Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở quảng bình hiện nay - Pdf 95

Đề tài khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của
chính bản thân, em xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô giáo khoa Lý
luận Chính trị - Trường Đại học Khoa học Huế, những người đã truyền
đạt, vun đắp kiến thức cho em trong suốt bốn năm học vừa qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
Tiến sĩ Hồ Minh Đồng, người đã trực tiếp hướng dẫn và dìu dắt em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những
người đã nhiệt tình ủng hộ và vun đắp cho khoá luận này được hoàn
thành như ngày hôm nay.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên khoá luận cũng không
thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, có nhiều vấn đề đã và đang nảy
sinh mà bản thân chưa cập nhật được. Vậy rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của Quý thầy cô và toàn thể các bạn để khoá luận đạt kết quả
tốt hơn.
Huế, tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Hoàng Nữ Lê Mai
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
1
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 2
M UỞĐẦ 3
1. Tính c p thi t c a t i khoá lu nấ ế ủ đề à ậ 3
2. Tình hình nghiên c u c a khoá lu nứ ủ ậ 4
3. M c ích v nhi m v nghiên c uụ đ à ệ ụ ứ 7
4. C s lý lu n v ph ng pháp nghiên c uơ ở ậ à ươ ứ 7
5. Gi i h n ph m vi nghiên c u c a khoá lu nớ ạ ạ ứ ủ ậ 8

K T LU NẾ Ậ 80
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
2
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó,
vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định
nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế
giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về
thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con
người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh
giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế
lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện
đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng
lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại
được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay,
vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của
một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt
Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp
đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng về vấn đề con
người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết
học Mác-Lênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và
cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

Vấn đề nghiên cứu con người Việt Nam từ lâu đã được đề cập đến và là
mối quan tâm chung của nhiều ngành khoa học, kể cả một số ngành khoa học
tự nhiên, công nghệ và các ngành khoa học xã hội nhân văn. Từ mỗi góc độ
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
4
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
của mình, các nhà khoa học chuyên ngành đã tiếp cận được ở mức độ tương
đối sâu sắc về các vấn đề liên quan đến con người Việt Nam, tính cách dân
tộc Việt Nam, đến việc giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời
đại mới. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam (Nxb
Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959) và Tìm hiểu tính cách dân tộc (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1963) của GS. Nguyễn Hồng Phong, Giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam của GS. Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1980);…đã tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm và giá trị của
con người Việt Nam truyền thống, từ giác độ của khoa học lịch sử, dân tộc
học. Các công trình đó đã hệ thống hoá và khái quát hoá hệ tư tưởng, hệ thống
đạo đức và tính cách của con người Việt Nam trong truyền thống (bao gồm
các mặt tích cực, tiêu cực). Từ đó các nhà nghiên cứu đã đặt ra yêu cầu cấp
thiết phải kế thừa và phát huy những giá trị, loại bỏ những phản giá trị trong
truyền thống để xây dựng, phát triển con người Việt Nam trong điều kiện xã
hội mới.
Trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay,
chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu con người
Việt Nam. Chúng ta đã tìm hiểu, khám phá sâu sắc hơn con người Việt Nam
nhằm động viên, khai thác mạnh mẽ, hiệu quả các tiềm năng của mỗi con
người, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vào tiến
trình đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh” tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội,

yếu hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhân
lực đầu thế kỷ XXI của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước
KX05 (Hà Nội, 2003)…Các công trình này đã đề cập đến các phương hướng
nghiên cứu con người, nguồn nhân lực và phát triển nguồn lực con người Việt
Nam cả trên bình diện lý luận và thực tiễn; xác nhận tầm quan trọng của nhân
tố con người trong sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển con
người, phát triển nguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, phát
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
6
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
triển nguồn nhân lực trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh việc nghiên cứu
về con người Việt Nam nói chung, cũng đã có nhiều đề tài, sách báo, tạp
chí… bàn đến vấn đề con người Quảng Bình, các bài viết này chủ yếu bàn về
con người với tư cách là nguồn lực quan trọng, là mục tiêu trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay.
Với việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con
người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình
hiện nay” một mặt kế thừa kết quả nghiên cứu về con người Việt Nam của
các nhà nghiên cứu đi trước, mặt khác tập trung nghiên cứu nội dung phát huy
nhân tố con người trong mối tương quan với phát triển văn hoá, kinh tế - xã
hội ở Quảng Bình trong điều kiện đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tiến hành nghiên cứu cơ bản, có hệ thống và sâu
hơn quan điểm triết học Mác - Lênin về con người. Từ đó vận dụng những giá
trị của triết học Mác - Lênin để làm sáng tỏ một số vấn đề có tính quy luật
nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay
Để đạt được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày và làm rõ quan điểm của triết học, nhất là triết học Mác-

