Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ ô tô của Giadico - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bắt đầu từ năm 2001, Chính Phủ Việt Nam ban hành chính sách lắp ráp xe ô tô
trong nước và Luật Đầu Tư nước ngoài đồng thời thực hiện chính sách mở cửa nền kinh
tế khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, thiết bị công nghệ vào Việt Nam.
Kể từ đó các doanh nghiệp trong nước đã có chiến lược và mạnh dạn đầu tư lắp ráp ô tô
theo mô hình CKD như ô tô Trường Hải, Nhà máy sản xuất ô tô 3/2, Công Ty CP Cơ
Khí Ô Tô Thống Nhất Thừa Thiên Huế, Công Ty Cơ Khí Ngô Gia Tự, và cũng kể từ đó
các dự án đầu tư nước ngoài đã hình thành và đi vào hoạt động tại Việt Nam dưới dạng
liên doanh như: Mercedes-benz Việt Nam, Mekong, Toyota Việt Nam, Ford Việt Nam…
với tổng số vốn đều tư hàng chục đến hàng trăm triệu đô la.
Một vấn đề mà các doanh nghiệp lắp rắp ô tô trong nước hiện đang tập trung giải
quyết đó là làm thế nào để mở rộng thị trường còn tương đối nhỏ bé như hiện nay. Vừa
phải cạnh tranh với các hãng trong nước lại vừa cạnh tranh với các liên doanh nước
ngoài chưa tính đến yếu tố nhập lậu ô tô.
Đây là một vấn đề rất khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước.
Vấn đề này không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của từng doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt
Nam mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan như tốc độ tăng trưởng kinh tế
Việt Nam, thu nhập quốc dân/đầu người, mức độ phát tiển của hệ thống giao thông
đường bộ Việt Nam, các chính sách chế độ của chính phủ trong việc khuyến khích hay
hạn chế tiêu dùng loại mặt hàng ô tô, chính sách nội địa hóa sản phẩm, giảm giá thành,
chính sách xuất nhập khẩu của Nhà Nước, việc phát triển xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài.
Trên cơ sở nhận biết tầm quang trọng của tiêu thụ sản phẩm bằng những kiến
thức đã học, nghiên cứu tại trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ Tp. HCM và qua quá
trình làm việc tại Công ty CP DV-TM Ô Tô Gia Định V.N, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh và mở rộng thị trường tiêu thụ ô tô
của Giadico” làm khóa luận tốt nghiệp.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 1 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về thị trường và hoạt động mở rộng thị trường

Khoá luận đi sâu phân tích đánh giá thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm và mở
rộng thị trường của công ty trong một số năm gần đây, qua đó xác định được những
thành tựu đạt được cũng như những khuyết điểm và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó
đưa ra một số giải pháp kiến nghị góp phần đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm và mở
rộng thị trường của công ty. Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu khoá luận gồm 3
chương:
Chương I: Những vấn đề về thị trường và mở rộng thị trường đối với doanh
nghiệp.
Chương II: Tình hình hoạt động kinh doanh của Giadico
Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh và mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm của Giadico.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 3 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ
MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP
1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường
1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hóa, là một khâu của
quá trình sản xuất, được mở rộng cùng với sự mở rộng của sản xuất và lưu thông hàng
hóa. Theo K. Mác: Hàng hóa là sản phẩm được các nhà sản xuất làm ra không phải để
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 4 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
cho bản thân họ tiêu dùng mà để bán. Hàng hóa được bán tại không gian và thời gian
nhất định trên thị trường. Ngày nay cùng với sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng
hóa tính không gian và thời gian đã dần bị đẩy lùi vào lịch sử. Các hoạt động mua bán
trên thị trường ngày càng phát triển ở trình độ cao. Việc mua bán hàng hóa trên thị
trường diễn ra phức tạp, hình thức đa dạng phong phú đòi hỏi có cách nhìn nhận mới về
thị trường. Theo định nghĩa của các nhà khoa học hiện đại thì thị trường là tổng hợp các
quan hệ kinh tế trong việc mua, bán hàng hóa dịch vụ. Từ các góc độ khác nhau của thị
trường người ta có các quan điểm khác nhau về thị trường.

