tình trạng các doanh
nghiệp không có điều kiện để lựa chọn các mặt hàng có chất lượng cao trong kinh
doanh, đầu tư vào đổi mới các thiết bị, công nghệ kinh doanh.
Nhận thức về tầm quan trọng của kênh phân phối của nhiều doanh nghiệp còn
hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp không xây dựng được mạng lưới phân phối trực
tiếp ở nước ngoài.
Văn hóa doanh nghiệp, văn minh thương mại, hệ thống dịch vụ của các doanh
nghiệp Việt Nam còn thiếu và yếu.
Việc tạo lập thương hiệu sản phẩm và doanh nghiệp còn bị xem nhẹ, chưa thực
sự coi thương hiệu là tài sản của doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp xây dựng được
hệ thống quản lý chất lượng còn ít.
Khả năng liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp chưa chặt chẽ, điều đó phần
nào làm giảm bớt sức mạnh của cả cộng đồng doanh nghiệp.
Chi phí kinh doanh còn cao, năng lực và bộ máy quản lý điều hành chưa tất, cơ
cấu tổ chức và cơ chế quản lý của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, công nghệ kinh doanh và khả năng tiếp cận đổi
mới công nghệ kinh doanh còn lạc hậu,....
3. Năng lực quản lý và điều hành
Theo kết quả điều tra, có 40,6% doanh nghiệp đã áp dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật trong quản lý, giảm tối đa biên chế quản lý là 48,4%, tiết kiệm các chi phí gây lãng
phí 73,7%, việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO:
9000 sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng quy trình công tác cho
từng lao động và mối quan hệ dây chuyền giữa các lao động và bộ phận công tác nhằm
hợp lý hóa sản xuất và quản lý, giảm biên chế hành chính, góp phần giảm chi phí quản
lý, hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, việc thuê chuyên gia và đào tạo để ứng dụng ISO

trường.
So với nhiều công cụ cạnh tranh khác, hệ thống kênh phân phối là một công cụ
không thể thiếu ở hâu hết các doanh nghiệp. Nhưng nó vẫn chưa được quan tâm đúng
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 13
mức và còn tồn tại nhiều hạn chế. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, kênh phân phối
vẫn còn mang nhiều dấu ấn của thời kỳ bao cấp. Đối với những doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, một bộ phận vẫn còn tổ chức kênh phân phối theo kiểu trao đổi đơn (bên
mua và bên bán chỉ quan hệ với nhau một lần), một bộ phận khác tổ chức kênh phân
phối theo kiểu tự nhiên, không hề có tác động quản lý điều khiển theo hướng có mục
tiêu.
Chiến lược truyền tin và xúc tiên hỗn hợp. Hoạt động xúc tiến hỗn hợp của các
doanh nghiệp còn ở trình độ thấp, giản đơn và không mang lại hiệu quả thiết thực.
Nhiều doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức in ấn và phát hành các tờ rơi giới thiệu về
doanh nghiệp. Có rất ít doanh nghiệp xây dựng được chương trình xúc tiến hỗn hợp để
giới thiệu sản phẩm cho khách hàng. Chi phí dành cho quảng cáo còn quá thấp, chỉ dưới
1% doanh thu là quá nhỏ so với doanh nghiệp nước ngoài như Coca Cola là 20% và
Sony là l0%, chất lượng quảng cáo còn rất yếu do thiếu chuyên gia trong lĩnh vực này.
Hình thức quảng cáo của các doanh nghiệp vẫn chủ yếu là xuất bản các tập catalogue,
brochure với nội dung đơn điệu, không mang dấu ấn của quảng cáo cho thị trường hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
6. Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới (R&D)
Đối với hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay, nhất là tại các nước phát
triển, chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu
chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao chất lượng và
năng suất lao động hay tạo ra các sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đáp ứng tốt hơn các
yêu cầu của khách hàng, qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo một vị trí vững
chắc trên thị trường. Qua điều tra, có 69,1% doanh nghiệp đầu tư chi phí cho R & D.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có ty lệ cao nhất chiếm 84,6%, cuối cùng là khu vực
doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp chỉ dành 0,2% đến 0,3%
doanh thu cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới.

