thành tựu đạt được nhờ vận dụng đúng đắn quy luật được vận dụng trong quá trình cnh-hđh đất nước - Pdf 10

Lời mở đầu
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng
đất nớc của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và
lực lợng sản xuất đều có ảnh hởng rất lớn tơí nền kinh tế. Sự tổng hoà mối
quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có
lực lợng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển.
Nói cách khác Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh
tế.
Do vậy, việc nắm vững và vận dụng đúng đắn quy luật này sẽ giúp cho
đảng và nhà nớc có một chính sách mục tiêu thích hợp để đa đất nớc ta tiến
lên trên con đờng đổi mới và phát triển. Và giúp cho sinh viên chúng ta có
một cái nhìn đúng đắn hơn về sự phát triển kinh tế xã hội từ đó có thể góp môt
phần nhỏ bé của minh vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nớc.
Do thời gian còn hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề cha sâu sắc, chắc
chắn bài viết còn có rất nhiều thiếu sót. Bởi vậy em mong đợc sự chỉ bảo, phê
phán của cô giáo để có thể sửa chữa, khắc phục những mặt kiến thức còn yếu
của mình và để bài viết có thể hoàn thiện hơn.
1
MụC LụC
A. ĐặT VấN Đề.
- lý do chọn đề tài.
- Nêu khái quát đề tài.
B. GIảI QUYếT VấN Đề.
I.KHái niệm về lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất và quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất
1.1. Khái niệm về lực lợng sản xuất và qUAn hệ sản xuất:
1.1.1/ Lực lợng sản xuất:
1.1.2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất:

thức sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con ngời mới xuất
hiện trên hành tinh đã trải qua năm phơng thức sản xuất. Đó là: Cộng sản
nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội t bản chủ nghĩa. T
duy nhận thức của con ngời không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian ngày
càng phát triển hoàn thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển trong sản
xuất. Lịch sử phát triển của sản xuất trong xã hội loài ngời là lịch sử phát triển
của các phơng thức sản xuất kế tiếp nhau. Phơng thức sản xuất là sự thống
nhất biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, là cách thức sản
xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lợng sản xuất đạt đến một trình độ
nhất định, thống nhất với quan hệ sản xuất tơng ứng với nó. Phơng thức sản
xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là động lực thúc đẩy và quy đinh mọi mặt
của đời sống xã hội. Không thể thúc đẩy sự tăng trởng của nền kinh tế nếu
không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có những biện pháp tối u tác
động nhằm hoàn thiện phơng thức sản xuất mà cụ thể chính là hoàn thiện mối
quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Tác động qua lại biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản
xuất đã đợc Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng
định rằng lực lợng sản xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và
ngợc lại, có thể thúc đầy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Xã
hội ngày càng phát triển thì mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản
xuất là không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển và là một
trong những quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và tiến bộ xã
hội. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là
một trong những nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội
mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Chúng ta đã có những bài học đắt giá,
4
đó là sự sai lầm khi xây dựng nhiều yếu tố của quan hệ sản xuất vợt trớc so
với lực lợng sản xuất mà chúng ta hiện có. Đó là việc chỉ cho phép các hình

động và t liệu lao động. Đối tợng lao động là bộ phận của giới nhiên mà lao
động của con ngời tác động vào làm thay đổi hình thái của nó cho phù hợp với
mục đích của con ngời.T liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm
nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con ngời lên đối tợng lao động nhằm
biến đổi đối tợng lao động theo mục đích của mình. Do đó, t liệu lao động đợc
coi là cánh tay thứ 2 của con ngời. Nó kéo dài và tăng cờng sức mạnh thế giới
quan con ngời T liệu lao động do con ngời sáng tạo ra, trong đó công cụ sản
6
xuất đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc biến đổi tự nhiên. Công cụ lao
động là yếu tố động nhất của lực lợng sản xuất nó nhân sức mạnh của con
ngời trong quá trình sản xuất. Cùng với quá trình phát triển của khoa học kĩ
thuật công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến. Trình độ phát triển của công
cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời là tiêu chuẩn
phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử.
C. Mác viết: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng
sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những t liệu
lao động nào"
Trong sự phát triển của lực lợng sản xuất khoa học đóng vai trò ngày
càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay khoa học phát triển đến mức trở
thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất trong đời
sống và trở thành: lực lợng sản xuất trực tiếp. Có thể nói: khoa học và công
nghệ hiện đại là đặc trng cho lực lợng sản xuất hiện đại.
1.1.2/ Khái niệm về quan hệ sản xuất:
Để tiến hành quá trình sản xuất nhất định con ngời phải có mối quan hệ
với nhau. Tổng thể những mối quan hệ này gọi là quan hệ sản xuất. Nói cách
khác quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất. Quan hệ
sản xuất do con ngời tạo ra song nó đợc hình thành một cách khách quan
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời. Với tính chất là những
quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của con ngời, quan

