Tài liệu Tiểu luận triết học "Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta" - Pdf 10

Tiểu luận triết học "Mối quan hệ giữa cái riêng
và cái chung và vận dụng trong quá trình xây
dựng kinh tế thị trường ở nước ta"

1
MỤC LỤC
Ti u lu n tri t h c "M i quan h gi a cái riêng v cái chung v v n d ng trong ể ậ ế ọ ố ệ ữ à à ậ ụ
quá trình xây d ng kinh t th tr ng n c ta"ự ế ị ườ ở ướ 1
1
M C L CỤ Ụ 2
LỜI NÓI ĐẦU
Bước lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai
cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng
thêm kiệt quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì
trệ đó, nước ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong
khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường mà CNTB đã đạt được những
2
thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả
về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế, với
khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Trước tình hình đó, trong
Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển
sang xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kích thích sản xuất,
phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh.
Mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trường đầy gian khó, phức tạp, nền
kinh tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ
sở cân nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.
Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học
cái chung và cái riêng có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về

những sự vật khác. Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một người là cái
đơn nhất. Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng người đó, không lặp lại ở
một người nào khác. Cần phân biệt “cái riêng” với cái “đơn nhất”.
Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng
tỏ giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó. Những đặc điểm chung đó
được triết học khái quát thành khái niệm cái chung.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định ,mà còn được lặp
lại trong nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác, những mối liên hệ
giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng.
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại. Ví dụ như
qui luật cung- cầu, qui luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi
nền kinh tế thị trường bắt buộc phải tuân theo.
4
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệm
khác nhau. Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có
cái chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng.
Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh như P. Abơla (1079-
1142), Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại
riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm
cái chung chỉ là sản phẩm của tư duy của con người. Thấy được và khắc phục
hạn chế của hai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung
và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại
một cách khách quan.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện
sự tồn tại. Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng. Ví dụ qui luật
bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản là một cái chung, không thế thì không
phải là nhà tư bản, nhưng qui luật đó được thể hiện ra ngoài dưới những biểu
hiện của các nhà tư bản (cái riêng).

có thể bị phá vỡ. Chính nhờ có những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà
khoa học mới có khả năng biến nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên
tử của một nguyên tố khác. Nguyên tử, cũng như bất cứ hiện tượng nào khác
trong thế giới khách quan, là sự thống nhất của cái khác nhau và cái giống nhau,
cái đơn nhất và cái phổ biến.
Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cái
đơn nhất và ngược lại. Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường,
khoán sản phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ
sau Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh
tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành như
an ninh quốc phòng
Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính
tương đối. Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất,
nhưng nếu xét ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung. Ví dụ như cây cối là
một đặc điểm chung khi xét tập hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ, bàng…
nhưng nếu xét trong phạm vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất
chỉ các loại cây, mà ngoài ra thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm Xét một ví dụ
khác, qui luật cung- cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường, nhưng trong
toàn bộ các hình thức kinh tế trong lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc
trưng cho kinh tế thị trường mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức
khác như kinh tế tự cung tự cấp chẳng hạn.
6
Trong một số trường hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng định
cái riêng là cái chung. Ví dụ như những câu sau: “hoa hồng là hoa”, “kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN là kinh tế thị trường” Những trường hợp đó
thể hiện mâu thuẫn giữa cái riêng và cái chung. Quan hệ bao trùm của cái riêng
đối với cái chung đã trở thành quan hệ ngang bằng. Tuy nhiên những định nghĩa
như trên chỉ nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi không thuộc sự
vật ấy, chứ không dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật.
Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng,trong những điều kiện

những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoàn thiện nền
kinh tế Việt Nam là tất yếu . Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu một
cách hình thức phải tiếp thu có chọn lọc cho phù hợp với đièu kiện đất nước
.Phải giữ dược nhưng nét đặc trưng riêng tưc là phải bảo tồn cái đơn nhất của
kinh tế Việt Nam từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về
chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường
TBCN.
8
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM TRÊN CƠ SỞ NGUYÊN LÝ VỀ CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
3.1. Chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan:
3.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường:
Trên góc độ vĩ mô, thị trường là một phạm trù kinh tế tồn tại một cách
khách quan cùng với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá, và lưu thông
hàng hoá. ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị
trường. "Khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì quy mô sản
xuất cũng tăng lên, sự phân công sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn" (1). Theo
David Begg, thị trường "là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó
các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định
của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cái quyết định của
người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hòa bằng sự điều
chỉnh giá cả". Ta cũng có thể định nghĩa thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua
bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu.
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao; dư thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ được
mở rộng và coi như hàng hoá thị trường; năng động, luôn luôn đổi
mới mặt hàng, công nghệ và thị trường. Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trường, với những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hoá, mở
rộng thị trường, tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự định giá cả, đa dạng hoá