làm xuất hiện thêm các trung gian khác như người mua giới, đại lý phân phối, các đối
thủ cạnh tranh, thuế, hải quan, hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, sản xuất. Trên thị
trường, Nhà nước tham gia trên thị trường với tư cách là hộ tiêu dùng đặc biệt và đồng
thời là người đề ra và thực hiện các công cụ quản lý kinh tế.
Cung trên thị trường: Cung là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người bán có khả
năng bán và sẵn sàng bán ở mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định. Số
lượng hàng hóa được cung ứng ra trên thị trường trong khoản thời gian nhất định tuân
theo quy luật cung. Cung của một loại hàng hóa nào đó còn bị tác động bởi các yếu tố
sau:
- Phụ thuộc vào giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế
- Phụ thuộc giá cả các yếu tố đầu vào
- Phụ thuộc vào kỳ vọng của người sản xuất
- Phụ thuộc vào các chính sách thuế quan, xuất nhập khẩu.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 6 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
Cầu thị trường là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn
sàng mua trong khoảng thời gian nhất định. Khi giá cả hàng hóa thay đổi thì quy luật cầu
sẽ phát huy tác dụng. Cầu của một loại hàng hóa nào đó phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Mức thu nhập của dân cư
- Thị hiếu của người tiêu dùng
- Giá cả của các lại hàng hoá thay thế, bổ sung
- Các kỳ vọng của người tiêu dùng
Giá cả hàng hóa là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa trên thị trường. Giá
cả hàng hóa thay đổi xoay quanh giá trị của nó và được hình thành nên bởi tác động của
quy luật cung cầu và một số các nhân tố khác như: Quy luật lưu thông tiền tệ, giá trị thực
tế của đồng tiền sử dụng làm phương tiện thanh toán trên thị trường và sự cạnh tranh của
các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa đó.
1.1.3 Vai trò và các chức năng của thị trường
 Vai trò
Vai trò của thị trường rất quan trọng đối với sản xuất kinh doanh hàng hoá và
quản lý kinh tế. Thị trường được coi là phạm trù trung tâm vì qua đó các doanh nghiệp

- Thị trường địa phương
- Thị trường dân tộc
- Thị trường quốc tế
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 8 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
Phân loại căn cứ vài số người tham gia vào thị trường và vị trí của người bán,
người mua trên thị trường:
- Thị trường độc quyền là thị trường mà bên tham gia chỉ có một bên duy nhất,
bên bán có một người là thị trường độc quyền bán, bên mua chỉ có một người là thị
trường độc quyền mua.
- Thị trường cạnh tranh mà ở đó có nhiều người bán, người mua tham gia thị
trường được coi là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, còn đòi hỏi hàng hóa phải đồng nhất
để không tạo ra những cản trở trong cạnh tranh, đồng thời dễ dàng chuyển đổi ngành
nghề.
- Thị trường độc quyền cạnh tranh là thị trường vừa có yếu tố cạnh tranh đồng
thời ở một số bộ phận thị trường một hoặc một số nhà kinh doanh có được lợi thế và độc
chiếm bộ phận thị trường đó, khi tham gia vào thị trường độc quyền cạnh tranh nhà kinh
doanh có thể lựa chọn để quyết định hoặc về giá bán hoặc về khối lượng bán.
Phân loại theo khả năng đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội:
- Thị trường thực tế
- Thị trường tiềm năng
- Thị trường lý thuyết
- Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại thị trường khác tùy theo góc độ nghiên
cứu mà các nhà kinh doanh có thể lựa chọn tiêu thức cụ thể.
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường
Ở góc độ sự tác động của các lĩnh vực thị trường các nhân tố thuộc về chính trị xã
hội thể hiện qua chính sách tiêu dùng, dân tộc quan hệ quốc tế, các nhân tố tâm sinh lý
tác động mạnh mẽ đến người tiêu dùng và do đó có tác động mạnh mẽ tới nhu cầu thị
trường, các nhân tố môi trường như thời tiết, khí hậu cũng ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu
dùng.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 9 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG

sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp so với doanh thu của toàn ngành
- Tỷ trọng sản lượng của doanh nghiệp so với sản lượng của toàn ngành
Phần doanh thu (%) = DT bán hàng của dn / DT bán hàng toàn ngành X 100%
Phần sản lượng (%) = SL tiêu thụ của dn / SL tiêu thụ của toàn ngành X 100%
Thị trường tiềm năng của doanh nghiệp là phần thị trường doanh nghiệp có thể
chiếm lĩnh trong tương lai.
