1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong số các nguồn lực cần thiết để thực hiện CNH, HĐH thì nguồn lực
con ng-ời giữ vai trò quyết định. Tuy nhiên, mức độ quyết định của nguồn lực
con ng-ời còn phụ thuộc vào số l-ợng, cơ cấu và nhất là chất l-ợng nguồn lực
con ng-ời cũng nh- tính hợp lý và hiệu quả của việc khai thác, sử dụng và phát
triển nguồn lực con ng-ời trong thực tiễn, nghĩa là phụ thuộc vào việc phát huy
vai trò của nguồn lực con ng-ời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vì
thế, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: "Lấy việc phát huy
nguồn lực con ng-ời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững",
"Nâng cao dân trí, bồi d-ỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ng-ời Việt
Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH".
Quán triệt và vận dụng quan điểm cơ bản trên của Đảng, trong những
năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức
chính trị - xã hội Hà Tĩnh đã tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò và sự cần thiết phải phát huy nguồn
lực con ng-ời trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tĩnh. Tỉnh cũng đã quan tâm
đầu t- trên cả hai ph-ơng diện chủ tr-ơng và tiềm lực cho các lĩnh vực liên
quan nhiều đến phát triển con ng-ời nh-: kinh tế, GD - ĐT, văn hoá, y tế .
Mặc dù vậy, kết quả đạt đ-ợc còn rất hạn chế; nguồn lực con ng-ời Hà Tĩnh
đang còn nhiều bất cập tr-ớc yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn bức xúc xung quanh việc phát huy
nguồn lực con ng-ời trong quá trình thực hiện CNH, HĐH đang đặt ra đối với
Hà Tĩnh cần đ-ợc giải đáp. Đó là, thực trạng nguồn lực con ng-ời của Hà Tĩnh
hiện nay ra sao? Hà Tĩnh đã phát huy nguồn lực con ng-ời nh- thế nào? Và,
cần phải làm gì để phát huy tốt nguồn lực con ng-ời Hà Tĩnh trong bối cảnh
Hà Tĩnh b-ớc vào CNH, HĐH vẫn còn là một tỉnh nghèo, các nguồn lực vật
chất đều hạn chế, chỉ có nguồn lực con ng-ời là nguồn lực có tiềm năng hơn
3
triển đất n-ớc đang đòi hỏi chúng ta có một t- duy mới một cách làm mới và
tr-ớc hết cần chuẩn bị tốt một nguồn nhân lực mới. Nguồn nhân lực đó vừa
phải đáp ứng các nhu cầu của công cuộc chuyển đất n-ớc sang n-ớc công
nghiệp hiện đại, lại vừa phải từng b-ớc đi dần vào kinh tế tri thức".("Để có
nguồn nhân lực cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đất n-ớc trong thế kỷ
XXI", Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Hà Nội, 2003. TS. Phạm Văn Đức thì cho rằng
khi nghiên cứu nguồn nhân lực để tìm ra những giải pháp khai thác và sử dụng
nó một cách có hiệu quả, cần tiến hành nghiên cứu nguồn nhân lực đó trong
một chỉnh thể trên các lĩnh vực kinh tế - kỹ thật lẫn khía cạnh văn hoá - xã hội
("Nghiên cứu nguồn nhân lực ở Việt Nam: khía cạnh kinh tế và văn hoá", Kỷ
yếu hội thảo quốc tế vừa dẫn ở trên), v.v
Đã có một số luận án tiến sỹ và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về nguồn
lực con ng-ời ở những khía cạnh khác nhau. Chẳng hạn nh- " Phát huy nguồn
lực thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay"- Luận án
tiến sỹ triết học (chuyên ngành CNXH khoa học), Hà Nội, 1999, của Nguyễn
Thị Tú Oanh. Công trình nghiên cứu này đã phân tích vai trò và nhiệm vụ của
thanh niên đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở n-ớc ta; lý giải khả năng, triển
vọng, ph-ơng h-ớng và những giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn lực thanh
niên đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất n-ớc. Hay là luận án tiến sỹ triết học của
Đoàn Văn Khái - " Nguồn lực con ng-ời trong quá trình CNH, HĐH đất
n-ớc", Hà Nội, 2000. Trong luận án này tác giả đã luận chứng một cách có hệ
thống vai trò của nguồn lực con ng-ời với t- cách nguồn lực nội tại, cơ bản,
quyết định sự nghiệp CNH, HĐH; đồng thời, làm rõ một số h-ớng cơ bản
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và phát huy nguồn lực
con ng-ời ở n-ớc ta Bên cạnh đó, cũng có những luận văn thạc sỹ đã đề cập
đến sự phát triển nguồn lực con ng-ời ở n-ớc ta nói chung cũng nh- ở một địa
ph-ơng nào đó. Ví nh-, "Xu h-ớng và giải pháp phát triển nguồn lực con ng-ời
ở n-ớc ta trong thời kỳ CNH, HĐH"- Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn
5. Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và ph-ơng pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của
5
Đảng ta về con ng-ời và nguồn lực con ng-ời trong sự phát triển kinh tế - xã
hội cũng nh- trong CNH, HĐH. Luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu
của một số nhà khoa học về những vấn đề có liên quan đến luận văn.
