LUẬN VĂN: Phát huy nhân tố con người trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát huy nhân tố con người trong quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn nước ta hiện nay


Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề nhân tố con người trong sự phát triển
kinh tế - xã hội. Con người là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và
văn hóa của các quốc gia. Nó đòi hỏi phải phân tích một cách khoa học về giá trị lớn lao
và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người. Đã có không ít tài liệu trong nhiều và
ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này.
ở Liên Xô (cũ) các nhà nghiên cứu lý luận dưới các góc độ khác nhau đã tiếp
cận một cách khoa học vấn đề: Vai trò của nhân tố con người trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội.
ở nước ta, nhất là từ giữa những năm 80 khi bắt tay vào sự nghiệp đổi mới,
chúng ta càng nhận ra vai trò đặc biệt của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, đã có nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu.
Với những công trình tiêu biểu như: Đề tài KX-07-13 "Về một số động lực phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay" do GS. Lê Hữu Tầng chủ nhiệm; "Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn" PGS. TS Bùi Đình Thanh chủ nhiệm
Trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
tập trung ở vấn đề phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chính sách
xã hội ở nông thôn, vai trò của nông nghiệp, nông thôn; xóa đói giảm nghèo, giải quyết

việc làm Đáng chú ý là các công trình "40 năm kinh nghiệm Đài Loan (Nxb Đà Nẵng,
1994); Công ty ADUKI "Vấn đề nghèo ở Việt Nam" (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội,
1996); GS Nguyễn Điền "CNH nông nghiệp, nông thôn các nước châu á và Việt Nam"
(Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997); PGS. PTS Nguyễn Đức Bách "Những lợi ích
kinh tế - xã hội tác động đến lòng tin của nông dân và con đường XHCN" (Tạp chí
nghiên cứu lý luận số 2-1992). Điển hình hơn là chương trình khoa học cấp Nhà nước
KX-08 "Phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, gồm 12 đề tài nhánh đã tập trung nghiên
cứu một cách toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn và xây dựng nông thôn Việt Nam
theo định hướng XHCN.
Đối với khu vực Bắc Trung Bộ đã có một số công trình nghiên cứu: PGS. TS
Lê Đình Thắng, PTS Nguyễn Thanh Hiền "Xóa đói giảm nghèo ở khu IV cũ" (Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội, 1995); chương trình khoa học: "Con người Nghệ An trước yêu

đường lối của Đảng về nhân tố con người, về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn tình hình nông nghiệp,
nông thôn Nghệ An, có kế thừa một số kết quả thu được của các công trình khoa học
khác có liên quan, nhất là thực tế điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và nguồn lực con
người Nghệ An.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp, kết hợp
lôgic với lịch sử, trao đổi, phỏng vấn, thu thập và phân tích số liệu thống kê theo
phương pháp hệ thống.
5. Cái mới về khoa học của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Đảng ta về nhân tố con người và vai trò nhân tố con người.
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả nhân
tố con người trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng để làm tư
liệu tham khảo trong việc giảng dạy nghiên cứu triết học. Góp phần phát huy nhân tố
con người đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghệ An hiện nay.
7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 2 chương với 4 tiết và
danh mục các tài liệu tham khảo.

Chương 1
Nhân tố con người và vai trò của nhân tố
con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.1. quan điểm mác xít về nhân tố con người
1.1.1. Khái niệm về con người
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như:

Tóm lại, những sai lầm thiếu sót chủ yếu trong nhận thức triết học về bản chất
con người của các hệ thống triết học trước Mác là do xuất phát từ lập trường duy tâm
hoặc từ phương pháp siêu hình trong cách xem xét vấn đề con người.
Đến chủ nghĩa Mác, với chủ nghĩa duy vật triệt để và phương pháp biện chứng
khoa học, vấn đề con người đã được giải đáp một cách toàn diện khoa học.
Con người được chủ nghĩa Mác xem xét trong sự thống nhất biện chứng giữa
cái sinh vật và cái xã hội.