1.2.2 Nội dung công tác duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp
Để thu được hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bắt buộc
doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường đều phải có mục tiêu, phải xây dựng cho được
một chiến lược tổng thể hợp nhất, trong chiến lược tổng thể hợp nhất này bao gồm nhiều
chiến lược, chính sách để thực hiện chiến lược tổng thể này. Một trong những khâu cuối
cùng và khâu quan trọng nhất đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển được đó là
khâu tiêu thụ sản phẩm với mục tiêu cụ thể là duy trì và không ngừng mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Có hai hướng mở rộng thị trường của doanh nghiệp:
- Mở rộng theo hướng lôi kéo những người không tiêu dùng tương đối, biến họ
thành khách hàng của doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tăng
cường công tác quảng cáo, mở rộng mạng lưới bán hàng và cải tiến chất lượng sản
phẩm.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 11 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
- Mở rộng theo hướng lôi kéo những khách hàng của đối thủ cạnh tranh, biến
khách hàng của đối thủ cạnh tranh thành khách hàng của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh
nghiệp phải có sức cạnh tranh mạnh: cạnh tranh về giá, về chất lượng hàng hoá, về dịch
vụ trong và sau khi bán hàng, kết hợp với tăng cường quảng cáo.
Về mặt lí thuyết thị trường tiềm năng của doanh nghiệp có thể phát triển bằng thị
trường lí thuyết của ngành. Nghĩa là khi đó doanh nghiệp đã tiêu diệt hết các đối thủ
cạnh tranh để trở thành độc quyền và lôi kéo hết những người không tiêu dùng tương đối
thành người tiêu dùng sản phẩm của mình. Trong thực tế không thể đạt được điều đó, thị

thông tin, dự báo sự biến động của thị trường và ra quyết định. Thực hiện các nhiệm vụ
này có thể bằng hai phương pháp: nghiên cứu tại bàn làm việc hoặc nghiên cứu tại hiện
trường.
 Xây dựng chính sách sản phẩm phù hợp nhu cầu thị trường
Chính sách phát triển sản phẩm có một vị trí rất quan trọng trong chiến lược thị
trường của một doanh nghiệp. Nó tạo thế chủ động trong việc đáp ứng thị hiếu của
khách hàng và tạo sự thay đổi trong thị hiếu của họ.
Nội dung cơ bản của chính sách sản phẩm là tuỳ theo tình hình cụ thể trên thị
trường mà doanh nghiệp quyết định nên sản xuất loại sản phẩm nào, có nên thay đổi sản
phẩm hiện nay không, thay như thế nào hoặc đưa ra thị trường một sản phẩm mới hoàn
toàn hay chỉ cải tiến từ sản phẩm hiện có để có sức cạnh tranh hơn trên thị trường? Tuỳ
vào khả năng tài chính mà mỗi doanh nghiệp có chiến lược phát triển sản phẩm khác
nhau. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải luôn có sản phẩm mới để chuẩn bị tung vào
thị trường thay thế cho sản phẩm hiện thời bị trì trệ.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 13 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
Sản phẩm mới là sản phẩm có giá trị sử dụng cao hơn so với những sản phẩm cũ
cùng loại. Với các nhãn hiệu hay bao bì mới đa dạng cũng sẽ tạo cho các sản phẩm mới
hấp dẫn, đáp ứng được nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng. Vì vậy, chính sách sản
phẩm là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh đồng thời là phương pháp có hiệu quả để tạo ra
nhu cầu mới. Chính sách sản phẩm với mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm với chất lượng
cao sẽ giúp cho doanh nghiệp thành công trong việc duy trì và mở rộng thị trường.
 Xây dựng chính sách giá bán sản phẩm phù hợp
Giá là một yếu tố quan trọng và quyết định trong việc lựa chọn mua hàng hoá của
người tiêu dùng. Đối với doanh nghiệp, giá có vị trí đặc biệt trong quá trình tái sản xuất
vì nó là khâu cuối thể hiện kết quả của các doanh nghiệp. Vì vậy xác lập chính sách giá
đúng đắn là điều kiện quan trọng để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có
hiệu quả và chiếm lĩnh, mở rộng thị trường.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi xây dựng chính sách giá nhất thiết phải dựa trên
cơ sở phân tích kỹ chi phí cấu thành sản phẩm, đưa ra các quyết định linh hoạt tuỳ theo
tình hình cụ thể của thị trường (nhu cầu, dung lượng thị trường, giá sản phẩm cùng loại,

năng mở rộng phần thị trường và ảnh hưởng của doanh nghiệp bị hạn chế.