phép. Khi tổng sản phẩm quốc dân thấp đã dùng hình thức vừa phân phối
bình quân vừa phân phối lại một cách gián tiếp đã làm mất động lực của sự
phát triển.
Việc quản lý kinh tế của nhà nước lại sử dụng các công cụ hành chính,
mệnh lệnh theo kiểu thời chiến không thích hợp với yêu cầu tự do lựa chọn của
người sản xuất và người tiêu dùng đã không kích thích sự sáng tạo của hàng
triệu người lao động.
Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường, CNTB đã đạt được
những thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng
suất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành
quả về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế,
với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Do mắc phải những
sai lầm như trên mà để phát triển kinh tế XHCN ở nước ta không thể chấp nhận
việc tiếp tục kế hoạch hoá tập trung như trước. Với tinh thần tích cực sửa đổi,
10
sau khi đã nhận ra những sai lầm, tại đại hội VI của Đảng đã chủ trương phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh
tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Đến đại hội
VII Đảng ta xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất yếu khách
quan và trên thực tế đang diễn ra việc đó, tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng
trong lý luận cũng như trong thực tế.
Ta đã chính thức chấp nhận kinh tế thị trường một cách cơ bản, cùng
những ưu điểm của nó một cách tổng thể, lâu dài mà không còn đơn thuần phủ
nhận như trước nữa (rằng kinh tế thị trường chỉ là đặc trưng riêng có của CNTB;
nước ta không đi theo CNTB thị cũng không thể áp dụng kinh tế thị trường
trong phát triển kinh tế). Đảng ta còn chỉ rõ rằng nền kinh tế thị trường có sự
phù hợp với thực tế nước ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và với xu thế của
thời đại:

của các đảng cầm quyền.
Như vậy việc chuyển sang kinh tế thị trường là điều kiện không thể thiếu
để phát triển kinh tế. Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu hình thức kinh
tế thị trường từ chế độ TBCN (vốn được đẩy lên giai đoạn phát triển rất cao so
với những thời kỳ trước) mà từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường
mới về chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị
trường TBCN.
3.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:
3.2.1. Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường
thế giới:
Trước hết, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, nên nó tuân theo
mọi quy luật của kinh tế thị trường: quy luật cung- cầu, quy luật giá trị thặng dư,
quy luật lưu thông tiền tệ
Các loại thị trường, các mối quan hệ thị trường được phát triển phong
phú, đa dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao động thành nhiều
ngành nghề. Sự khác biệt về sở hữu tài sản đã được chấp nhận (không còn chỉ
chấp nhận hình thức sở hữu nhà nước, tập thể như trước) và lợi nhuận trở thành
động lực phát triển. Theo đó, đã hình thành một lớp người mới năng động hơn,
bám sát thị trường hơn và "biết làm kinh tế hơn". ở nước ta hiện nay cũng hình
thành và tồn tại cả những khuyết tật của kinh tế thị trường: tâm lý quá coi trọng
đồng tiền, chạy theo lợi nhuận, sự phân cực giàu nghèo quá mức, kinh tế phát
triển mất cân đối…. Kinh tế thị trường nước ta cũng có sự quản lý của nhà nước
12
để khống chế, giảm bớt những khuyết tật đó cùng những tác hại của nó. Nhưng
tuy nhiên, những khuyết tật đó vẫn còn tồn tại âm ỉ trong xã hội và trong suy
nghĩ của một số người.
Nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay cũng tuân theo xu hướng chung phát
triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự
phát triển và hoà nhập quốc tế, tiến tới hoà nhập thành một thị trường chung trên
toàn thế giới. Tương quan giá cả của các loại hàng hoá trong nước cũng ngày

