LUẬN VĂN: Lí luận về con người và vấn đề đào tạo nguồn lực con người trong quá trình CNH -HĐH đất nước potx - Pdf 12


LUẬN VĂN: Lí luận về con người và vấn đề đào
tạo nguồn lực con người trong quá
trình CNH -HĐH đất nước

Mở đầu


giảm số người hoạt động trong 1 tổ chức xã hội .
Như đã nói , việc nghiên cứu vấn đề con người trong CNH-HĐH là nhiệm vụ hết
sức quan trọng của mọi thành viên trong xã hội . Sở dĩ vấn đề đó lại được quan tâm một
cách đặc biệt như vậy là vì nhiều lý do , song có thể nhắc đến một số lý do chủ yếu :
Hiện nay , do yêu cầu của quá trình CNH-HĐH đất nước và việc phát triển kinh tế-
xã hội nhanh và bền vững thì việc đi lên bằng nguồn lực con người được coi là động lực
chủ yếu , quyết định sự phát triển . Sự phát triển không có mục đích tự thân , toàn bộ
những chính sách phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta trong những năm trước mắt và lâu
dài là sự thể hiện nhất quán quan điểm phát triển kinh tế-xã hội của CNXH: Con người
là trọng tâm của sự phát triển . Do đó , các chính sách phát triển đất nước phải hướng cụ
thể vào mục tiêu tổng quát là phát triển con người , xuất phát từ con người , do con
người và vì con người , Đảng ta luôn nhấn mạnh rằng “ Chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội thực chất là chiến lược phát triển con người , phát huy yếu tố con người và lấy việc
phục vụ con người làm đích cao nhất cuả mọi hoạt động “.Vì lẽ đó mà hàng ngày , hàng
giờ trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng , sách báo , tạp chí đều có những
bài viết sâu sắc đề câp đến vấn đề con người mà chúng ta quan tâm .
Mục tiêu chính của CNH-HĐH là tạo ra tiềm lực to lớn đủ khả năng tiến tới thủ tiêu
nghèo nàn , lạc hậu , xây dựng cuộc sống dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng văn
minh , hay nói chung là tất cả đều nhằm phục vụ con người , coi con người là yếu tố
trung tâm số một của mọi hoạt động . Vì thế nên mọi phương tiện thông tin đại chúng
đều chĩa mũi nhọn vào vấn đề con người , trong giai đoạn hiện nay . Có giải quyết tốt
vấn đề đó với những chính sách về người lao động hợp lý thì mới có được những thành
công của sự nghiệp CNH-HĐH . Có thể nói đó là vấn đề số một quyết định đến vận
mệnh của nước ta , trong những năm tới . Đặc biệt là trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 ,
việc nhận thức rõ bản chất của vấn đề con người trong CNH-HĐH có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng . Ngoài ra , việc chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu còn do bản thân tâm
đắc , từ trước đến nay đã quan tâm được ít nhiều .
Trong nội dung tiểu luận này , trước hết chúng ta nên tìm hiểu thế nào về phạm trù
con người , phạm trù CNH-HĐH , sau đó mới nghiên cứu vấn đề con người trong CNH-
HĐH và vận dụng ở Việt Nam ta . Cuối cùng là những định hướng , giải pháp phát triển

