LUẬN VĂN:
Phát huy nguồn nhân lực nữ trong
quá trình phát triển kinh tế - xã
hội ở Hà Nội hiện nay Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế chung của thế giới hiện nay là chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn
tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế tri thức. Vì vậy, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng
giữ vị trí trung tâm đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Con
người đang được coi là động lực đồng thời là mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát
triển của các quốc gia.
Phụ nữ là người đảm nhiệm vai trò “kép”: vừa là lực lượng lao động cơ bản của xã
hội, vừa có trách nhiệm trực tiếp tái sản xuất ra con người. Quan tâm đến sự phát triển
của phụ nữ nói chung, khai thác và bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ nói riêng không chỉ là
vấn đề nhân đạo của một quốc gia, một xã hội mà còn là đòi hỏi thiết yếu, ảnh hưởng trực
cấp nhà nước KX - 07 “ Con người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự phát triển
kinh tế - xã hội” năm 1995, “ Phát triển nguồn nhân lực. Kinh nghiệm thế giới và thực
tiễn nước ta” của PTS Trần Văn Tùng và Lê ái Lâm ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996),
“Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH” của Phạm Minh Hạc (Nxb
Chính trị Quốc gia, 2001), “ Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi
mới” của Nolwen Henaff và Jean - Yves Martin…
Luận án tiến sĩ: “ Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục - đào tạo đối
với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH” của Nguyễn Thanh,
2001; Luận án phó tiến sĩ: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình CNH - HĐH ở nước
ta ” của Trần Kim Hải, 1999…
Nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực, vì thế đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học,
đặc biệt là các nhà khoa học nghiên cứu về phụ nữ. Tiêu biểu như: GS triết học Lê Thi
với Vấn đề tạo việc làm tăng thu nhập nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay, Vài suy
nghĩ về phương pháp luận tiếp cận việc nghiên cứu người phụ nữ và vai trò của giáo dục
gia đình trong sự phát triển nguồn nhân lực năm 1993, Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và Lê
Ngọc Hùng với “Phụ nữ, giới và phát triển” năm 2000…
Trước những yêu cầu cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực nữ
trong phát triển kinh tế - xã hội, từ phía các cơ quan hoạch định chính sách cũng đã có
một số hội thảo tập trung bàn về vấn đề này như: “ Vai trò giới tính và nguồn nhân lực
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” do Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội
tổ chức năm 1995, hội thảo “Đưa vấn đề giới vào phát triển - Thông qua sự bình đẳng
giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói” do Ngân hàng Tái thiết và phát triển Quốc tế/
Ngân hàng Thế giới tổ chức tại Hà Nội năm 2000.
Một số công trình nghiên cứu của tập thể và cá nhân liên quan đến nguồn nhân lực
nữ ở Hà Nội như: “ Sự chuyển biến vai trò của phụ nữ nội thành Hà Nội dưới tác động của
công nghiệp hóa trong điều kiện kinh tế thị trường” của Đặng Kim Nhung thuộc một công
trình nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan năm 1996 - 1997; Khảo sát thực trạng
- Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội
hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội từ khi Đảng ta chủ trương đổi mới đất nước, trong đó tập trung
nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực nữ và những khía cạnh chủ yếu trong việc phát
huy nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, quan
điểm về vai trò của phụ nữ và giải phóng phụ nữ.
Phương pháp thực hiện đề tài là các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong phân tích những vấn đề thực tiễn
xã hội, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc, phân tích - tổng hợp, trừu
tượng - cụ thể. Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập xử lý
thông tin và áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu bình đẳng giới.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ và việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Hà
Nội hiện nay.
- Đề xuất những giải pháp đặc thù nhằm phát huy nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội
hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn lực phụ nữ, bổ sung
thêm những cơ sở khoa học có thể tham khảo trong hoạch định chiến lược tổng thể và
chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực nữ ở Hà Nội.
Dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về nguồn nhân
lực nữ trong các trường, các cơ quan chức năng ở Thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết.
- Các nhà triết học trước Mác mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và giải thích con người
từ nhiều phương diện với nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng cuối cùng vẫn chưa nhận
thức đúng đắn vị trí, vai trò của con người trong sự phát triển của xã hội, chưa đề ra được
những phương hướng, biện pháp nhằm giải phóng hoàn toàn con người.
- Phần lớn các học thuyết triết học trước Mác, khi quan niệm về con người thường
chỉ xuất phát từ một phía: bản thể tinh thần (Chủ nghĩa duy tâm), hoặc bản thể vật chất
(chủ nghĩa duy vật). Họ không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa những yếu tố tự
nhiên, sinh học và những yếu tố xã hội của con người.