- Loại kênh gián tiếp: Doanh nghiệp bán hàng cho người tiêu dùng qua một hay
nhiều trung gian. Loại kênh này có ưu và nhược điểm ngược lại với loại kênh trực tiếp.
Thông thường các doanh nghiệp sử dụng đồng thời cả bốn kênh trong quá trình
lưu thông hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Tuỳ tình hình cụ thể trên thị
trường tại các thời điểm khác nhau mà các doanh nghiệp tập trung chú ý vào các kênh
tiêu thụ khác nhau với mục đích tiêu thụ được nhiều hàng hoá nhất với giá bán cao nhất.
 Xây dựng các chính sách hỗ trợ bán hàng
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 15 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
Các hoạt động hỗ trợ bán hàng là biện pháp quan trọng và có hiệu quả trong hoạt
động tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Nội dung chủ yếu của chính sách này bao
gồm:
- Quảng cáo là việc sử dụng không gian, thời gian và các phương tiện thông tin để
truyền tin định trước về sản phẩm của doanh nghiệp. Mục đích của nó là thu hút sự chú ý
của khách hàng, thuyết phục họ về những lợi ích, sự hấp dẫn của sản phẩm nhằm thay
đổi hoặc củng cố thái độ, lòng tin của người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp.
Quảng cáo là công việc cần thiết trong lưu thông hàng hoá. Nó thường hướng
dẫn, hình thành nhu cầu, thúc đẩy nhu cầu một cách nhanh chóng. Trong điều kiện thị
trường hiện nay: hàng hoá ngày càng phong phú, đa dạng và luôn có xu hướng bão hoà
trên thị trường thì quảng cáo càng trở nên cần thiết. Các phương tiện thường dùng trong
quảng cáo là: báo chí, tivi, phim ảnh, biển quảng cáo.
- Xúc tiến bán hàng: là hoạt động Marketing thu hút sự chú ý của khách hàng tới
một loại sản phẩm, làm cho nó hấp dẫn hơn ở nơi bán hàng.
Đây là hoạt động yểm trợ tất yếu nhằm tăng khối lượng hàng bán ra.
 Các hình thức xúc tiến bán hàng
+ Thay đổi hình thức hàng hoá: Là làm bất cứ một việc gì đó làm cho sản phẩm
hấp dẫn hơn đối với người mua. Ví dụ: thay đổi bao gói, cải tiến nhãn hiệu, thay đổi
cách mở bao gói dễ dàng hơn.
+ Khuyến khích mua hàng: giảm giá cho khách hàng mua với số lượng nhiều,
giảm giá tạm thời, tặng quà, gói buộc hàng, thanh toán trả chậm, trả góp.

nghiệp đều có hạn và nó có ảnh hưởng trực tiếp tới số lượng, chất lượng, giá cả sản
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 17 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Mọi kế hoạch sản xuất đều dựa trên cơ sở cân đối
giữa yêu cầu thị trường với khả năng về các nguồn lực doanh nghiệp. Đối với thị trường
hiện có, sự biến động về cầu là không đáng kể nên mọi nguồn lực của doanh nghiệp
không có biểu hiện căng thẳng. Khi doanh nghiệp mở rộng thị trường nhu cầu tất yếu sẽ
tăng lên cả về số lượng và chất lượng, mà với các nguồn lực không đổi sẽ dẫn tới sự
chênh lệch giữa yêu cầu của thị trường với khả năng của doanh nghiệp. Vì vậy muốn mở
rộng thị trường doanh nghiệp cần tìm mọi giải pháp và khai thác tối đa các nguồn lực,
đảm bảo thoả mãn thị trường.
 Nguyên tắc thứ ba
Mở rộng thị trường dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ các loại nhu cầu và khả năng
thanh toán của người tiêu dùng, dự báo có căn cứ khoa học sự biến động cơ cấu sản
phẩm tiêu dùng.