của họ thấp hơn giá trên thị trường. Để có được lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải
tập trung các nguồn lực để tăng năng suất lao động hạ thấp chi phí đầu vào, nâng cao
chất lượng hàng hoá nhằm làm cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn giá trị xã
hội. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến công cụ lao động, hợp lý
hoá sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và quản lý hiện
đại vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp đã có
những đổi mới, nhiều máy móc thiết bị và công nghệ mới được chuyển giao từ các nước
công nghiệp phát triển. Song tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị còn chậm, chưa
đồng đều và chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt. Hiện vẫn còn tồn tại đan xen
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 15
trong nhiều doanh nghiệp các loại thiết bị công nghệ từ lạc hậu, trung bình đến tiên tiến,
do vậy đã làm hạn chế hiệu quả vận hành thiết bị và giảm mức độ tương thích, đồng
nhất giữa sản phẩm đầu vào, đầu ra.
Thực tiễn đã ch ứng minh các doanh nghiệp tồn tại và phát triển được cần có dây truyền
công nghệ mới, hiện đại có phương pháp quản lý khoa học.
10. Thông tin thị trường.
Thông tin là công cụ cạnh tranh lợi hại. Thông tin về thị trường mua bán, về tâm
lý, thị hiếu khách hàng, về giá cả, đối thủ cạnh tranh... có ý nghĩa quyết định hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Đủ thông tin và xử lý đúng thông tin một mặt giúp các
doanh nghiệp hạn chế rủi ro; một mặt giúp doanh nghiệp tìm ra lợi thế so sánh trên thị
trường chuẩn bị và đưa ra đúng thời điểm những sản phẩm mới có khả năng thay thế để
tăng cường sức mạnh cạnh tranh của hàng hoá. Thông tin không chính xác tạo ra những
nhu cầu giả, hành vi sai trái làm biến dạng thị trường. Vì thế chúng ta không còn ngạc
nhiên khi tình trạng quảng cáo sản phẩm hiện nay của các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong chi phí chung của doanh nghiệp.
11. Phương thức phục vụ và thanh toán
Phương thức phục vụ và thanh toán trước hết được thể hiện ở 3 giai đoạn trong
quá trình bán hàng: trước, trong và sau khi bán.
Trước khi bán hàng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động như: Quảng cáo, giới
thiệu, hướng dẫn thị hiếu khách hàng, các hoạt động triển lãm, trưng bầy hàng hóa.

nghiệp nhà nước với doanh nghiệp nước ngoài thường linh hoạt hơn giữa các doanh
nghiệp nhà nước với nhau. Tuy nhiên sử dụng công cụ này đòi hỏi các chủ thể kinh
doanh phải có bản lĩnh bởi vì có nhiều phức tạp nảy sinh như tình trạng chụp giật đối
với đối tác làm ăn có ý đồ đen tối.
14. Khả năng sáng tạo và sự mạo hiểm.
Trong kinh doanh lợi nhuận thường tỷ lệ thuận với mạo hiểm và rủi ro. Các chủ
thể kinh doanh có khuynh hướng đầu tư kinh doanh vào những mặt hàng mới, những
lĩnh vực mới mà ở đó mức độ rủi ro cao. Đây cũng là khuynh hướng khách quan
Mặt khác nó cũng làm giảm áp lực cạnh tranh từ phía đối thủ. Việc chấp nhận rủi
ro nhằm thu được lợi nhuận lớn bằng cách đi đầu trong kinh doanh là một công cụ cực
kỳ quan trong. Việc sử dụng hiệu quả công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài năng
và bản lĩnh.
15. Văn hoá doanh nghiệp.
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Cùng với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 17
việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo E.Heriôt thì “Cái gì còn lại
khi tất cả những cái khác bị quên đi - đó là văn hoá”. Còn UNESCO lại có một định
nghĩa khác về văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động
mọi mặt của cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm
mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Vậy văn hoá doanh nghiệp là gì? Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn
hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp,
trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của
doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của
doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể
riêng biệt. Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm

nội lực, lại đang có lợi thế về số lượng dồi dào, tỷ lệ lao động trẻ cao, có tính chịu
khó và giá nhân công rẻ... Chính vì thế, giải quyết việc làm để sử dụng số lượng
lao động đã và đang là mục tiêu có tầm quan trọng hàng đầu để giảm nhanh tỷ lệ
thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng trưởng kinh tế 8,5%, thì dù việc tăng trưởng số
lượng lao động có đạt 2,4% (là tốc độ tăng bình quân năm trong thời kỳ 2001-2006), thì
gánh nặng sẽ dồn cho việc tăng năng suất lao động đã lên đến 6%, mới đạt được mục
tiêu. Nâng cao năng suất lao động là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế đến
việc tạo ra giá trị thặng dư, tạo điều kiện cho tích lũy tái đầu tư và nâng cao thu nhập,
sức mua có khả năng thanh toán và cải thiện đời sống. Hơn nữa, năng suất lao động cao
là yếu tố quyết định đến hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và
quốc gia, tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO).
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động xã hội (tính bằng GDP
theo giá thực tế chia cho một lao động làm việc) năm 2006 của Việt Nam là 22,46 triệu
đồng/người (trong đó nông, lâm nghiệp 7,09 triệu, thủy sản 24,59 triệu, công nghiệp
58,25 triệu, xây dựng 26,45 triệu, thương nghiệp 25,29 triệu, khách sạn, nhà hàng 45,78
triệu, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc 36,15 triệu, văn hóa, y tế, giáo dục 27,37 triệu,
các ngành dịch vụ khác 57,55 triệu). Nếu tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái năm 2006
(bình quân khoảng 15.958 VND/USD) đạt 1.407 USD/người, còn thấp xa so với mức
năng suất lao động năm 2005 của nhiều nước trong khu vực (Indonesia 2.650 USD,
Philippines 2.689 USD, Thái Lan 2.721 USD, CHND Trung Hoa 2.869 USD, Malaysia
12.571 USD, Hàn Quốc 33.237 USD, Brunei 51.500 USD..).
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 19
18. Kinh nghiệm trên thị trường.
Trong môi trường kinh doanh như hiện nay, các doanh nghiệp phải có kinh
nghiệm, chiến thuật, thủ pháp để tận dụng những cơ hội để có thể đem lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt được những thông tin
trong môi trường kinh doanh từ đó tìm ra những cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp
của mình.Có kinh nghiệm trên thương trường mới duy trì và phát huy khả năng hiên có

đang là thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Bên cạnh các doanh nghiệp trong nước thì các doanh nghiệp, tập đoàn nước
ngoài tìm kiếm cơ hội đầu tư vào Việt Nam làm cho thị trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt, Những doanh nghiệp này hầu hết đã thành công trên thị trường, họ sử dụng
những chiến lược kinh doanh mới mẻ. Vì vậy doanh nghiệp trong nước cần có những
chiến lược, chính sách phù hợp với hoàn cảnh của mình.
1.3 Quy định luật pháp.
Thể chế chính trị - pháp luật ổn định cùng mức tăng trưởng cao làm cho số lượng
các doanh nghiệptrong nước và nước ngoài tăng nên nhanh chóng trong những năm gần
đây. Chính trị ổn định đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp khi
tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế.
1.4 Vấn đề mở cửa nền kinh tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế với việc gia nhập WTO dẫn đến các doanh nghiệp nước
ngoài đầu tư ồ ạt làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước yếu đi,
nhiều doanh nghiệp đã không thể đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt này. Luật
khuyến khích các doanh nghiệp trong nước được áp dụng cũng làm cho các doanh
nghiệp yên tâm hơn khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Nhân tố chủ quan.
2.1 Tiềm năng của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp đều có tiềm năng, thế mạnh riêng của mình. Doanh nghiệp
nào dự báo được thị trường và nắm được cơ hội thị trường từ đó có các chính sách khai
thác thị trường thị trường hợp lý và sớm hơn các doanh nghiệp khác.
2.2 Thị trường mục tiêu doanh nghiệp hướng tới và lựa chọn đối thủ.
Lựa chọn thị trường mục tiêu nhằm phát huy vị thế cạnh tranh sản phẩm của
doanh nghiệp. Lựa chọn thị trường mục tiêu doanh nghiệp hướng tới trước hết phải xem
đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó ra sao, doanh nghiệp nên cạnh tranh trên cơ sở lợi
thế chi phí thấp, sự khác biệt của sản phẩm .
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 21
Thứ hai, doanh nghiệp nên cạnh tranh với đối thủ chính để dành thị phần lớn
nhất hay chỉ tập trung vào một bộ phận thị trường quy mô nhỏ và đạt được thị phần