- Khi xem xét con người trong mối quan hệ với hoàn cảnh, các nhà triết học trước
Mác không thấy tính năng động, sáng tạo của con người, coi con người như một thực thể
thụ động trước tác động của hoàn cảnh.
Triết học mácxit trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những di sản lý luận trước
đó và những thành tựu của khoa học tự nhiên, xuất phát từ con người hiện thực và hoạt
động thực tiễn để xem xét bản chất con người. Trong quan niệm của triết học mácxít con
người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Con
người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và
phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Luận đề nổi tiếng về con người
được C.Mác viết trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc: Bản chất con người không phải là
một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" 26, tr.11 . Với quan niệm đó, C. Mác
chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự
nhiên mà là lịch sử. Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. ở đây, cá nhân được
hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong
phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó.
Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử
của các quan hệ đó. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã
hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người. Vạch ra
vai trò của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa
nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là
kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để
phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” 4, tr.3 Việc quản lý và sử dụng nguồn
lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là
một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan
hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ.
Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí
lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con người được coi như
là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên
thiên nhiên
ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà
nước mang mã số KX - 07 cho rằng nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng
con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái
độ và phong cách làm việc. GS. Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là tổng thể các
tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn
bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó” 16,
tr.269.
TS Nguyễn Thanh xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng,
những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự
nhiên, cải tạo xã hội” 45, tr.70
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là
lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh
thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng
đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Khái niệm nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm nguồn
lực con người". Khi được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thi chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động -
lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, sự phân bố
dân cư theo khu vực và lãnh thổ.
+ Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn lực con
người với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt
động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp
bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống
và tinh thần của nguồn nhân lực.
Như vậy, về phương diện xã hội, nói đến nguồn nhân lực là nói tới hàng loạt các
vấn đề về số lượng dân cư, sự phát triển dân số, lực lượng lao động, vấn đề phân bố và sử
dụng lao động, vấn đề tổ chức quản lý vĩ mô đối với nguồn nhân lực
Thứ hai, nói tới nguồn lực con người phải nói tới phương diện cá thể - chủ thể của
nó. Bởi vì, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá
trình phát triển kinh tế - xã hội, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Phương diện này
được hiểu như là những yếu tố tạo thành cơ sở hoạt động của cá nhân và cơ sở để phát
triển một con người với tư cách là một cá nhân. Đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và
những phẩm chất khác của nhân cách.
+ Trí lực là toàn bộ năng lực của trí tuệ, tinh thần, quyết định phần lớn khả năng
lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của
nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động tất nhiên phải
thông qua đầu óc của họ" 27, tr.409. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở thành
yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người.
+ Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con
người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những
đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng
vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của con
người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền
đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
Nói tới nguồn lực con người, không thể bỏ qua phẩm chất đạo đức, nhân cách con
gia có cùng điểm xuất phát về trình độ cách đây 40 năm. Một nước Nhật đạt được những
bước tiến vượt bậc cũng do biết đặt vấn đề con người vào trung tâm của sự phát triển
bằng các triết lý nhân sự mang tính dân tộc, biết sử dụng nguồn lực con người thông qua
các thành tựu khoa học công nghệ và đã nhanh chóng bứt lên trở thành cường quốc kinh
tế thứ hai trên thế giới.
Do vậy, không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng
định: lịch sử phát triển chân chính của xã hội là lịch sử phát triển con người, do con
người và vì con người. Tiến trình phát triển lịch sử được quyết định bởi trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong đó người lao động ngày càng trở thành yếu tố quan
trọng hàng đầu. Nhận thức sâu sắc về vai trò của con người trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Sự nghiệp phát triển
kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng
và tiến bộ xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhiều lần khẳng định mục tiêu và động
lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Vì vậy, chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội, xét về thực chất là chiến lược con người. Nâng cao dân trí,
bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định
thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH đất nước" 12, tr.21. Đại hội toàn quốc lần thứ IX
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định “ nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ” 13, tr.112. Tạo bước chuyển
mạnh về phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá để làm chuyển
động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội.
Từ vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề tất
yếu đặt ra là phải phát huy được nguồn lực con người.