Tiền đề xuất phát của chủ nghĩa Mác không phải là con người trừu tượng, con
người sinh học thuần túy, con người "xã hội" trống rỗng, không có cá nhân; mà hoàn
toàn ngược lại. "Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ, và những điều
kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều
kiện do hoạt động của họ sáng tạo ra" [23, tr. 267]. Đó là những con người sống trong
một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có những quan hệ xã hội nhất
định. Những con người sống và hoạt động, mà hoạt động bản chất nhất, có tính người
nhất là sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt của mình, mặc dầu ăn, uống, sinh con đẻ cái
cũng là hoạt động có tính người.
Triết học Mác không hề phủ nhận cũng không tuyệt đối hóa mặt tự nhiên sinh
học khi xem xét con người với tư cách là những cá nhân đang sống và hoạt động. Trước
hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp, sản phẩm của quá trình tiến hóa
tự nhiên. Mác viết: "Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là tự nhiên là
thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải duy trì một quá trình thường
xuyên để tồn tại" [23, tr. 135]. Con người, do đó không nằm ngoài sự chi phối của quy
luật tự nhiên bởi lẽ, "bản thân chúng ta là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong
lòng giới tự nhiên" [22, tr. 657].
Thừa nhận yếu tố sinh vật của con người nghĩa là thừa nhận những quy luật
sinh học chung của con người, những đặc điểm về cấu trúc và chức năng cơ thể, đời
sống sinh lý, đặc tính di truyền Tuy nhiên, Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng:
cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh học, là bản năng thuần túy của
con người.

xã hội mới. Hoàn cảnh tạo ra con người, nhưng trong chừng mực mà con người tạo ra
hoàn cảnh. Để cải tạo hoàn cảnh, trước hết con người phải ý thức rõ hơn hoàn cảnh cần
được cải tạo. Con người là chủ thể, hoàn cảnh là khách thể được cải tạo. Hồ Chí Minh
viết: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa" [18, tr.
159]. ở đây là con người giác ngộ XHCN có ý thức về sự cần thiết phải cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới.
Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng
sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng nòng cốt của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là người
sáng tạo. Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã
hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý"
[17, tr. 250].
Vấn đề quan trọng trong tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh là tin tưởng và tôn
trọng mãnh liệt vào sức mạnh và phẩm giá con người, đặc biệt là quần chúng nhân dân
lao động: "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Hồ Chí Minh rất coi trọng tính tự giác, chủ động, tích cực, năng động, sáng tạo
của con người trong hoạt động (cả trong hoạt động thực tiễn và nhận thức).
Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con
người. Bởi vì, nếu các nhu cầu và quyền lợi chính đáng của con người không được quan
tâm đúng mực thì tính tự giác, tích cực của họ bị giảm sút, xã hội mất đi nguồn động lực
của sự phát triển.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của
nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Có như vậy thì nhân dân mới tin, mới
dám nói sự thật, đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng, mới có sự sáng tạo, từ đó tạo ra
động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh viết: "Nước ta là nước dân chủ. Bao
nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây
dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [16, tr. 368]
Nhận thức trên đây là một căn cứ xuất phát rất quan trọng định hướng cho quá

của mình về nhân tố con người: "Nó như là tổng hòa những khả năng, thuộc tính, tri
thức, kinh nghiệm, năng lực và thói quen đang phát triển của con người mà chúng biểu
lộ trong hoạt động của con người và qua đó ảnh hưởng đến các quá trình xã hội" [5].
ở Việt Nam, vấn đề nhân tố con người đã được nhiều người quan tâm nghiên
cứu. Một số công trình nghiên cứu xem xét nhân tố con người trong một chỉnh thể thống
nhất toàn vẹn bao quát những đặc trưng bản chất nói lên con người vừa là chủ thể hoạt
động, chủ thể mang những đặc trưng về phẩm chất, năng lực, đồng thời là chủ thể tiếp
thu sáng tạo giá trị xã hội. Quan niệm khác xem:
Nhân tố con người là hệ thống các yếu tố, các đặc trưng quy định
vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người bao gồm một
chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa các đặc trưng về
phẩm chất, năng lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát
triển xã hội nhất định [27, tr. 120].

Kế thừa những quan điểm của các tác giả trên, có thể đưa ra một quan niệm như
sau:
Nhân tố con người là sự thống nhất hữu cơ các mối liên hệ, quan hệ giữa các
mặt hoạt động với các đặc trưng về năng lực, phẩm chất xã hội của con người trong
quá trình sáng tạo ra toàn bộ đời sống hiện thực.
ở đây, khái niệm "nhân tố con người" phản ánh những đặc trưng bản chất nhất
của con người hiện thực - với tính cách là một thực thể xã hội:
- Hoạt động thực tiễn là đặc trưng bản chất nhất của con người hiện thực với tư
cách là chủ thể sáng tạo. Đương nhiên, hoạt động đó của con người là do nhu cầu của con
người quyết định (chứ không phải do ý thức, tư duy), những nhu cầu đó "được phản ánh
vào trong đầu óc con người làm cho người ta ý thức rõ hơn về nhu cầu đó". Do đó, quá
trình hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có phương pháp. Qua đó, nhân tố
con người giữ vai trò là tác nhân trực tiếp tạo ra sự biến đổi, phát triển của lịch sử. Hoạt
động thực tiễn vừa là cơ sở vừa là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức, thúc đẩy sự
hình hành phát triển các đặc trưng về năng lực, phẩm chất của con người, đồng thời là
quá trình hiện thực hóa các năng lực, phẩm chất của con người. Cùng với sự tiến triển