1.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin.
1.3 Một số vấn đề về con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Chương 2: Xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình
hiện nay với việc phát huy nhân tố con người
2.1 Khái quát về tình hình ở Quảng Bình hiện nay.
2.2 Đặc điểm và vai trò của nhân tố con người Quảng Bình trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
2.3 Thực trạng và giải pháp phát huy nhân tố con người trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
8
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
Chương 1
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
Từ xưa cho đến nay khái niệm “con người” luôn là câu hỏi lớn xuất hiện
ở nhiều hệ thống triết học. Tuỳ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luận
khác nhau mà hình thành nên những quan điểm duy vật hay duy tâm và cuộc
đấu tranh giữa các quan điểm ấy cũng là một vấn đề trung tâm của lịch sử tư
tưởng triết học.
 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trong quá trình phát triển, các quốc gia ở phương Đông đã hình thành hệ
thống các quan điểm về thế giới tương đối hoàn chỉnh, góp phần không nhỏ
vào kho tàng tri thức của nhân loại. Song, với đặc trưng là “hướng nội” nên
những quan điểm về con người, về xã hội loài người là những vấn đề được đề
cập đến nhiều hơn cả.
Quan điểm về con người ở phương Đông được hình thành rất sớm và
được thể hiện một cách có hệ thống từ thế kỷ VI tr.CN trong các học thuyết
triết học. Nội dung các quan điểm này rất đa dạng, song những vấn đề mà

Con đường tu luyện để trở thành La Hán, Bồ Tát hay Phật cũng được coi
là đạo làm người. Đấy là quá trình thực hiện hệ thống những yêu cầu mà giới,
định, tuệ đã quy định.
- Quan điểm về con người trong triết học Nho gia: Triết học Nho gia
chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng của Kinh Dịch. Theo tư tưởng này, lúc âm -
dương phân định, thanh khí làm trời, trời là chúa tể của vũ trụ; trọng khí làm
đất; con người và vạn vật được tạo thành từ sự hỗn hợp giữa khí thanh và khí
trọng trong khoảng giữa âm - dương nhưng con người bẩm thụ tính trời nên
bản tính con người là thiện.
Con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời, nhưng con
người có thể cải thiện nó qua hoạt động tu dưỡng mình trong cuộc sống. Hiểu
mệnh trời, sống theo mệnh trời và tự tu dưỡng mình là đạo làm người.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
10
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
Quan điểm về đạo làm người được Nho giáo thể hiện qua thuyết Chính
danh. Theo thuyết này, tương ứng với từng danh, từng cặp danh là một hệ
thống những yêu cầu mà con người phải thực hiện. Những yêu cầu chung
nhất và cũng là những yêu cầu cơ bản nhất của danh “người” (nhân) là ngũ
thường, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; trong đó nhân là gốc và lễ là phương
tiện để thực hiện và thể hiện nhân.
Sống chính danh và giúp đỡ người khác chính danh được coi là quân tử -
mẫu người lý tưởng mà tất cả các nhà Nho đều quan niệm rằng, cuộc sống của
họ là cuộc sống tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ để giúp đời.
Nhìn chung, quan điểm về con người trong các học thuyết triết học
phương Đông thể hiện rất phong phú, nhưng đều mang nặng tính duy tâm. Về
cơ bản, các học thuyết đã lấy đạo đức làm nền tảng để giải quyết những vấn
đề trong cuộc sống; song nội dung các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức,
quan điểm về bản tính con người, đạo làm người và hình mẫu con người lại
rất đa dạng chứa đựng những tư tưởng giống nhau, khác nhau và thậm chí đối