động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của
toàn bộ nền kinh tế. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu
của sản xuất nhng ngợc lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãn sự phát
triển của xã hội
Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính
chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt khác trong
mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng
giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để
8
chẳng những chúng không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát
triển của kinh tế xã hội mới.
1.2/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất:
1.2.1/ Tính chất và trình độ của lực l ợng sản xuất:
a/ Tính chất:
Tính chất của lực lợng sản xuất là tính chất của t liệu sản xuất và lao
động. Khi nền sản xuất đợc thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông,
lực lợng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân. Khi trình độ sản xuất đạt
tới trình độ cơ khí hoá, lực lợng sản xuất đòi hỏi phải đợc vận động cho sự hợp
tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá. Tính chất tự cấp tự túc cô lập
của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải đợc thay thế bởi tính chất xã hội hoá.
b/ Trình độ của lực l ợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển
của phơng thức sản xuất: Trình độ của lực lợng sản xuất trong từng giai đoạn
của lịch sử loài ngời thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngời trong
giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lợng sản xuất nói lên khả năng của
con ngời thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến
tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Trình độ lực l-
ợng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội
trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng

là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là: hình thức phát triển của
lực lợng sản xuất. Trong trạng thái đó tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều
tạo địa bàn đầy đủ cho lực lọng sản xuất phát triển. Nh vậy ở trạng thái phù
hợp thì cả 3 mặt của quan hệ sản xuất thích ứng phù hợp với trình độ phát
triển của lực luợng sản xuất.
Sự phát triển của lực lọng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho
quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp thành không phù hợp với sự phát triển của lực
lọng sản xuất. Khi đó quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lợng sản
xuất, kìm hãm lực lợng sản xuất phát triển. Song yêu cầu khách quan của sự
10
phát triển lực lợng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lợng sản
xuất để thúc đẩy lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản
xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phơng thức sản xuất cũ
mất đi, phơng thức sản xuất mới ra đời thay thế. Nhng rồi quan hệ sản xuất
mới này sẽ lại trở nên không còn phù hợp với lực luợng sản xuất đã phát triển
hơn nữa; sự thay thế phơng thức sản xuất lại diễn ra.
b. Quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập t ơng đối và tác động trở lại sự
phát triển của lực l ợng sản xuất.
Chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của lực lợng sản xuất mà bỏ
qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa chúng có sự
phù hợp. Đôi khi sự phát triển chệch hớng của quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là do yếu tố chủ
quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy luật đó.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lợng
sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất
bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tơng đối với lực lợng sản xuất. Quan hệ sản
xuất tác động trở lại lực lợng sản xuất, nó là yếu tố quyết định là tiền đề cho
lực lợng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất. Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bớc đi và tạo quy mô thích hợp cho