- Ph-ơng pháp nghiên cứu: Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử
dụng các ph-ơng pháp: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và
lịch sử, khảo sát và điều tra với tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần chỉ ra những nét đặc thù cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở
Hà Tĩnh.
- Góp phần làm rõ thực trạng nguồn lực con ng-ời cũng nh- việc phát
huy nguồn lực con ng-ời ở Hà Tĩnh hiện nay và nguyên nhân của tình hình .
- Luận văn đóng góp một số giải pháp nhằm góp phần phát huy vai trò
của nguồn lực con ng-ời trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Tĩnh.
- Luận văn góp phần đ-a quan điểm, đ-ờng lối, nghị quyết của Đảng
vào thực tiễn CNH, HĐH ở một tỉnh nghèo miền trung.
- Luận văn góp phần cung cấp t- liệu cho tỉnh Hà Tĩnh tham khảo trong
việc hoạch định chính sách phát huy nguồn lực con ng-ời của tỉnh trong quá
trình CNH, HĐH.
- Đồng thời luận văn có thể đ-ợc dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy và học tập, cũng nh- cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn đ-ợc kết cấu thành 3 ch-ơng.
Ch-ơng 1: Nguồn lực con ng-ời với công cuộc CNH, HĐH ở Hà Tĩnh.
Ch-ơng 2: Thực trạng nguồn lực con ng-ời và việc phát huy nguồn lực
, dân số 1.270.409 ng-ời, mật độ 210 ng-ời/km
2
[11, tr.7] . Hà Tĩnh
có 2 thị xã: thị xã Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh; có 9 huyện trong đó có 4 huyện
miền núi với 260 xã, ph-ờng, thị trấn.
- Địa hình: Hà Tĩnh nằm ở phía đông dãy Tr-ờng Sơn trên một dải đất
hẹp, với chiều dài 122 km, chiều rộng 60 km với đầy đủ các dạng địa hình
rừng núi, gò đồi, đồng bằng, trung du và biển , trong đó đồi núi chiếm 80%
diện tích đất tự nhiên. Địa hình thấp dần từ tây sang đông, phần phía đông của
tỉnh bị cắt mạnh, phần phía tây chủ yếu là núi đồi, xen lẫn giữa địa hình đồi
núi cao là các thung lũng nhỏ hẹp thuộc hệ thống l-u vực sông Ngàn Sâu,
Ngàn Phố, Rào Nổ
- Khí hậu: Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, có đặc điểm
chung là nhiệt đới, gió mùa và ẩm, song do vị trí đặc biệt của tỉnh làm cho khí
hậu phân hoá mạnh và trở nên khắc nghiệt. Trong một năm đ-ợc phân thành
hai mùa chính và ứng với hai chế độ gió mùa. Đó là gió mùa Đông Bắc thổi từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 8.
Mùa này khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ có lúc lên tới 39-40
0
C. Nhìn chung khí
hậu Hà Tĩnh t-ơng đối khắc nghiệt, nắng lắm, m-a nhiều, lũ lụt, hạn hán
7
th-ờng xảy ra ảnh h-ởng rất lớn đến đời sống nhân dân và đặc biệt là đối với
sản xuất nông nghiệp.