Triết học thế kỷ 15-18 phát triển quan niệm triết học về con người trên cơ sở KHTN
đã phục hưng và bắt đầu phát ttiển . Chủ nghĩa duy vật máy móc coi con người là một bộ
máy vận động theo quy luật cơ học , con người duy vật đề cao vai trò sáng tạo của lý
tính con người , mặt khác coi con người là sản phẩm của tự nhiên , của hoàn cảnh . Chủ
nghĩa duy tâm chủ quan coi con người là hiện thân cuả cảm giác . Chủ nghĩa duy tâm
khách quan coi con người là hiện thân của ý niệm (Hêghen), nhưng Hêghen đã có công
lớn là đưa ra những quy luật về sự hình thành và phát triển của tư duy đối với mọi cá
nhân trong xã hội .
Nhìn chung , các quan niệm trên đều xét con người một cách trừu tượng , họ đã tuyệt
đối hoá phần hồn hoặc phần xác , xem xét chúng một cách tách rời cô lập và trừu tượng
chúng thành trong bản chất con người . Do đó họ đã đi đến những kết luận và những
cách lý giải phiến diện 1 chiều . Mặc khác , họ cũng chưa chú ý đầy đủ đến bản chất xã
hội của con người , mặc dù đã có những quan điểm đề cập tới (Hêghen,Phoiơbăc),
nhưng chưa khái quát được mặt xã hội trong con người .
Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những hạn chế đồng thời phát triển những
quan niệm về con người đã có trong lịch sử để đưa tới quan niệm về con người hiện thực
, con người hoạt động thực tiễn , con người vừa là sản phẩm của tự nhiên và xã hội ,
đồng thời vừa là chủ thể cải tạo tự nhiên-xã hội . Như vậy , triết học Mác-Lênin xem xét
con người là một thực thể sinh vật và xã hội , vì vậy , con người tồn tại và phát triển tuân
theo tổng hợp các quy luật sinh học và quy luật xã hội .

2/quan niệm hiện đại của Mác về con người và trong bản chất của nó

a/ Con người là một thực thể sinh học xã hội
Con người là sản phẩm của tự nhiên , là kết quả của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu
sinh , con người tự nhiên là con người sinh học mang bản chất tính sinh vật , cái sinh vật
trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lý trong con

ban cho mà nó là sản phẩm của quá trình lao động của con người . Vì thế , quá trình sản
xuất ra của cải vật chất là hoạt động tất yếu của loài người . Chính lao động đã phân
định danh giới giữa người với động vật khác , lao động là hoạt động xã hội , nên mọi sự
khác biệt giữa con người và động vật đều là kết quả của cuộc sống con người trong xã
hội . Phần “xác” là bộ phận sinh học trong con người cũng nhờ có lao động mà khác
con vật . Một cá thể sinh học muốn tồn tại và phát triển được thì nhất thiết phải sống
trong xã hội và được xã hội đào luyện . Như vậy , cá nhân là một thực thể xã hội và bản
chất của con người có tính lịch sử cụ thể . Vì lẽ đó mà bản chất của con người là tổng
hoà các mối quan hệ xã hội , không chỉ tổng hoà các mối quan hệ trong hiện tại mà cả
trong quá khứ .
Qua tìm hiểu quan điểm của Mác về con người ta có thể rút ra rằng :
Thứ nhất : Bản chất chung nhất và sâu sắc nhất cuả con người là tông hoà các mối
quan hệ giữa người và người trong xã hội diễn ra cả trong hiện tại và trong quá khứ .
Thứ hai : Bản chất con người không phải là cố định , bất biến mà có tính lịch sử cụ
thể .
Thứ ba : Bản chất cuả con người nhất thiết phải xem xét trong mối quan hệ cá nhân
và xã hội .
Nói tóm lại , Mác cho rằng con người là một thực thể thống nhất biện chứng giữa
cái sinh học và cái xã hội , cái xã hội không thể tách rời cái sinh học trong mỗi con
người và ngược lại . Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên-xã hội vừa là chủ thể cải
biến tự nhiên và xã hội theo mục đích nhu cầu của mình .

II/Nguồn lực con người

Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất , tinh thần , đạo đức
, trình độ tri thức , vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người của cộng đồng người
có thể sử dụng , phát huy trong quá trình phát triển kinh tế –xã hội cuả đất nước và trong

của nhân dân , thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội , bảo vệ cải thiện môi trường sinh
thái .