“Phát huy” là làm cho cái hay, cái tốt toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Theo
đó phát huy nguồn nhân lực chính là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong sự
phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của con người.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, cần phân biệt khái niệm nguồn lực con người" với
nhân tố con người". Trước hết, nguồn lực con người" và nhân tố con người" có cùng
nghĩa như nhau khi đặt trong quan hệ với các nhân tố khác, nguồn lực khác (nguồn lực
vật chất) ở chỗ chúng đều biểu hiện những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người
phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách là mục tiêu của sự phát triển kinh
tế - xã hội Những vấn đề trên nếu thực hiện tốt sẽ phát huy được vai trò của nguồn lực
con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Quan niệm về nguồn nhân lực nữ và những nhân tố tác động đến việc
phát huy nguồn nhân lực nữ
1.1.2.1. Quan niệm về nguồn nhân lực nữ
Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế- xã
hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy.
Hiểu theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực nữ bao gồm tổng hoà các tiêu chí của bộ
phận dân số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ
phụ nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội. Nói cách khác, nguồn nhân lực nữ được hiểu không
chỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh trí tuệ,
thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem ra hoặc
có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực nữ - theo nghĩa hẹp - với tư cách là lực lượng lao động của xã hội,
bao gồm nhóm phụ nữ đến tuổi lao động trở lên có khả năng lao động. Pháp luật Việt
Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của độ tuổi lao động
nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ
thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng lao động nữ lại
thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 49% lao động xã hội).
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang tính chất
tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Còn với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trực tiếp
tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối với chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Vì thế, nguồn nhân lực nữ phải được
đề cập đến theo nghĩa rộng, có nghĩa là các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực hướng tới
khả năng lao động của các thế hệ phụ nữ.
Thứ hai, nghiên cứu về phụ nữ và nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương pháp
động đến việc phát huy nguồn nhân nữ:
Thứ nhất, nhân tố tự nhiên - sinh học có tác động rất lớn đến thể lực và trí lực của
nguồn nhân lực nữ. Do cấu tạo cơ thể của phụ nữ khác với nam giới (phụ nữ thường thấp,
bé, nhẹ cân hơn) và do đặc điểm sinh lý của phụ nữ cũng khác nam giới (phụ nữ phải
sinh con và nuôi con) nên nhìn chung sức khoẻ của phụ nữ thường yếu hơn so với nam
giới. Phụ nữ gắn liền với việc sinh con duy trì sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Việc
sinh con vì thế là hiện tượng xã hội, nhưng trước hết cũng là hiện tượng tự nhiên, sinh
học. Song, chức năng sinh học đó được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự
tác động của nhiều nhân tố như gia đình, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môi
trường cộng đồng. Không quan tâm đúng mức đến các nhân tố tự nhiên - sinh học của
phụ nữ sẽ không chỉ mất mát hiện tại về năng suất, hiệu quả lao động, tác động tiêu cực
đến việc phát triển trí lực của phụ nữ mà còn là những cái giá phải trả trong một vài thế
hệ tương lai của dân tộc xét về mặt giống nòi và phát triển bền vững đất nước. Phát huy
nguồn nhân lực nữ vì thế cần thấy được những đặc điểm riêng về mặt tự nhiên - sinh học
của phụ nữ để có những giải pháp và chính sách xã hội hợp lý.
Thứ hai là nhân tố giáo dục - đào tạo. Do vai trò quan trọng trong sự hình thành
và phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này đang được coi là phương
thức phát triển nhanh chất lượng nguồn nhân lực. Các quốc gia hiện nay đều coi đầu tư
cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người.
Đối với nguồn nhân lực nữ, sự tác động của giáo dục - đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng vì không chỉ liên quan đến 1/2 nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển
trong tương lai của lực lượng lao động. Điều này xuất phát từ mối liên hệ giữa học vấn
của phụ nữ với sự phát triển của xã hội theo tác động dây chuyền giữa trẻ em gái - người
mẹ - thế hệ tương lai. Các nghiên cứu cho thấy việc học tập của phụ nữ mang lại những
lợi ích đặc biệt quan trọng cho gia đình và xã hội. “Giáo dục cho các em gái có sức tác
động mạnh mẽ đối với mọi khía cạnh của sự phát triển - từ việc hạ tỉ lệ sinh đến việc tăng
năng suất lao động và quản lý sử dụng môi trường” 52, tr.43. Theo khảo sát của Ngân
hàng thế giới năm 2000: Số lần khám thai của phụ nữ tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, tỉ
lệ trẻ sơ sinh chết ở các bà mẹ có học vấn bậc trung học cơ sở giảm hơn 75% so với các
Vì vậy, sử dụng lao động nữ phải chú ý đến đặc điểm của phụ nữ, vừa có chức
năng lao động như nam giới, vừa có chức năng tái sản xuất dân số và nguồn lao động,
phải tính đến tiêu hao sức lực và thời gian của phụ nữ trong việc thực hiện chức năng thứ
hai một cách hợp lý để phụ nữ có điểm xuất phát ngang bằng về mặt sức lao động với
nam giới trong nền kinh tế thị trường.