- Tài nguyên thiên nhiên ở Hà Tĩnh rất phong phú:
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá nhất cho phát triển kinh tế - xã hội.
Toàn tỉnh hiện có 605.574 ha đất tự nhiên, trong đó đất dùng vào nông nghiệp
là 97.429 ha; đất dùng vào lâm nghiệp 249.898 ha; đất chuyên dùng 48.507 ha;
đất thổ c- 6.822 ha; đất ch-a sử dụng 202.918 ha [14, tr.10].
cao, mỏ cát lớn ở Thạch Vĩnh; ngoài ra còn có n-ớc khoáng tự nhiên ở Sơn
Kim và một số khoáng sản khác ch-a đ-ợc khảo sát địa chất kỹ nh- man gan,
đá quý, than bùn
* Tình hình kinh tế - xã hội.
- Về kinh tế: Tăng tr-ởng kinh tế ở Hà Tĩnh bình quân trong những năm
qua t-ơng đối cao. Năm 1999 tốc độ tăng GDP là 6,2%; năm 2000 là 7,03%;
năm 2001 là 7,48%; năm 2002 là 8,2%. Nh- vậy, trong quá trình đổi mới mặc
dù đạt đ-ợc tốc độ tăng tr-ởng bình quân khá cao nh-ng GDP bình quân đầu
ng-ời mới chỉ đạt 3.6 triệu đồng/ng-ời/năm.(năm 2003)
Đã có sự chuyển dịch cơ cấu trong GDP theo h-ớng giảm tỷ trọng các
ngành nông, lâm, ng- nghiệp, tăng giá trị các ngành công nghiệp và xây dựng:
năm 2002 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 49,36 %; công nghiệp và
xây dựng là 14,51%; các ngành khác 36,13%. [12, tr. 56]
Sản l-ợng l-ơng thực năm 1998 đạt 32,1 vạn tấn, năm 2000 đạt 40,2 vạn
tấn và năm 2002 đạt 46,1 vạn tấn [48, tr. 4].
- Về xã hội: Trong những năm đổi mới, đời sống nhân dân tiếp tục đ-ợc
cải thiện một b-ớc, nạn đói giáp hạn không còn gay gắt nh- tr-ớc đây, tuy
nhiên vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển đời sống vẫn còn gặp
nhiều khó khăn. Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 50 - 60% năm 1991 xuống còn
khoảng 16,2% năm 2002, theo báo cáo của Sở LĐ - TB & XH Hà Tĩnh tại Hội
nghị xoá nhà tranh tre dột nát toàn quốc đến tháng 6 năm 2003 toàn tỉnh còn
53.153 hộ nghèo. Đến nay, Hà Tĩnh đã cơ bản xoá xong nhà tranh tre dột nát,
và đang tiến tới thực hiện "ngói hoá nhà ở".
Đời sống của đại bộ phận ng-ời có công với cách mạng đ-ợc cải thiện
rõ rệt, công tác miền núi ngày càng đ-ợc quan tâm, tỉnh đã đầu t- xây dựng cơ
9
sở hạ tầng và phát triển sản xuất, đã từng b-ớc chuyển đổi cơ cấu sản xuất,
h-ớng vào khai thác thế mạnh của từng vùng. Thực hiện có kết quả ch-ơng
trình phủ xanh đất trống đồi trọc, kết hợp với việc định canh, định c- đồng bào
D-ơng Văn Tào (Cẩm Xuyên), Ngô Văn Sở (Can Lộc), Hồ Phi Chấn
(Thạch Hà) đã giúp Vua lập công xuất sắc. Đặc biệt là La Sơn Phu Tử
Nguyễn Thiếp đ-ợc Quang Trung ng-ỡng mộ mời ra giữ chức quân s
Thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm l-ợc n-ớc ta, núi rừng Vũ Quang lại trở
thành đại bản doanh của cụ Phan Đình Phùng thực hiện cuộc kháng chiến 10
năm kiên c-ờng, bền bỉ. V-ợt đèo lội suối, các anh hùng hào kiệt bốn
ph-ơng đã về tụ hội chốn rừng núi này. Cao Thắng cùng thợ rèn Trung L-ơng
(Đức Thọ) đã lập một công binh x-ởng rèn các vũ khí trong rừng sâu chống
quân xâm l-ợc.