hội, khuyến khích làm giàu gắn với xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân
cực giàu nghèo, gia tăng về mức sống nhưng vẫn giữ gìn được đạo đức, bản sắc
văn hoá dân tộc.
Trong quá trình phát triển, kinh tế nhà nước được chọn lọc, sắp xếp lại, khẳng
định hợp lý phạm vi cần nắm giữ, nắm lấy những mạch máu chủ yếu làm đội
quân chủ lực trong xây dựng và điều tiết kinh tế, làm nòng cốt hướng dẫn cac
thành phần kinh tế khác hoạt động đúng hướng.
Quan hệ phân phối trong kinh tế thị trường TBCN là nhà tư bản nắm giữ phân
lớn sản phẩm.Ta chủ trương phân phối theo lao động, theo vốn trên cơ sỏ
khuyến khích mọi người tự do sản xuất kinh doanh công khai hợp pháp, đồng
thời thực hiện chính sách công bằng xã hội. Ta chủ trương chống bóc lột, bất
công, chăm lo sự nghiệp y tế, giáo dục, đấu tranh cho một nền đạo đức mới, một
lối sống lành mạnh. Chỉ có kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội mới thể
hiện được bản chất của chế độ mới. Tuy nhiên, để có động lực cho sự phát triển
phải khuyến khích tích tụ, tích luỹ, sáng kiến cá nhân, chấp nhận phân hoá do
lao động sáng tạo (nhưng kiên quyết xoá bỏ phân hoá do bất công).
Xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu,
trong đó nông nghiệp chiếm vai trò chủ chốt (chiếm 75% dân số) nhưng lại tồn
tại phương thức sản xuất với trình độ thấp "con trâu đi trước cái cày theo sau".
Ngoài ra, nước ta mới chỉ bước vào xây dựng kinh tế thị trường trong vài năm
gần đây nên chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý. Kết quả là hiện nay, trình độ
phát triển kinh tế nước ta còn thấp, mang tính tự túc là chủ yếu, cơ sở vật chất
yếu kém, thu nhập thấp 400 USD/ người, trình độ quản lý kinh tế còn non yếu,
khả năng cạnh tranh kém. Do vậy mà ta cần có thời gian làm quen, học hỏi kinh
nghiệm của nước ngoài trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quản lý và phát triển
kinh tế.
Không chỉ có xuất phát điểm thấp mà còn phải trải qua hai cuộc chiến tranh
khốc liệt, kéo dài. Do hai cuộc chiến tranh đó mà cơ sở hạ tầng vốn đã thấp lại
còn bị tàn phá nặng nề. Ta không đủ khả năng về vốn, kỹ thuật để có thể bước
14

Xét về lĩnh vực con người, người Việt nam hiện nay đã thể hiện sự năng
động, tinh tế, nhạy cảm( đặc biệt là với thị trường) hơn hẳn so với những năm
tám mươi.
15
Xét về lĩnh vực kinh tế, nhờ chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường theo
một đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng( con người, tự
nhiên, xã hội, điều kiện lịch sử ) củaViệt nam mà nền kinh tế cũng như đời
sống của người dân được cải thiện đáng kể:
• So với năm 1993, tổng sản phẩm trong nước năm 1994 tăng 8,5%, trong
đó sản xuất công nghiệp tăng 13%, sản xuất nông nghiệp tăng 4%, kim
ngạch xuất khẩu tăng 20,8%; lạm phát được kiềm chế. Bước đầu thu hút
được vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 10 tỷ USD. Nền kinh tế đã
bắt đầu có tích luỹ nội bộ. Xuất khẩu và nhập khẩu đã lấy lại thế cân bằng,
dần dần biết phát huy và tận dụng được lợi thế so sánh trong quan hệ kinh
tế quốc tế.
• Sản xuất nông nghiệp phát triển từ chỗ thiếu lương thực triền miên đến nay
ta đã đứng thứ hai trong số những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
• Theo số liệu thu thập được, ước tính chỉ số GNP của Việt nam đã tăng
đáng kể sau vài năm đổi mới:
Chỉ tiêu 1971 1983 1986 1996
Thu nhập quốc dân (tỷ đô la) 4,97 5,14 5,78 12,46
Trên đầu người 101 94 101 175
Những ước tính GNP của Việt nam trước và sau đổi mới
( Nhà xuất bản thống kê 1996)
Công tác xã hội cũng đang ngày càng được coi trọng. Ta đã và đang kiểm
soát được phần nào những khuyết tật xã hội do kinh tế thị trường mang lại, bù
đắp những mất mát cho các gia đình cách mạng, thực hiện một số phúc lợi xã
hội, tiến hành xây dựng chế độ XHCN trên phương diện xã hội
3.2.4. Một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế thị trường Việt Nam
những năm tới từ góc độ những đặc điểm riêng củaViệt Nam