Thứ tư, chính sách xã hội là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc
phát huy nhân tố con người, phát huy nguồn nhân lực. Chính sách xã hội là một công cụ
quan trọng của quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con
người xoay quanh mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Chính sách xã hội đúng
đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng của con người, tạo
điều kiện thuận lợi để con người lao động phát huy năng lực sáng tạo của mình đóng góp
cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội. Ngược lại, nếu hệ thống chính sách
không phù hợp, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy
sáng tạo của mỗi con người. Như vậy, trong đời sống xã hội, việc tạo động lực hoạt động
cho người lao động thực chất là thiết lập được môi trường pháp lý thuận lợi cũng như
những điều kiện thích hợp để con người có thể phát huy tối đa tính tích cực và khả năng
sáng tạo của mình. Do những đặc điểm về giới tính và giới nên phụ nữ thường chịu
những thiệt thòi hơn so với nam giới. Vì vậy, chính sách xã hội đối với phụ nữ phải phản
ánh được lợi ích và nguyện vọng của nữ giới. Chính sách xã hội phù hợp với phụ nữ khi
nó tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển năng lực của mình trong mọi hoạt động của đời
sống xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.
Thứ năm, nhân tố truyền thống văn hoá dân tộc có tác động rất lớn đến chất lượng
nguồn nhân lực - nhất là về mặt tinh thần. Các giá trị văn hốa truyền thống dân tộc là nhân tố
quan trọng, là môi trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn lực con người. Một
dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, những tập quán lành mạnh, có nền văn hoá phát
triển cao thì đó chính là cơ sở điều kiện tốt để xây dựng một nguồn nhân lực vừa có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao, vừa có thái độ, tinh thần, tác phong làm việc tốt. Ngược lại, nếu
một dân tộc, một quốc gia có những phong tục, tập quán lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên
của chính quốc gia, dân tộc đó. Mặt khác, những đặc trưng văn hoá - xã hội của một dân tộc
nguồn lực cho sự phát triển của chính mình. Không thể nói đến phát huy vai trò phụ nữ
chỉ căn cứ vào sự tham gia hoạt động xã hội mà coi nhẹ vai trò to lớn của họ trong gia
đình. Cũng như không thể chỉ đề cao vai trò của phụ nữ trong gia đình mà quên đi trách
nhiệm của gia đình trong việc chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ. Khi gia đình tái sản
xuất ra nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao cũng chính là điều kiện cơ bản để gia đình
thực hiện tốt chức năng của mình. Do vậy, phụ nữ được tạo các điều kiện phát triển toàn
diện ngay từ trong gia đình thì chính gia đình cũng sẽ có những biến đổi tích cực.
Tóm lại, việc phát huy nguồn nhân lực nữ chủ yếu chịu sự tác động của các nhân
tố trên. Mỗi một nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn nhân lực nữ. Tuy nhiên, do
các đặc điểm về giới tính và giới nên phụ nữ thường phải chịu những tác động tiêu cực
nhiều hơn nam giới. Vì thế khi xem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển, phát
huy nguồn nhân lực nữ cần phải phân tích đầy đủ và sử dụng tổng hợp tất cả các nhân tố
này.
1.2. Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ và yêu cầu mới đối
với nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Tầm quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện
nay
Là bộ phận cơ bản của nguồn lực con người, nguồn nhân lực nữ có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của các quốc gia. Vấn đề phát huy nguồn nhân lực nữ đã được
Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng ngay từ ngày đầu mới thành lập. Một trong những
luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh là phụ nữ được nhìn nhận như một lực lượng cơ
bản của cách mạng và nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào các cuộc
đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được. Phụ nữ còn được coi là
nguồn lực to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. "Muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội phải làm gì ? Nhất định phải tăng gia sản xuất thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì
phải có nhiều sức lao động. Muốn có nhiều sức lao động phải giải phóng sức lao động
của phụ nữ" 18, tr.33.