Từ đầu thế kỷ XX trở đi phong trào yêu n-ớc của nhân dân Hà Tĩnh đã đi
vào tự giác. D-ới sự lãnh đạo của Đảng, cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh - cuộc
diễn tập đầu tiên của cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra. Nhiều ng-ời
con Hà Tĩnh là những chiến sỹ cách mạng trung kiên của Đảng nh- Trần Phú,
Hà Huy Tập, Lý Tự Trọng và biết bao chiến sỹ vô danh khác.
Trong chín năm tr-ờng kỳ kháng chiến chống Pháp, giặc Pháp rất muốn
chiếm Hà Tĩnh để dễ thu phục miền Bắc và miền Nam. Nh-ng ng-ời Hà Tĩnh
với chí khí anh hùng đã làm cho Hà Tĩnh trở thành an toàn khu, cung cấp vũ
khí, sức ng-ời, sức của cho mặt trận.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, đế quốc Mỹ đã trút xuống
hàng vạn tấn bom hòng cắt Hà Tĩnh để ngăn chặn con đ-ờng giao thông huyết
mạch Bắc - Nam. Nh-ng với truyền thống yêu n-ớc, cách mạng, nhân dân Hà
Tĩnh đã không sờn lòng, nản chí; biết bao nhiêu ng-ời con Hà Tĩnh đã trở
thành anh hùng bất tử. 100% huyện, thị trong tỉnh đã vinh dự đ-ợc Chủ tịch
n-ớc phong tặng danh hiệu "đơn vị anh hùng lực l-ợng vũ trang nhân dân".
Trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, từng tấc đất ngọn cỏ đã nhuộm máu
bao ng-ời con ruột thịt của nhân dân Hà Tĩnh, nơi đây đã mất đi 26.427 ng-ời
(liệt sỹ), có 30.067 th-ơng binh, 6.099 bệnh binh, 130.363 ng-ời hoạt động
11
kháng chiến đ-ợc trợ cấp một lần, 532 bà mẹ Việt Nam anh hùng đã phải nén
Tính cách con ng-ời Hà Tĩnh còn thể hiện ở đức tính cần cù, chịu th-ơng
chịu khó. Trong điều kiện đất đai thiếu màu mỡ, khí hậu khắc nghiệt, m-a
lắm, nắng nhiều, hay bị bão lụt, con ng-ời phải cần cù lao động mới có bát
cơm manh áo, nên họ rất hiểu giá trị lao động và th-ờng dạy con phải biết tiết
kiệm không đ-ợc lãng phí, "phải biết tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn".
Cần và kiệm đã trở thành một tập quán, một thói quen, một truyền thống, một
tính cách của ng-ời Hà Tĩnh.
Trong khó khăn gian khổ ng-ời Hà Tĩnh vẫn lạc quan, yêu đời, thuỷ
chung, họ đã tạo nên những nét văn hoá giàu tính cách con ng-ời Hà Tĩnh: tục
ngữ, thành ngữ, ca dao, hát ví, hát dặm, đò đ-a, ca trù .
Tóm lại, con ng-ời Hà Tĩnh hiếu học, trọng chữ nghĩa, cần cù, tiết kiệm,
chịu th-ơng, chịu khó, lạc quan, có bản lĩnh và ý chí Đó là tính cách của
con ng-ời Hà Tĩnh x-a và nay, là thế mạnh của nguồn lực con ng-ời Hà Tĩnh
cần đ-ợc phát huy trong thời kỳ CNH, HĐH.
Từ những nét chính về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xã
hội và về con ng-ời ở Hà Tĩnh đ-ợc trình bày trên đây, có thể nói rằng quá
trình CNH, HĐH ở Hà Tĩnh có những thuận lợi, -u thế cơ bản sau:
Thứ nhất, tài nguyên thiên nhiên Hà Tĩnh phong phú nh- đã nêu ở trên sẽ
là tiềm năng to lớn cho Hà Tĩnh phát triển một nền kinh tế toàn diện nông,
lâm, ng- nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, du lịch. Có thể phát triển một số
ngành công nghiệp nh- vật liệu xây dựng, khai thác quặng, công nghiệp chế
biến thuỷ, hải sản.