xứng với tiềm năng của mình, tích cực thu ngoại tệ từ ngành du lịch để phát
triển chính bản thân ngành cùng nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế.
Người Việt nam được đánh giá là khéo léo. Ta có nhiều làng nghề thủ công
mỹ nghệ nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ chẳng hạn. Nhiều nước tỏ ra ưa
chuộng hàng thủ công của ta, muốn đặt hàng cùng ta nhưng do hàng rào thuế
quan, phong cách quản lý gây khó khăn, cùng với việc "ngại" áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất truyền thống, khiến cho lượng hàng sản xuất ra ít, không
đủ trang trải cho những lệ phí phải chịu do thuế quan nên ta đã mất nhiều hợp
đồng. Để đẩy mạnh sự phát triển của các làng nghề thủ công như Đảng ta đã dự
kiến đòi hỏi một sự đổi mới toàn diện trong cách làm việc của những thợ giỏi,
tăng hàm lượng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, không chỉ đơn thuần làm bằng
17
tay như trước; đồng thời phải làm giảm sự rối rắm trong hàng rào thuế quan, gây
cản trở cho sự đầu tư của nước ngoài vào Việ nam.
Nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần kinh tế, về
hình thức phân phối nhưng trong đó kinh tế quốc doanh vẫn phải giữ vai trò chủ
đạo và là nhân tố đảm bảo cho sự định hướng XHCN nền kinh tế thị trường. Do
đó muốn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN thực sự thì phải nâng
cao hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước. Ta vẫn còn chịu ảnh
hưởng của cơ chế bao cấp ở tính chất thiếu năng động, ỷ lại vào nhà nước,
không quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh doanh của đơn vị. Điều này đang dần
dẫn tới việc các doanh nghiệp nhà nước trở thành gánh nặng cho nền kinh tế,
không thể giữ vai trò chủ đạo như trước. Theo thống kê, hàng năm tuy 75% số
vốn đầu tư cho phát triển kinh tế nhà nước, và chỉ có 25% dành cho các doanh
nghiệp tư nhân nhưng hiệu quả kinh tế mang lại của hai thành phần kinh tế này
chỉ chênh lệch rất nhỏ so với tỷ lệ vốn đầu tư. Trong những điều kiện mới, ta
buộc phải đặt ra vấn đề nâng cao năng suất làm việc của doanh nghiệp nhà nước,
khiến cho các cơ quan nhà nước phải trở nên năng động hơn, bám sát với những
biến động của thị trường hơn và quan tâm đến hiệu quả sản xuất hơn thì mới có
thể tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, định hướng như trước.

phát triển.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Mai Ngọc Cường Lý thuyết hiện đại về kinh tế thị trường
Nguyễn Sinh Cúc Kinh tế thị trường định hướng XHCN NXBTK
Phạm Việt Đài Mặt trái của cơ chế thị trường
Giáo trình triết học Mác- Lênin NXBCTQG
Lê Trần Hảo Thống kê thương mại trong nền kinh tế thị trường NXBTK
Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội
V. I. Lênin Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường
Đặng Kim Nhung Chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị
trường và vận dụng vào Việt nam
Những vấn đề: Tổ chức và điều tiết thị trường.
Một số kinh nghiệm nước ngoài
Tạp chí cộng sản số 9/ 1998
Tạp chí kinh tế và phát triển số 13/ 1996
Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 4/ 1996
Tạp chí phát triển kinh tế số 68/ 1996
Tạp chí thương mại số 5/ 1996
Đỗ Đức Thịnh Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang
phát triển ở châu Á
Tính chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong
nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay
Phan Quang Tuệ Một số học thuyết kinh tế tiền tệ của các nhà kinh
tế thị trường
Vũ Huy Từ Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ở
Việt nam
20
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status