B_thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực

I/vai trò nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất , nó khẳng định vai trò to
lớn của nguồn lực con người trong phát triển . Trong các yếu tố cấu thành của lực lượng
sản xuất thì con người được khẳng định ở vị trí hàng đầu , thiếu nó sản xuất sẽ bị mất
sinh khí và tất yếu dẫn đến vô hiệu quả .
Đặc biệt hơn , trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước thì hơn bao giờ hết , nhân tố
con người càng phải được đặt ở vị trí trung tâm . Nếu không có đội ngũ tri thức và đội
ngũ công nhân lành nghề-lực lượng chủ yếu trong nguồn lao động thì làm sao có được
những thành tựu to lớn , tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của nhân loại . Vì thế mọi hoạt động phát triển nhằm mục đích chính là vì con người
, do con người . Nếu không xuất phát từ con người , được tiến hành bởi con người và vì
con người thì không có lý do gì mà khoa học cũng như một quá trình sản xuất nào đó có
thể tồn tại được .
Như vậy , con người vừa là xuất phát điểm , là lực lượng chủ đạo là mục đích của
quá trình sản xuất . Tuy nhiên , sự phát triển của lực lượng sản xuất , của yếu tố con
người phải gắn liền với sự phát triển quan hệ sản xuất . Lực lượng sản xuất chỉ có thể
vận động và phát triển trong phương thức sản xuất với một quan hệ sản xuất song trùng .
ở đây chúng ta chỉ khẳng định vai trò to lớn của con người trong CNH-HĐH chứ tuyệt
nhiên không tuỵệt đối hoá nó và tách rời khỏi quan hệ sản xuất hiện thời .
Ngày nay , khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão , khoảng cách giữa các
phát minh khoa học ngày càng rút ngắn lại , vì thế để ứng dụng có hiệu quả những thành

ở , đi lại , học hành của nhân dân đã được cải thiện so với trước . Đảng và Nhà nước ta
đã tạo những điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tham gia đóng góp ý kiến trong quá
trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội củ đất nước cũng như kế hoạch phát
triển kinh tế của từng địa phương , từng cơ sở sản xuất kinh doanh . Trong nhiều đơn vị
kinh tế đã động viên mọi người dân đóng góp tài năng trí tuệ , thực hiện cải tiến kỹ thuật
, thay đổi qui trình sản xuất nhằm tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao .
Nước ta còn nghèo nàn lạc hậu , đang trong tình trạng kém phát triển , sự phân hoá
giàu nghèo , thiếu việc làm , chất lượng giáo dục đào tạo , phục vụ y tế còn thấp , tình
trạng ô nhiễm môi trường sinh thái , văn hoá phẩm độc hại đang còn lan tràn và các tệ
nạn xã hội phát triển . Ưu điểm nổi bật của con người Việt Nam là mang trong mình
những phẩm chất truyền thống quí báu : Anh dũng trong chiến đấu , cần cù , bền bỉ , dẻo
dai trong lao động , có khả năng sáng tạo thích ứng nhanh Tuy nhiên , lực lượng lao
động dồi dào cùng với lòng nhiệt tình cách mạng , thì chưa đủ tiến hành CNH-HĐH
.Việt Nam đã quan tâm tới giáo dục đào tạo , đã đưa tỉ lệ số người biết chữ từ 5% trước
đây , tới nay đã gần 90% dân số biết chữ . Trình độ dân trí đã xó tiến bộ nhiều so với
trước đây . Nhiều tỉnh đã thực hiện xoá nạn mù chữ , phổ cập tiểu học hay trung học phổ
thông cơ sở . Hiện nay ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục năm sau cao hơn năm
trước . Giáo dục miền núi , vùng sâu , vùng xa được quan tâm ngày càng tốt hơn . Đảng
và nhà nước ta đã khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu , tạo ra điều
kiện thuận lợi để “Cả nước trở thành một xã hội học tập”. Trong quá trình giảng dạy ,
học tập , đã tìm mọi biện pháp để thực hiện “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng
tạo của học sinh , sinh viên , đề cao năng lực tự học , tự hoàn thiện học vấn và tay nghề
“. Nhìn chung , mặt bằng dân trí ở nước ta còn thấp , số người được đào tạo có trình độ
tay nghề cao cũng như học vấn đại học và sau đại học còn quá ít , còn thiếu nhiều cán bộ
Khoa học-Công nghệ và chuyên gia giỏi . Trong khi đó , do nhiều nguyên nhân , tình
trạng hẫng hụt về kiến thức , bất cập về năng lực chuyên môn , nhiệp vụ trong đội ngũ
cán bộ, viên chức còn khá phổ biến . Đang có tình trạng lão hoá cả về tuổi tác và tri thức