chủ nghĩa duy tâm lại truy tìm nguồn gốc và bản chất của con người từ những
lực lượng siêu tự nhiên. Tiêu biểu là Xôcrát và Platôn. Theo Xôcrát, thế giới
do thần tạo ra và thần đã an bài cho thế giới. Con người không nên tìm hiểu
thế giới vì như thế là xúc phạm thần. Con người hãy tìm hiểu về chính bản
thân mình. Platôn cho ý niệm có trước tất cả, là nguồn gốc của tất cả. Ý niệm
tồn tại vĩnh viễn và bất biến. Con người gồm hai phần độc lập với nhau là thể
xác và linh hồn. Thể xác được tạo thành từ đất, nước, lửa, không khí nên có
thể mất đi. Khi con người chết, linh hồn thoát khỏi thể xác về với thế giới ý
niệm của mình để đến một lúc nào đấy linh hồn lại nhập vào một thể xác mới
tạo ra một người mới. Nhận thức của con người là sự hồi tưởng lại những gì
mà ý niệm đã có.
Theo Platôn, linh hồn bất tử gồm lý tính, lý trí và tình cảm. Tương ứng
với ba bộ phận này là ba đẳng cấp người: các nhà triết học và các nhà cầm
quyền -binh sĩ - dân tự do. Nô lệ không phải là người mà chỉ là những công
cụ biết nói nên không có linh hồn.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
12
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
- Thời trung cổ: Thời trung cổ là thời hệ tư tưởng Cơ đốc giáo giữ vai trò
thống trị nên quan điểm về vai trò toàn năng của Chúa Trời cũng giữ vai trò
thống trị. Tiêu biểu cho tư tưởng ở thời kỳ này là quan điểm của Tômát
Đacanh.
Tômát Đacanh quan niệm thế giới do Chúa Trời sáng tạo ra từ hư vô và
con người là hình ảnh của Chúa, được Chúa đặt sống ở trung tâm vũ trụ. Con
người có thể xác và linh hồn bất tử. Linh hồn này được Chúa tạo ra cùng sự
tạo ra thể xác con người. Chúa sắp xếp thế giới theo trật tự từ các sự vật
không có linh hồn đến con người, thần thánh và cao nhất là Chúa. Đây là trật
tự chặt chẽ, bất biến. Trong trật tự đó, con người được Chúa chia thành những
đẳng cấp nhất định mà bất cứ một biểu hiện nào muốn vượt lên đẳng cấp cao
hơn đều mang tội với Chúa.

của con người mang bản tính tự do ấy. Điđrô coi con người là đỉnh cao nhất
trong quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên; coi trí tuệ và đạo đức là sản
phẩm của hoàn cảnh xã hội và coi sức mạnh của con người nằm trong tri thức
khoa học.
Ở Hà Lan, Xpinôda cho rằng, giới tự nhiên là thực thể duy nhất, tồn tại
theo chính mình, con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Triết học có nhiệm
vụ chính là giúp con người có học thức để nhận thức giới tự nhiên, làm theo
giới tự nhiên và làm theo những lý tưởng đạo đức cao đẹp…
Nét nổi bật trong triết học thời Phục hưng và cận đại là sự phủ nhận
quyền lực của Đấng Sáng tạo, đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai trò
của lý trí, đề cao các giá trị và đề cao tư tưởng vì con người.
Triết học thời Phục hưng và cận đại không chỉ ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển của triết học sau này mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều cuộc
cách mạng nổ ra ở Tây Âu và trên toàn thế giới.
- Thời hiện đại: Vấn đề con người trong triết học phương Tây hiện đại
thể hiện rõ nét qua các quan điểm của phân tâm học, chủ nghĩa nhân vị, chủ
nghĩa thực dụng, chủ nghĩa phê phán, hiện tượng học, chú giải học, chủ nghĩa
hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc…Tư tưởng của những học thuyết này tạo nên
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
14
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trong đó chủ nghĩa hiện sinh giữ vai trò
trọng yếu.
Theo trào lưu này thì hoặc bản năng tính dục là cơ sở quan trọng nhất
cho mọi hành động của con người (quan điểm của phân tâm học); hoặc chỉ có
“nhân vị” mới là bản thể chân thực nhất vì nhờ có quan hệ với “nhân vị” mà
phần thế giới còn lại mới có ý nghĩa (quan điểm của chủ nghĩa nhân vị); hoặc
chỉ có cá nhân con người mới hiểu được sự tồn tại của mình nên chỉ có cá
nhân mới “hiện sinh”, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của
những cá nhân khác để thể hiện giá trị hiện sinh của mình (quan điểm của chủ

chế đó đã được giải quyết, triết học Mác đã khẳng định con người hiện thực là
sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.
Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính
sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu
tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là
“thân thể vô cơ của con người”; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết
quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm
của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, cần
khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản
chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới
loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử đã có những quan niệm
khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử
dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con người
động vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh
một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên
được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
16
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề
con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể
phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng
bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với
súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của
mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản

trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của
con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với
loài vật. Nhu cầu sinh học phải được “nhân hoá” để mang giá trị văn minh
con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của
nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để
tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các
quan hệ xã hội
Một con người bao hàm trong nó ba quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan
hệ với xã hội và quan hệ với bản thân con người đó. Quan hệ với tự nhiên
trong đời sống hàng ngày được biểu hiện qua các hoạt động có tính xã hội
như lao động chế biến, đánh bắt, nuôi trồng… Chính vì vậy có thể nói quan
hệ con người với con người là mối quan hệ bản chất, quy định bản chất con
người.
Mỗi con người đều được sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh kinh
tế - xã hội cụ thể, trong những thời điểm nhất định. Và trong điều kiện đó,
bằng hoạt động thực tiễn như ăn uống, lao động, nghỉ ngơi… con người tham
gia vào các quan hệ xã hội (quan hệ giai cấp, tầng lớp, quan hệ gia đình, bạn
bè, quan hệ kinh tế, chính trị…) và qua đó con người mới bộc lộ bản chất xã
hội của mình.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
18
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề
nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính
hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [16,
11]. Luận đề này khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly
mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác
định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất

công nghiệp vào môi trường , làm ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng tới bầu
khí quyển, nguồn nước trên thế giới và hậu quả của nó còn đến giờ. Nhưng
đồng thời, nền đại công nghiệp sản xuất ra khối lượng hàng hoá khổng lồ, với
nhiều phát minh vĩ đại phục vụ tích cực cho đời sống con người, làm cho chất
lượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt, tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát
triển. Vậy hoạt động lao động sản xuất là điều kiện cho sự tồn tại của con
người, vừa là phương thức làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở
đó, con người cần có ý thức trong hoạt động vật chất và tinh thần nhằm thúc
đẩy xã hội phát triển phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra.
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng:
“Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử
phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng
lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự
vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và
không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng xa cách xa con
vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình
làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [17, 476].
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,
tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động
phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn
của tự nhiên.Con người thì ngược lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình
để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo
mục đích của mình.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
20
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của
mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều
kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời

cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử. C.Mác đã đúc kết lịch sử và tìm ra lời
giải đáp đúng đắn cho mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
 Khái niệm cá nhân
Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: con người là sự thống nhất biện
chứng giữa mặt sinh học với mặt xã hội. C.Mác viết: “Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [16, 11]. Bản
chất xã hội của con người đó không thể hiện một cách chung chung mà biểu
hiện cụ thể trong từng cá nhân. Nói một cách khác, con người tồn tại thông
qua mỗi cá nhân.
Với tư cách là một thực thể sinh học, mỗi cá nhân là cá thể người mang
đặc điểm chung của giống loài “người”, nhưng lại khác nhau về cấu tạo cơ thể
riêng của mỗi người. Sự khác nhau về phương diện sinh học ấy chủ yếu bị chi
phối bởi “bộ gen” riêng ở mỗi người. Mỗi cá nhân có một thể chất riêng, hình
dáng riêng, đặc điểm riêng về kiểu thần kinh, có sự nhạy cảm riêng đối với
những yếu tố tác động của môi trường sống…
Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội, cá nhân là cá thể
người được hình thành và phát triển trong lịch sử, là chủ thể của lao động của
mọi quan hệ xã hội và là chủ thể của nhận thức. Cá nhân là một con người
hoàn chỉnh trong sự thống nhất của những khả năng riêng có của người đó với
chức năng xã hội mà người đó thực hiện. Trong mối quan hệ với xã hội, cá
nhân thể hiện là một chỉnh thể đơn nhất, độc đáo có vai trò chủ thể trong lịch
sử.
Với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức, mỗi cá nhân có một bản
sắc độc đáo riêng. Bản sắc độc đáo ấy thể hiện qua “nhân cách” của cá nhân.
Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của cá nhân tạo thành một
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
22
Đề tài khoá luận tốt nghiệp
chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điều
chỉnh mọi hoạt động của mình. Nhân cách không phải là cái trời phú cho,

xuất ra cũng như với tư cách mà họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là thế
nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”
[21, 269]
 Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý nghĩa như một luận điểm
xuất phát để luận giải những vấn đề khác của lịch sử ngay từ khi triết học Mác
ra đời.
Khái niệm xã hội được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là
xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội như
quốc gia, dân tộc, giai cấp.
Vậy, xã hội là gì?
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất. Hình thái vận động
này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với
người làm nền tảng. “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu
hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với
nhau” [20, 355]. Theo C.Mác, “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là
cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [18, 657].
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, trong bất cứ giai đoạn nào, cá
nhân cũng không thể tách rời khỏi xã hội. Quan hệ cá nhân - xã hội luôn vận
động, biến đổi và phát triển, trong đó sự thay đổi càng rõ khi có sự thay thế
hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác.
C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hoà những quan hệ xã hội” [16, 11]. Điều đó cũng có nghĩa, trong sự tác động
qua lại giữa người với người sẽ tạo ra một hệ thống các mối giao lưu và quan
hệ xã hội. Hệ thống quan hệ xã hội đó quy định cuộc sống đối với từng cá
nhân. Trong toàn bộ quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người trong sản
xuất là quan hệ quyết định xét đến cùng. Do đó, phương thức sinh sống và
hoạt động của cá thể sẽ hình thành lối sống của họ, mà lối sống đó phụ thuộc
vào phương thức sản xuất của xã hội. Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác vạch
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31

hợp với mục đích của con người. Do vậy, việc tổ chức các hoạt động xã hội
Sinh viên thực hiện: Hoàng Nữ Lê Mai - Triết K31
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status