Thứ hai, Hà Tĩnh ở vào trung độ cả n-ớc, nơi giao thoa các đặc thù hai
miền Bắc - Nam, đ-ờng quốc lộ 1A, đ-ờng Hồ Chí Minh và đ-ờng sắt chạy
dọc theo tỉnh đã tạo ra một hành lang giao thông phát triển kinh tế và dịch vụ.
Với hơn 130 km đ-ờng biên giới với Lào, có quốc lộ 8 chạy từ cảng biển Nghi
Xuân qua n-ớc Lào, Thái Lan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế
với Lào, Thái Lan và các n-ớc khác trong khu vực. Có bờ biển dài 137 km nên
dễ dàng hội tụ, hội nhập những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và giao l-u giữa hai
14
Ba là, nhân dân Hà Tĩnh ch-a thực sự hoà nhập với kinh tế thị tr-ờng,
mới làm quen với kinh tế hàng hoá, nên còn thiếu năng động, kinh nghiệm
trong sản xuất kinh doanh. Ng-ời dân ch-a mạnh dạn đầu t- làm ăn lớn, việc
thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài, trong dân c- để đầu t- vào sản xuất, kinh
doanh còn nhỏ bé và hiệu quả thấp. Mặt khác, nhìn chung ng-ời dân ch-a chủ
động, tích cực áp dụng những tiến bộ KH - CN vào sản xuất và kinh doanh.
Bốn là, dân số tăng nhanh; phân bố dân c- lại không phù hợp, nhiều
vùng có khả năng sản xuất tốt thì dân th-a thớt, đây là một trong những lý do
ch-a tạo ra đ-ợc các vùng sản xuất hàng hoá. Đáng chú ý là mặc dù ng-ời Hà
Tĩnh học giỏi, đỗ đạt cao, nh-ng sau khi học xong phần lớn không về Hà Tĩnh
công tác, làm cho tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở Hà Tĩnh quá thấp. Đây
không chỉ là khó khăn lớn mà còn là một thách thức trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH ở Hà Tĩnh
1.1.2. Những quan điểm cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Hà Tĩnh
- Về ph-ơng h-ớng và mục tiêu tổng quát:
Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã khẳng định: mục tiêu
của CNH, HĐH là xây dựng n-ớc ta thành n-ớc công nghiệp có cơ sở vật chất
- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của lực l-ợng sản xuất, có đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu n-ớc mạnh, xã hội công bằng,
văn minh. Phấn đấu đến năm 2020 đ-a n-ớc ta cơ bản trở thành một n-ớc công
nghiệp [20, tr. 80].
Từ mục tiêu CNH, HĐH của cả n-ớc, Đại hội tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh lần
thứ XIV nhiệm kỳ 1996 - 2000 đã cụ thể hoá và xác định: trên cơ sở những lợi
thế về nguyên liệu nông, lâm, hải sản, khoáng sản, tiềm năng về kinh tế biển,
năng lực trí tuệ của nhân dân, phát huy cao các nguồn lực, phấn đấu hình thành
các ngành sản xuất mũi nhọn, có hiệu quả kinh tế lớn, tạo đ-ợc nhiều việc làm
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo h-ớng sản xuất hàng hóa
lớn gắn với công nghiệp chế biến và thị tr-ờng, thực hiện cơ khí hoá, điện khí
16
hoá, ứng dụng các thành tựu KH - CN, tr-ớc hết là công nghệ sinh học, đ-a
thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp
nhằm nâng cao năng suất, chất l-ợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm
hàng hoá trên thị tr-ờng. Đồng thời Hà Tĩnh phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo h-ớng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các
ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông
thôn.
Thứ hai, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá và thu hút mọi
nguồn lực cho sự phát triển.
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là hai khái niệm không hoàn toàn đồng
nhất với nhau. Hiện đại hoá hoàn toàn không có nghĩa là ph-ơng Tây hoá.
Hiểu một cách tổng quát, hiện đại hoá là khái niệm có nội dung rộng lớn, là
quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành một xã hội hiện đại, có trình độ
văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở nền KH - CN tiên tiến, nền kinh tế
phát triển cao, xã hội đ-ợc tổ chức khoa học và hợp lý mà còn đ-ợc thể hiện ở
đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần của xã hội.