nhu cầu của ngươi tiêu dùng thay đổi theo từng thời kỳ nên quá trình phát triển của
Công ty Khóa Minh Khai đã trải qua các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ 1973 – 1980: Công ty hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ,
mục tiêu ngành nghề theo quy định ban đầu về sản xuất. Sản phẩm gồm các loại: Khóa,
bản lề, ke cửa, chốt, móc gió. Thời gian đầu Công ty sản xuất sản phẩm theo mẫu thiết
kế của Ba Lan nên có phần nào chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
- Giai đoạn 1981 – 1988: Công ty sản xuất theo kế hoạch Bộ giao. Ngoài những
sản phẩm cũ như trên còn có giàn giáo thép, bi đạn và mắt sàng xi măng, đồng thời sản
xuất thêm các mặt hàng kim khí, phục vụ xây dựng như cửa xếp, cửa chớp lật, cửa hoa.
Trong giai đoạn này Công ty đã tiến hành hai vấn đề lớn:
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm và đã xuất khẩu các khóa, le, bàn lề, cremon
cho các nước Hungary, Cuba, Lào và xuất khẩu tại chỗ cho Tây Đức.
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 23
+ Công ty đã nghiên cứu và chế tạo bi nghiền cho công nghiệp xi măng và phụ
tùng khác. Ngoài ra còn là đơn vị đi tiên phong trong việc nghiên cứu công nghệ sản
xuất gàn giáo thép.
- Giai đoạn từ 1989 – 1991: Thời kỳ chuyển mạch từ cơ chế bao cấp sang cơ chế
thị trường, bước đầu có nhiều khó khăn, nhất là đối với ngành cơ khí. Nhưng nhà máy
đã đưa ra mục têu: Giữ vững được sản xuất và tiêu thụ, không để công nhân nghỉ vì
thiếu việc làm, hàng hóa sản xuất phải tiêu thụ hết và đảm bảo đời sống nhân viên. Rụt
lại một phần lớn lao động dôi dư không có trình độ tay nghề, sức khoẻ và chuyển sang
công tác khác cho phù hợp, đồng thời gửi cán bộ, công nhân đi lao động, học tập ở nước
ngoài, một phần cho nghỉ hưu, về mất sức.
- Giai đoạn từ 1992 đến nay: Ngày 05/05/1993 Bộ trưởng Bộ Xây Dựng ký
Quyết định số 163/ BXD. TCLD thành lập doanh nghiệp nhà nước với tên gọi “Nhà
máy Khóa Minh Khai” trực thuộc liên hợp các xí nghiệp Cơ khí Xây dựng Bộ Xây
dựng.
Ngày 20/11/1995, Nhà máy Minh Khai được đổi tên thành Công ty Khóa Minh
Khai theo quyết định số 933/ BXD. TCLD của Bộ Xây dựng, trở thành đơn vị trực
thuộc của Tổng công ty Cơ khí Xây Dựng.

là người chịu trách nhiệm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình: Bố trí từng
tổ đội sản xuất sao cho phù hợp với khả năng trình độ của họ, thường xuyên giám sát
hướng dẫn ký thuật của đơn vị mình.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy tổ chức của Công ty Khóa
Minh Khai được phân bổ như sau:
- Bộ phận Marketing:
Là bộ phận tham mưu cho ban Giám đốc về tình hình thị trường, giá cả, vật tư,
sản phẩm có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời đề xuất các
phương án có liên quan đến các hoạt động hỗ trợ trước và sau khi bán hàng.
- Bộ phận kế hoạch:
Là bộ phận giúp ban Giám đốc lập kế hoạch đôn đốc, theo dõi các kế hoạch sản
xuất tiêu thụ ngắn và dài hạn. Ngoài ra còn thu nhận các thông tin từ các bộ phận để kịp
thời kiểm tra và chỉnh lý các kế hoạch của Công ty, đồng thời thực hiện các công việc
đột xuất khi cần.
- Bộ phận kỹ thuật:
Xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật đồng thời nghiên cứu và lập ra các tiêu
chuẩn chất lượng sản phẩm. Ngoài ra còn phải thiết kế khuôn mẫu, bản vẽ thiết kế,
SVTH: NguyÔn Kh¾c Quúnh Lớp: QTKD – K38 Trang 25

Trích đoạn Định hướng phát triển thị trường Nâng cao chất lượng sản phẩm Hạ giá thành sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status