Thứ ba , tăng cường đầu tư tài chính của Nhà nước cho hoạt động tạo nguồn nhân
lực cho công cuộc CNH-HĐH , đồng thời phải tăng cường công tác quản lý , tuần tra tổ
chức sử dụng một cách hợp lý .
Bốn là , đào tạo , bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ giai cấp công
nhân-lực lượng chủ đạo của Cách mạng Việt Nam . Đó là việc làm vừa có tính cấp bách
, vừa có tính chiến lược để đảm bảo thành công của công cuộc CNH-HĐH.
Năm là , nói đến năng lực công tác là nói đến tay nghề và đạo đức-cái giúp cho con
người trở thành động lực của sự phát triển . Mác đã chỉ ra rằng , trong bất cứ hình thái
kinh tế xã hội nào , con người luôn thể hiện ra là người sản xuất , người lao động , phải
chăm lo đến lợi ích của người lao động , người sản xuất , đó là một quy luật của sự phát
triển con người , phát triển kinh tế-xã hội . Lợi ích tạo ra động lực quan trọng bậc nhất
của con người . Tất nhiên , lợi ích ở đây bao gồm cả lợi ích tinh thần , giải quyết vấn đề
phân tầng xã hội , phân hoá giàu nghèo phải nhằm mục tiêu công bằng xã hội . Công
bằng xã hội cũng tạo động lực không nhỏ cho hoạt động của con ngừơi và xã hội .
Tăng cường giáo dục đạo đức , khơi dậy lương tâm nghề nghiệp , nêu cao trách
nhiệm của mỗi người trong hoạt động sản xuất kinh doanh , dịch vụ .Cần làm cho mọi
người thấy được trách nhiệm của mình phải lao động nghiêm túc , có chất lượng , có
hiệu quả , tạo ra hàng hoá tốt , nâng cao chất lượng dịch vụ . Điều đó vừa tạo điều kiện
cho xã hội phát triển , vừa là điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả .
Phê phán mạnh mẽ thói lười biếng , làm bừa , làm ẩu ; ngăn chặn làm ăn phi pháp , phi
đạo lý .
Từng bước khắc phục đi tới loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu , những quan
hệ không bình đẳng , xây dựng quan hệ mới giữa người với người trên tinh thần tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh , trong đời sống xã hội . Xây dựng quan
hệ bình đẳng hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc , giữa các quốc gia .
Thực hiện chính sách xoá đói , giảm nghèo ; tập trung giải quyết những vấn đề cấp
bách về lao động việc làm ; trên cơ sở đó , người lao động mới có điều kiện nâng cao


Mục lục Trang Mở đầu 1

Nội dung 2 A-Lí luận 2

I/Phạm trù con người 2

1.Khái niệm con người
2.Quan niệm hiện đại của Mác về con người
và bản chất của nó 3
a.Con người là thực thể sinh học xã hội 3
b.Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ XH 4


1.Giáo trình triết học Mác-Lênin : NXB Chính trị Quốc gia.

2.Tạp chí Cộng sản số 13/7/2002: Vấn đề con người trong sự nghiệp Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá đất nước .

3.Đảng Cộng sản Việt Nam : các văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI , VII, VIII, IX.

4.Hồ Chí Minh-Toàn tập NXB Sự thật Hà Nội năm 1989.

4. Chủ nghĩa xã hội khoa học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status