Trong điều kiện cách mạng KH - CN phát triển nhanh chóng và xu thế
toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá;
kết hợp những b-ớc tiến tuần tự về công nghệ, phát triển theo chiều rộng, tạo
nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ đông đảo lao động hiện nay, với việc tranh
thủ những cơ hội đi tắt đón đầu, phát triển chiều sâu, tạo nên những mũi nhọn
theo trình độ KH - CN tiên tiến của thế giới. Nói cách khác, ngày nay công
nghiệp hoá nhất thiết phải gắn với hiện đại hoá.
Đối với Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, ch-a đ-ợc đầu t- khai thác, thực
hiện CNH phải gắn với HĐH nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, lạc hậu
"Mở cửa" nền kinh tế là sự đổi mới mang tính b-ớc ngoặt trong t- duy
và quan điểm kinh tế của Đảng và Nhà n-ớc ta. Đó là sự thay đổi quan niệm về
độc lập, tự chủ kinh tế. Độc lập, tự chủ không có nghĩa là "tự cấp, tự túc, khép
kín nền kinh tế", mà chỉ có nền kinh tế mạnh, phát triển vững chắc mới có khả
18
năng độc lập, tự chủ, đồng thời là tiền đề cho sự bảo đảm độc lập tự chủ về
chính trị của dân tộc. Theo tinh thần đó, quá trình CNH, HĐH ở Hà Tĩnh phải
gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế mở. "Mở cửa" cả bên trong và bên ngoài
chính là điều kiện để kết hợp sức mạnh trong tỉnh với sức mạnh ngoài tỉnh, sức
mạnh địa ph-ơng với sức mạnh trung -ơng, sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, khai thác tổng hợp nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho
công cuộc CNH, HĐH của Hà Tĩnh. Xây dựng nền kinh tế mở cả về cơ chế
quản lý lẫn cơ cấu kinh tế gắn với thị tr-ờng trong n-ớc, đặc biệt là thị tr-ờng
trên 15 triệu dân ở các tỉnh khu IV cũ, duyên hải Nam Bộ, gắn với thị tr-ờng
quốc tế. Tr-ớc hết, thông qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo để mở cửa với các
tỉnh đông bắc Thái Lan, tỉnh Khămmuộn và Bôlykhămxây của Lào; gấp rút
hoàn thành tỉnh lộ nối thị xã Hà Tĩnh với cửa khẩu sang Lào thuộc huyện
H-ơng Khê; phát triển kinh tế khu vực miền Tây để khai thác lợi thế đ-ờng Hồ
Chí Minh. Đặc biệt, sự ra đời của cảng th-ơng mại Vũng áng đã mở cửa với
Lào, Thái Lan và các n-ớc trong khu vực, rất thuận lợi cho việc tiêu thụ sản
phẩm và giao l-u th-ơng mại. Sự ra đời của cảng Vũng áng kéo theo sự ra đời
của khu công nghiệp Vũng áng. Nh- vậy, Hà Tĩnh đang từng b-ớc mở cửa
biên giới với các n-ớc; Hà Tĩnh cũng đang cố gắng tạo ra môi tr-ờng đầu t-
thuận lợi nhất để thu hút các nhà đầu t- trong tỉnh, ngoài tỉnh và quốc tế vào
các khu công nghiệp và khu kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Thứ năm, khoa học - công nghệ đ-ợc xác định là nền tảng và động lực
của CNH, HĐH.
Bản chất của CNH, HĐH là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc
hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại, nhằm tạo ra
nguồn lực con ng-ời, trở thành nhiệm vụ cấp bách, cơ bản và quan trọng hàng
đầu trong quá trình CNH, HĐH. Mặt khác, CNH, HĐH không chỉ đơn thuần
nhằm mục tiêu tăng tr-ởng, mà quan trọng hơn là phải đạt đ-ợc mục tiêu phát
triển và phát triển bền vững. Đó là sự gia tăng không chỉ về l-ợng (GDP) mà
còn về chất (năng lực, trình độ KH - CN, trình độ quản lý, tiến bộ xã hội ).
Trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH, phải gắn tăng tr-ởng kinh tế với việc giải
20
quyết các vấn đề về tiến bộ, công bằng xã hội, với bảo vệ và cải thiện môi
tr-ờng sống vì lợi ích không chỉ của thế hệ hôm nay mà còn của các thế hệ
t-ơng lai. Do vậy, quá trình CNH, HĐH ngày nay đòi hỏi phải biết nuôi
d-ỡng, phát triển và khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con ng-ời; CNH,
HĐH do con ng-ời và vì con ng-ời.
Hà Tĩnh là một trong những tỉnh nghèo, các nguồn lực cho CNH, HĐH
bị hạn chế, nh-: tài nguyên không nhiều, vốn ít, cơ sở hạ tầng thấp kém,
trong khi đó, tiềm năng về nguồn lực con ng-ời rất lớn; là một tỉnh có truyền
thống hiếu học và học giỏi; ng-ời Hà Tĩnh thông minh, cần cù, chịu khó, có
truyền thống cách mạng, có bản lĩnh và ý chí cao. Có thể nói tiềm năng chất
l-ợng nguồn lực con ng-ời ở Hà Tĩnh cơ bản là tốt. Vậy nên, quá trình CNH,
HĐH ở Hà Tĩnh càng phải quán triệt quan điểm lấy việc phát huy nguồn lực
con ng-ời là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Hà Tĩnh là một tỉnh bắt đầu thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện tự
nhiên còn nguyên sinh, cho nên ngay từ đầu phải chú trọng yếu tố phát triển
bền vững, không để tình trạng khai thác tự nhiên bừa bãi, quy hoạch chắp vá,
cần có quy hoạch tổng thể, dài hạn một cách chính xác trên cơ sở nghiên cứu,
điều tra, khảo sát, nắm chắc tình hình, đặc điểm tài nguyên, thiên nhiên. Có
nh- vậy, CNH , HĐH mới đạt đ-ợc sự bền vững.
1.2.Vai trò của nguồn lực con ng-ời trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá
1.2.1. Quan niệm về nguồn lực con ng-ời
đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội" [32, tr. 32].
TS. Hồ Anh Dũng trong một cuốn sách xuất bản năm 2002, cho rằng
"Nguồn nhân lực là nguồn sức mạnh của con ng-ời, là sự kết hợp hữu cơ giữa thể
lực và trí lực, đem lại cho con ng-ời năng lực sáng tạo và nâng cao chất l-ợng,
hiệu quả hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới và nhu cầu của con ng-ời"[17, tr.62],
và tác giả còn cho rằng" khái niệm nguồn lực con ng-ời không mâu thuẫn mà
thống nhất với khái niệm yếu tố con ng-ời trong lực l-ợng sản xuất. Hai vấn đề
đó chỉ khác nhau ở phạm vi xem xét mà thôi [17, tr. 62], v.v.
22
Các quan niệm về nguồn lực con ng-ời trên đây tuy khác nhau về ngôn
từ, cách thể hiện, nh-ng nhìn chung đều đề cập đến yếu tố thể chất và yếu tố
tinh thần của con ng-ời, phản ánh thể lực, trí lực và những phẩm chất tinh thần
khác (tâm lực) ở con ng-ời, nhờ đó tạo ra đ-ợc sức mạnh với t- cách là một
nguồn lực của sự phát triển xã hội. Nh- vậy, theo nghĩa chung nhất, chúng ta
có thể hiểu " nguồn lực con ng-ời" là tổng hợp toàn bộ các yếu tố thể chất và
tinh thần của con ng-ời, các hoạt động vật chất và tinh thần của họ đã, đang
và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Tìm hiểu khái niệm "nguồn lực con ng-ời" không phải là vấn đề câu chữ,
cái chính là hiểu đúng nội hàm khái niệm "nguồn lực con ng-ời" để trên cơ sở đó
có định h-ớng đúng đắn cho việc nuôi d-ỡng, phát triển, khai thác và sử dụng
nguồn lực con ng-ời, phát huy tốt tiềm năng con ng-ời, qua đó khai thác có hiệu
quả các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển. Trên tinh thần đó, cần phải hiểu
khái niệm "nguồn lực con ng-ời" với nội hàm rộng. Nó bao hàm số l-ợng dân c-
và lao động; tốc độ tăng dân số và lao động; cơ cấu dân c- và lao động; chất
l-ợng dân số và lao động phản ánh qua trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo
đức - tinh thần, nghĩa là những năng lực và phẩm chất sinh lý - tâm lý - xã hội
của con ng-ời tạo nên nhân cách trong mỗi cá nhân; đặc điểm và sức mạnh của
nguồn lực con ng-ời; mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại trong nguồn lực con
ng-ời; v.v Đặc biệt, khi nói tới nguồn lực con ng-ời và vai trò của nó phải xem
hoá, hiện đại hoá.