Xuất phát từ vai trò to lớn của phụ nữ, Hồ Chí Minh xác định một cách nhất quán
rằng giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam …Nếu
xuất về mặt thể chất và tái sản xuất về mặt tinh thần. Cho dù khoa học kỹ thuật phát triển
đang mở ra khả năng có thể tiến hành việc sinh sản ra con người một cách nhân tạo thì sự
tái sản xuất con người vẫn phải được thực hiện thông qua người phụ nữ. Xét cả trên
phương diện sinh học và phương diện xã hội, người phụ nữ vẫn giữ vai trò không thể
thay thế được. Bởi tái sản xuất ra con người không đơn thuần chỉ là tạo ra một con người
sinh học mà điều quan trọng và chủ yếu hơn là sự giáo dục, nuôi dưỡng để hình thành và
phát triển một con người xã hội, trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Đối với
mỗi con người điều đó lại được bắt đầu chủ yếu và trước hết bởi người mẹ, không một
công nghệ, kỹ thuật thuần tuý nào có thể thay thế được.
Sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay không chỉ chú ý đến vấn đề số lượng dân số
- như một lực lượng lao động chủ yếu, mà điều quan trọng hơn là nâng cao chất lượng
dân số như là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Con người là nhân tố hàng đầu, quyết
định sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ngay cả khi khoa học công nghệ, kỹ thuật phát
triển như hiện nay, nhân tố con người lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã đặt con người vào quá trình lao động
hết sức phức tạp, đòi hỏi một năng lực sáng tạo, một trình độ kỹ thuật cao và ý thức trách
nhiệm rất lớn. Có như vậy, lực lượng vật chất to lớn, đồ sộ của xã hội mới được sử dụng
một cách tốt nhất, hiệu quả nhất và đồng thời chính con người lại đạt đến một bước phát
triển mới, tăng thêm sức mạnh chinh phục thiên nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Điều đó càng cho thấy, chức năng tái sản sinh ra con người ở người phụ nữ là nhu
cầu tự nhiên tất yếu đối với gia đình và xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính người, tính
xã hội. Đây là chức năng đặc biệt dành cho phụ nữ, trải qua các thời đại, chức năng này
ngày càng có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. "Chất
lượng của tái sản xuất xã hội được thực hiện thông qua người phụ nữ là yếu tố chủ yếu
của phát triển nguồn nhân lực và hơn nữa là nguồn đầu tư đặc biệt dài hạn" 55, tr.26
Thứ hai, phụ nữ là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trình phát triển
kinh tế- xã hội. Phát huy nguồn nhân lực nữ sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế và
tăng cường tiến bộ xã hội.
phụ nữ chỉ có trách nhiệm và hy sinh. “Người ta sinh ra không phải là phụ nữ (với ý
nghĩa có sự phân biệt nam nữ về mặt xã hội) mà trở thành phụ nữ, do kết quả của những
định kiến, những phân biệt đối xử trong lao động và hưởng thụ, trong học hành và nghỉ
ngơi” 43, tr.53.
Ngay cả khi vai trò hết sức to lớn, quan trọng, cần thiết của phụ nữ trong quá trình
phát triển được thừa nhận thì địa vị chủ thể của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
cũng chưa được nhận thức một cách toàn diện. Điều đó thể hiện ở chỗ phụ nữ được coi là
động lực và là lực lượng cần thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhưng các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khi được xác định lại thường ít tính đến nhu cầu của
phụ nữ. Các vấn đề của phụ nữ mới được nhắc tới, tính đến hay lồng ghép vào các
chương trình, dự án phát triển. Trên thực tế quan điểm này chưa đặt vấn đề phụ nữ là chủ
thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Điều này không chỉ hạn chế khả năng phát
huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệu quả xã hội của các quá
trình kinh tế. Việc phát triển kinh tế - xã hội một cách lâu bền vì thế khó có thể thực hiện
một cách triệt để.
Được coi là hợp lý trong việc đánh giá vai trò của phụ nữ hiện nay là quan điểm
khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ thể của phụ nữ trong quá trình hoạch
định, thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Công cuộc đổi mới
kinh tế - xã hội hiện nay đang cho thấy rõ ràng là chỉ có thể nói tới phát triển với nghĩa
sâu rộng nhất của từ này nếu phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của mình và có điều
kiện phát triển một cách toàn diện và bình đẳng với nam giới [2, tr.93].
Nghiên cứu về vai trò chủ thể sáng tạo của phụ nữ không thể dừng lại ở việc nhấn
mạnh ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn của việc phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế -
xã hội. ở một đất nước như Việt Nam khi mà hơn 70% phụ nữ trong độ tuổi lao động
tham gia hoạt động kinh tế và lao động nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động xã hội thì
nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ lại càng không thể giới hạn ở việc nhấn mạnh vai trò
quan trọng của lao động nữ, vấn đề đặt ra là cần phân tích và phát hiện những cơ chế góp
phần cải thiện công bằng xã hội nâng cao bình đẳng nam - nữ trong chính hoạt động kinh