Trên thị trường luôn tồn tại mối quan hệ cung cầu về tất cả các loại hàng hoá và
dịch vụ. Cơ sở để tạo nên mối quan hệ cung cầu của một hàng hoá dựa trên nhu cầu của
người tiêu dùng về loại hàng hoá đó. Muốn sản xuất đáp ứng được nhu cầu thị trường,
doanh nghiệp phải thường xuyên dựa trên kết quả phân tích các thông tin về nhu cầu của
người tiêu dùng, dự báo có căn cứ khoa học sự biến động cơ cấu sản phẩm tiêu dùng để
ra quyết định sản xuất kinh doanh. Trong quá trình phân tích các thông tin, người quản
lý phải biết loại bỏ các thông tin không cần thiết và chỉ giữ lại những thông tin về nhu
cầu có khả năng thanh toán. Trên cơ sở các thông tin thu được, doanh nghiệp phân chia
thành nhóm người tiêu dùng với đầy đủ đặc điểm nhóm đó. Những hoạt động này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng với thị trường mới vì thông qua thu thập, xử lý thông tin và dự
báo nhu cầu có khả năng thanh toán, doanh nghiệp mới có thể tạo được chỗ đứng vững
chắc trên thị trường.
 Nguyên tắc thứ tư
Mở rộng thị trường phải phù hợp với các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà Nước
trong từng thời kỳ.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 18 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG

trên thị trường, qua đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Với sản phẩm chất lượng cao doanh nghiệp có thể dễ dàng thâm nhập vào các thị
trường mới. Trên thị trường cao cấp cạnh tranh về giá cả đã nhường chỗ cho cạnh tranh
về chất lượng. Chất lượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại nhất, phản ánh sức cạnh
tranh của doanh nghiệp theo chiều sâu.
+ Giá cả: Giá cả hàng hoá là yếu tố cạnh tranh cơ bản. Sản phẩm có chất lượng
cao và giá hạ sẽ dễ dàng đánh bại các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Khi giá cả giảm
xuống sẽ kích thích tăng nhu cầu. Vì vậy để duy trì phần thị trường hiện có hoặc muốn
chiếm lĩnh một phần thị trường mới đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách giá phù
hợp.
+ Các biện pháp marketing nhằm nâng cao thế lực của doanh nghiệp trước các
đối thủ cạnh tranh. Nó bao gồm khả năng nắm bắt các nhu cầu mới, các biện pháp về
quảng cáo, phân phối hàng, xúc tiến với khách hàng, các dịch vụ trong và sau khi bán
hàng. Các biện pháp này giúp doanh nghiệp tạo được chữ tín với khách hàng, giúp người
tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm của doanh nghiệp. Qua đó doanh nghiệp thu hút được
khách hàng về phía mình.
- Trình độ quản lý kinh doanh và trình độ tay nghề của công nhân trong doanh
nghiệp:
Trình độ quản lý của doanh nghiệp được thể hiện ở công nghệ quản lý mà doanh
nghiệp đang áp dụng, năng lực quản lý, kinh doanh của Ban Giám đốc. Bộ máy quản lý
năng động, khoa học sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng thích nghi với mọi thay đổi của nền
kinh tế thị trường. Nhạy bén trong kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng phán
đoán tình thế, chớp thời cơ tạo thế vững chắc trên thị trường.
Trình độ nhận thức, chấp hành kỷ luật lao động, mức độ tinh thông nghề nghiệp
của đội ngũ công nhân viên chức là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng, giá thành sản
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 20 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
phẩm. Trong điều kiện các nhân tố khác, nhất là trình độ công nghệ của doanh nghiệp
khó có thể thay đổi một sớm một chiều thì nhân tố con người có vai trò quan trọng. Từ
đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
 Nhóm nhân tố khách quan

tấn công.
+ Mức thu nhập của dân cư và sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân có ảnh
hưởng lớn tới qui mô, cơ cấu của thị trường. Khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao,
thu nhập của dân cư sẽ tăng lên, làm tăng khả năng thanh toán của họ, tăng sức mua
trong xã hội. Thu nhập cao còn làm đa dạng nhu cầu và thay đổi cơ cấu thị trường.
Người tiêu dùng tăng khả năng mua sắm, tăng qui mô của cầu.
+ Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước có vai trò rất quan trọng, chi phối nhiều
tới thị trường và từ đó hướng tới thị trường của các doanh nghiệp thông qua công cụ
quản lý vĩ mô.