Để thấy rõ vai trò quyết định của nguồn lực con ng-ời trong quá trình
CNH, HĐH, cần đặt nó trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác để qua
đó thấy đ-ợc mức độ chi phối đến sự thành bại của CNH, HĐH. Đồng thời,
phải đặt công nghiệp hoá trong bối cảnh hiện nay, khi cuộc cách mạng KH - CN
phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành yêu cầu
khách quan, xu thế phổ biến của nhân loại, khi công nghiệp hoá gắn liền với
hiện đại hoá mà cốt lõi là hiện đại hoá lực l-ợng sản xuất. Mặt khác, cũng phải
đặt CNH, HĐH trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Với cách
tiếp cận nh- vậy, vai trò quyết định của nguồn lực con ng-ời thể hiện xuyên
suốt trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH.
24
Nh- chúng ta đều biết, xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối, quyết
định sự vận động và phát triển của xã hội chính là lực l-ợng sản xuất. Lực
l-ợng sản xuất bao gồm sức lao động và t- liệu sản xuất, trong đó ng-ời lao
động là yếu tố quan trọng hàng đầu. Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng
muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình t- liệu lao động, dù là t- liệu cơ giới
hay bất kỳ t- liệu nào khác, cũng không đủ mà còn cần có những con ng-ời có
năng lực t-ơng xứng sử dụng những t- liệu đó. Khi phân tích lực l-ợng sản
xuất V.I. Lênin cũng đánh giá "Lực l-ợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân
loại là công nhân, là ng-ời lao động" [33, tr. 430]. Nh- vậy, quan điểm của các
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin đều khẳng định ng-ời lao động là yếu tố
quyết định trong lực l-ợng sản xuất. Sở dĩ nh- vậy là vì thứ nhất, nếu không có
con ng-ời với trí lực, thể lực và những năng lực phẩm chất cần thiết khác thì dù
t- liệu lao động có sức mạnh đến đâu và đối t-ợng lao động có phong phú nh-
thế nào cũng không có tác dụng, quá trình sản xuất không đ-ợc thực hiện. Thứ
hai, trừ đối t-ợng lao động gồm những loại có sẵn trong tự nhiên (thiên nhiên
1) còn lại tất cả các yếu tố khác trong lực l-ợng sản xuất từ công cụ lao động,
ph-ơng tiện vận chuyển đến đối t-ợng lao động đã qua chế biến (thiên nhiên
nhiên, cũng cần chú ý rằng tính vô tận của tiềm năng trí tuệ thể hiện trên phạm
vi cộng đồng, nhân loại chứ không phải ở mỗi cá nhân.
Thứ ba, trí tuệ con ng-ời có sức mạnh áp đảo so với các nguồn lực khác
một khi nó đ-ợc vật thể hoá, trở thành lực l-ợng sản xuất trực tiếp. Sự phát
triển nh- vũ bảo của cuộc cách mạng KH - CN hiện đại đang dẫn nền kinh tế
thế giới vận động đến nền kinh tế của trí tuệ (kinh tế tri thức). ở những n-ớc
công nghiệp phát triển, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ lệ cao, yếu tố tri
thức chiếm tới 65% giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm. Giờ đây, sức
mạnh của trí tuệ đạt đến mức, nhờ nó con ng-ời có thể sáng tạo những máy
móc "bắt ch-ớc" hay "phỏng" theo những đặc tính trí tuệ của chính con ng-ời.
Chính do sức mạnh to lớn của trí tuệ con ng-ời đã làm thay đổi thang giá trị
của các loại tài nguyên, các loại nguồn lực và ngày nay đối t-ợng khai thác
đang đ-ợc chuyển vào chính bản thân con ng-ời. Nói cách khác, trong điều