nhng đồng thời cũng đặt ra nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật
quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất vào việc giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần
thiết cho việc tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng nh sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2.1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần
Sau độc lập, nền kinh tế nớc ta còn gặp vô vàn khó khăn do thói quen
lao động tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ lẻ, trình độ khoa học kém phát triển,
đời sống xã hội vô cùng khó khăn Với hoàn cảnh mới, đất n ớc tiến lên
12
CNXH, đòi hỏi nớc ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, đó là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần.
Thời gian qua, chúng ta quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất, cho
rằng có thể đa quan hệ sản xuất đi trớc để mở đờng san đất, thúc đẩy lực lợng
sản xuất phát triển. Quan niệm ấy là sai lầm, sự phát triển của lực lợng sản
xuất trong thời gian qua là minh chứng cho điều ấy và do đó gây ra sự mâu
thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lợng sản xuất với hình thức kinh tế - xã hội
đợc áp đặt một cách chủ quan trên đất nớc ta. Mối mâu thuẫn ấy đã đem theo
nhiều hậu quả ngoài ý muốn: Kinh tế kém phát triển, xã hội nảy sinh nhiều
tiêu cực, tệ nạn, trình độ quản lý yếu kém yêu cầu cấp thiết là phải giải
quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất - quan hệ sản xuất, từ đó
khắc phục khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế - xã hội. Thiết lập quan hệ sản
xuất mới với những bớc đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Đó là sự cho
phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa t bản, buôn bán tự do rộng rãi, nâng cao
đời sống xã hội, Nh lời của đồng chí Lê Khả Phiêu nói: " không chấp
nhận Việt Nam theo con đờng chủ quan của t bản nhng không phải triệt tiêu t
bản trên đất nớc Việt Nam và vẫn quan hệ với CNTB trên cơ sở có lợi cho đôi
bên và nh vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế t bản là sáng suốt". Hay

Một số vấn đề văn hoá-xã hội bức xúc và gay gắt chậm đợc giải quyết.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao. Các hoạt động khoa
học và công nghệ cha đợc đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Cơ chế chính sách không đồng bộ và cha tạo động lực mạnh để phát
triển. Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, cha nhất quán, cha sát với cuộc
sống, thiếu tính khả thi. Nhiều cấp, ngành cha thay thế, sửa đổi những quy
định về quản lý nhà nớc không còn phù hợp, cha bổ sung những cơ chế, chính
sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lợng sản xuất. Trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội tiền t bản chủ nghĩa, nhà nớc ta
đã không thấy rõ bớc đi có tính quy luật trên con đờng tiến lên chủ nghĩa xã
hội nên đã tiến hành ngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế
14
quốc dân và xét về thực chất là theo đờng lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ
nghĩa, đa quan hệ sản xuất đi trớc mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
điều đó có nghĩa là đa quan hệ sản xuất đi trớc để tạo địa bàn rộng rãi, thúc
đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Điều đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Để
khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòi hỏi phải thiết lập quan hệ sản
xuất mới với những hình thức và bớc đi phù hợp và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất. Những chính sách mới của đảng và nhà nớc đã thúc đẩy nền
kinh tế nớc ta phát triển một cách mạnh mẽ. Sự thúc đẩy nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã đa nền kinh tế nớc ta sang một
bớc đi mới. Mọi ngời đợc tự do kinh doanh buôn bán, các doanh nghiệp kinh
doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trớc pháp luật Tất
cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nớc nhà.
Để làm rõ hơn về nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ, chúng ta sẽ đi
phân tích nền sản xuất nông nghiệp trong thời gian này. Tại đại hội lần thứ VI,
Đảng ta đã nhận định : ô Lực l ợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong tr-
ờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển

ơng ứng là 42,35 và 83%; sản lợng lơng thực bình quân đầu ngời dới 300 kg;
GDP bình quân đầu ngời khoảng dới 100 đô la. Trong khi phân công lao động
xã hội cha phát triển và lực lợng sản xuất ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất
đã đợc đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu. Đến năm
1960: 85,8% tổng số hộ nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ t sản đợc cải tạo
trong tổng số t sản công thơng nghiệp thuộc diện cải tạo, gần 80% thợ thủ
công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp
Đứng trớc thực trạng này Đảng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hành
chính, quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay để thúc đẩy quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản.
Trong đại hội Đảng VI (12/1986) là một thời gian qua trọng, đánh dấu
bớc chuyển mình phát triển của đất nớc ta: xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm,
bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trờng, sự phát triển yếu ớt của đời
16
sống xã hội đợc thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm và chú trọng
phát triển đời sống của nhân dân
Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (6/1996), Đại hội IX (4/2001) đã tiếp
tục khẳng định bổ sung và hoàn thiện các chủ trơng, chính sách đổi mới kinh
tế - xã hội: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh cơ cấu các
ngành kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới về công cụ lao động và chính
sách quản lý kinh tế- xã hội, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại,
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
c. KếT LUậN
3.1. Thành tựu đạt đợc nhờ vận dụng đúng đắn quy luật.
Sau 18 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng.
- Nền kinh tế tăng trởng liên tục, nhiều năm tốc độ cao. Trong 5 năm
đầu đổi mới (1986-1990), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh nghiệp
nhà nớc và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, khu vực kinh tế t nhân và cá thể

điện, xi măng, thép, giấy, đờng nh ng quan trọng hơn cả là sự đổi mới cơ
chế, chính sách quản lý của nhà nớc, xoá bỏ bao cấp, nhận vốn đầu t nớc
ngoài
Hệ thống đờng giao thông, bu điện đợc xây dựng mới và nâng cấp trên
khắp mọi miền tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng đợc nâng cấp và
xây dựng. Thơng mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng tiến bộ: chuyển từ khu vực I
(Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (công nghiệp - xây
dựng) và khu vực III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa
thành phần và chuyển theo hớng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền
Bắc- Trung- Nam.
- Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1995: 12,7%; 1997:
3,7%; 1999: 0,1%.
- Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: kim ngạch xuất khẩu 1996: 882,9
triệu USD; 2001: 15,027 tỉ USD; Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,162 tỉ
USD (2001).
18
- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đợc cải thiện rõ rệt: lao
động có việc tăng tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập
bình quân đầu ngời đạt gần 400 USD/năm . Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ
nghèo giảm 55% (1989) còn 11,4% (2000).
Những thành tựu tăng trởng và ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã
đợc cải thiện rất nhiều. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1 và giữ
mức bình quân 2,1%/ năm, giảm so với thời kỳ trớc (2,3%) nhng vẫn cao hơn
mục tiêu đề ra (1,9%). Số ngời đi học bình quân tính trên 1 vạn dân, tăng từ
1834 ngời (1990) tăng lên 2171 ngời (1995).
Tỉ trọng chi cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 24,4 - 28,4% tổng ngân
sách nhà nớc và có xu hớng tăng lên. Hệ thống y tế đợc cải thiện, đặc biệt là
hệ thống bảo hiểm y tế.
Tình hình nông thôn đợc cải thiện thêm một bớc. Có khoảng 60,2% số

trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất
và lực lợng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ
quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Trên mỗi bớc đi phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật, tạo ra lực lợng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đa quan
hệ sản xuất lên hình thức, quy mô thích hợp để cho lực lợng sản xuất phát
triển.
Tại Đại hội IX Đảng ta khẳng định: " Cần phải" nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ
nông thôn, phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa
bàn những hình thức kinh tế hộ nông dân ngày càng đợc mở rộng, các hình
thái kinh tế hợp tác ở nông thôn, kinh tế trang trại, mở mang nhanh công
nghiệp chế biến nông sản theo nhiều trình độ quy mô công nghệ.
Với kiến thức của một sinh viên em chỉ phần nào đề cập đợc một số
khía cạnh của vấn đề. Em mong có sự góp ý của thầy cô nhằm giúp em hiểu
rõ hơn về vấn đề này. Cuối cùng em xin cam kết tất cả những gì em viết trên
đây là những hiểu biết của em.
20
21
Danh mục các tài liệu tham khảo
- Giáo trình triết học Mác-LêNin (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia).
- Tạp trí triết học (2002).
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VI.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII.
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần IX.
- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.
PHN TCH NI DUNG, QUY LUT QUAN H SN XUT
PH HP VI TRèNH PHT TRIN CA LC LNG
SN XUT. NG TA NHN THC V VN DNG QUY
LUT NY NH TH NO TRONG GIAI ON HIN NAY


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status