chất xã hội: ý thức đạo đức, chính trị, niềm tin, lý tưởng là yếu tố quan trọng nhất
trong nguồn lực con người. Mặt chất lượng của nguồn lực con người là yếu tố quyết
định đối với sự phát triển kinh tế, xã hội.

Nói tới phát huy nguồn lực con người là nói tới 3 phương diện: phát triển nguồn
lực, sử dụng nguồn lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn lực [35, tr. 287].
Như vậy, khái niệm nguồn lực hay "nguồn nhân lực" là dùng để nói lên khả
năng và phẩm chất của lực lượng lao động xã hội. Nội dung của nó bao gồm cả mặt số
lượng và chất lượng của lao động xã hội. Còn khái niệm nhân tố con người là phản ánh
bản chất xã hội của con người, của nguồn lực con người, là hạt nhất cốt lõi đặc trưng
cho mặt chất lượng của nguồn lực con người, nhấn mạnh vai trò chủ thể tích cực, năng
động, sáng tạo của con người.
Khái niệm "nhân tố con người" và "nguồn lực con người" có cùng một nghĩa
như nhau khi đặt trong mối quan hệ với các nhân tố khác (vật chất) đều biểu hiện ở
những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người: là nhân tố hoạt động sống, khả năng
tái sản sinh và tự nhân mình lên gấp bội tiềm năng vô tận của trí tuệ và tinh thần con
người. "Do đó, phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con
người, khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra
động lực phát triển của một quá trình xã hội" [15, tr. 127].
1.1.2. Những điều kiện khách quan ảnh hưởng đến việc phát huy nhân tố
con người ở Việt Nam
- Môi trường tự nhiên (môi trường địa lý)
Việt Nam với vị trí địa lý và đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên sinh thái là
một thiên nhiên nhiệt đới gió mùa phong phú, đa dạng, chứa đựng nhiều tiềm năng to
lớn, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với con người.
Tuy ba miền Bắc - Trung - Nam mà mỗi miền có những nét khác biệt nhau về
địa hình, khí hậu, môi trường sinh thái, tài nguyên, nhưng tính nhiệt đới gió mùa và bán

đảo vẫn là đặc trưng chung của thiên nhiên Việt Nam. Những điều kiện tự nhiên đó kết
hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà có ảnh hưởng nhất định đến vai trò hoạt động của

lạc hậu, tư liệu sản xuất thích ứng với sử dụng cá nhân, phân công lao động có tính chất
tự nhiên, truyền thống, thời vụ, giới tính, lao động cá thể chiếm ưu thế, năng suất lao
động thấp, sản xuất cò con, manh mún, nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp
Lối tư duy kinh nghiệm là chủ yếu, kém phát triển về tư duy lý luận là kết quả
của nền sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán. Trình độ kỹ thuật thủ công lạc hậu, hoạt
động cơ bắp là chủ yếu, các thao tác đơn giản dựa vào thói quen kinh nghiệm trong sản
xuất. Người nào tích lũy được nhiều kinh nghiệm coi như là "cẩm nang" của mình. Sức
lao động cơ bắp đóng vai trò quyết định. Hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm rất thấp.
Hoạt động sản xuất phụ thuộc rất lớn vào "ân huệ" của giới tự nhiên ban tặng như độ
màu mỡ của đất đai, chim muông, thú rừng
Do đó, khả năng chinh phục giới tự nhiên rất kém, điều đó cũng có nghĩa là khả
năng phát triển trí tuệ rất thấp - tư duy khoa học không phát triển lên được, dành chỗ
cho tư duy huyền thoại vốn đã xuất hiện từ sớm cùng với lịch sử loài người.
Nền sản xuất tiểu nông, năng suất lao động thấp, người ta phải lo vun vén cho
lợi ích nhỏ nhen của mình. Tính ích kỷ nhỏ nhen, trục lợi lại trỗi dậy có khi lấn át cả
tính cộng đồng. Người ta thường chỉ thấy lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ mà không
thấy được lợi ích toàn bộ, lâu dài. Phương pháp suy nghĩ nặng về tình cảm, nhẹ về lý trí,
dễ mắc bệnh chủ quan ảo tưởng, làm kìm hãm sự phát triển trí tuệ, hạn chế tính tích cực,
năng động, sáng tạo của con người.