+ Nhà nước với vai trò đặc biệt của mình sử dụng pháp quyền hành chính buộc
người mua, người bán phải tuân theo một giới hạn nhất định. Đó là việc Nhà nước đưa
ra các luật lệ để xác định môi trường kinh tế, những khuôn khổ luật pháp này có tác
dụng sâu sắc tới các hành vi ứng xử kinh tế của con người. Nhà nước sử dụng quyền lực
về tài chính để ổn định nền kinh tế. Thông qua các chính sách về thuế, đầu tư, tiết kiệm,
lãi suất, xuất nhập khẩu. Nhà nước điều tiết tiêu dùng, khuyến khích hoặc hạn chế các
hoạt động kinh doanh, đầu tư sản xuất vào một lĩnh vực nào đó của các doanh nghiệp.
Nhà nước đưa ra các chính sách để khắc phục những nhược điểm của thị trường.
+ Nhà nước với vai trò là hộ tiêu thụ đặc biệt lớn có khả năng thay đổi mọi quan
hệ cung cầu trên mọi thị trường: thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, thị trường lao
động. Để thực hiện vai trò này, một mặt Nhà nước thông qua các doanh nghiệp quốc
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 22 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
doanh, mặt khác trực tiếp sử dụng ngân sách quốc gia để chi tiêu. Ví dụ như Nhà nước
chi ngân sách để bình ổn giá cả những mặt hàng thiết yếu hoặc xây dựng những công
trình lớn nhằm tăng sức cầu, tăng mức chi tiêu xã hội, tạo nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất
nghiệp.
- Ảnh hưởng của môi trường văn hóa xã hội:
Văn hoá xã hội có tác động riêng biệt đến thị trường. Những phong tục tập quán,
lối sống, thói quen tiêu dùng và thị hiếu của các tầng lớp dân cư có ảnh hưởng sâu sắc
đến qui mô, cơ cấu nhu cầu của thị trường, tức là tác động trực tiếp đến cầu của từng
mặt hàng và thị trường sản phẩm của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô tại Việt Nam hiện đang phải đối mặt
với những khó khăn to lớn. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp hiện
đang bị thu hẹp dần do cầu về ô tô không tương xứng với mức tăng về cung ô tô.
 Đối với nền kinh tế quốc dân
Mỗi doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế trong hệ thống kinh tế thống nhất. Một
nền kinh tế vững mạnh dựa trên nền tảng sự lớn mạnh của các doanh nghiệp hoạt động
trên đất nước đó.
Mỗi doanh nghiệp duy trì và mở rộng được thị trường, đẩy lùi được sự lấn chiếm
của hàng ngoại sẽ góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà, tăng tiềm lực kinh tế của
đất nước, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Duy trì và mở rộng thị trường ngoài nước của mỗi doanh nghiệp còn tăng cường
được tiềm lực ngoại thương, tạo khả năng cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, qua đó
ảnh hưởng của đất nước trên trường quốc tế.
SV: LƯƠNG THỊ THU TRANG 24 GVHD: ThS. PHẠM THỊ KIM DUNG
Ô tô là loại hàng hoá thiết yếu của xã hội là một phương tiện không thể thiếu của
ngành giao thông vận tải hiện nay. Sản xuất và lắp ráp ô tô hiện nay là ngành công
nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao đối với các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, tuy
ngành sản xuất lắp ráp ô tô còn nhỏ bé nhưng cũng là một trong những ngành có giá trị
tổng sản lượng cao nhất, cung cấp phần lớn các sản phẩm ô tô cho nhu cầu xã hội, cung
cấp cho tất cả các thành phần kinh tế phương tiện vận tải, chuyên chở và đi lại, và góp
phần phát triển kinh tế đất nước. Việc duy trì và mở rộng thị trường sản phẩm của các
doanh nghiệp ô tô tại Việt Nam không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân ngành công
nghiệp ô tô tại Việt Nam mà còn có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mở rộng thị trường ô tô Việt Nam sẽ là tiền đề phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam trong thế kỷ tới đồng thời tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho dân cư
trước mắt là các vùng đô thị lớn.
Tóm lại, việc không ngừng mở rộng thị trường ô tô cho các doanh nghiệp lắp ráp
ô tô tại Việt Nam trong thế kỷ tới, có tác động rất mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế
của đất nước nói chung cũng như sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp sản xuất
và lắp ráp ô tô nói riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status