Nền kinh tế khép kín, tự túc, tự cấp, lại bị hàng ngàn năm Bắc thuộc, do vậy
không có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật của nền đại công nghiệp. Đây cũng là
một nguyên nhân cản trở phát triển tư duy trí tuệ, tư duy kinh tế.
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, với nền sản xuất nhỏ,
manh mún, đời sống bấp bênh đã rèn luyện cho con người tính cần cù, chịu khó, ý chí
vượt qua khó khăn, khả năng phản ứng mau lẹ, linh hoạt, thông minh sáng tạo.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay đòi hỏi một mặt, kiên quyết đấu
tranh khắc phục những tàn dư, tư tưởng tiêu cực, lạc hậu, mặt khác, phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với nâng cao, phát triển tư duy lý luận, tư duy kinh tế.
- Điều kiện văn hóa - lịch sử

Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt Nam,
là tư tưởng và tình cảm thiêng liêng giữ vị trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng
đầu bậc thang giá trị dân tộc. Tinh thần đó đã được phát huy sức mạnh vô biên của nó
trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và là mẫu số chung, là một động lực tinh
thần nội sinh của cộng đồng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc ta cần được nâng cao lên ngang tầm thời đại,
đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước tiến lên văn minh hiện đại, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chuyển từ động lực tinh thần

trong chống ngoại xâm sang động lực tinh thần trong xây dựng đất nước, khắc phục
nghèo nàn lạc hậu, coi nghèo nàn lạc hậu, coi thua kém các nước trong khu vực và thế
giới là nỗi nhục như nỗi nhục mất nước, nỗi nhục nô lệ.
Cũng cần phải nhấn mạnh thêm rằng, trong lịch sử đã phải chứng kiến không ít
trường hợp phát triển chệch hướng của tinh thần dân tộc hoặc theo khuynh hướng Sô-
vanh nước lớn, chủ nghĩa đại dân tộc, hoặc theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc hẹp
hòi, chủ nghĩa quốc gia vị kỷ. Trên thế giới hiện nay, cả hai khuynh hướng đó là nguyên
nhân sâu xa của nhiều xung đột sắc tộc, quốc gia, khu vực. Nhưng trong lịch sử cũng đã
thể nghiệm sức mạnh lớn lao của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của
nhiều dân tộc trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc mình.
Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính của Việt Nam trong thời đại
ngày nay là:
- Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH.
- Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí
Minh.
- Tiếp nhận những tư tưởng tiên tiến của thời đại văn minh công nghiệp và hậu
công nghiệp.
Chủ nghĩa yêu nước giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc đổi
mới, CNH, HĐH đất nước hiện nay. Chủ nghĩa yêu nước là mẫu số chung của mọi
người Việt Nam thuộc các dân tộc người (ta có 54 tộc người quen gọi là 54 dân tộc), các
tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhau cũng như mọi thành viên trong cộng đồng Việt

chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ
công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo năng suất lao động xã hội cao" [11,
tr. 4].
- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trước hết nhằm khai thác có
hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, đảm bảo vững chắc yêu cầu an
toàn lương thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao,
giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu công nghệ chế biến; tăng giá trị hàng xuất
khẩu; tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động; phân công lại lao động xã
hội, hình thành các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hóa tại chỗ, mở rộng thị trường
sản phẩm và dịch vụ công nghiệp
- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ đơn giản là phát
triển công nghiệp nông thôn và HĐH một số công đoạn sản xuất nông nghiệp như cơ
giới hóa, điện khí hóa mà nó còn bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ đời sống vật chất và văn hóa tinh thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản
xuất công nghiệp hiện đại và phương thức tổ chức tiên tiến. Đó là quá trình phát triển
toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp; hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu
hợp lý về cây trồng vật nuôi, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học
hóa; phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản với công nghệ ngày càng cao
gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp đô thị; phát triển các ngành nghề
truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi
nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân; xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới, văn minh
hiện đại.

- Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước gắn liền với thị trường trong và ngoài nước. Nền kinh tế sản
xuất hàng hóa nhiều thành phần chính là xây dựng một hệ thống QHSX phù hợp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status