vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới - Pdf 10

Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
MỤC LỤC
A – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 4
B – NỘI DUNG CHÍNH 6
I. Cơ sở của việc nghiên cứu 6
1. Cơ sở lý luận 6
1.1. Bản chất con người 6
1.2. Nguồn lực con người 11
2. Cơ sở thực tế 14
II. Thực trạng các vấn đề nghiên cứu 14
1. Truyền thống con người Việt Nam 14
1.1. Tích cực 15
1.2. Hạn chế 16
1.3. Nguyên nhân của thực trạng 17
2. Nhân cách con người Việt Nam 18
2.1. Tích cực 18
2.2. Hạn chế 19
2.3. Nguyên nhân của thực trạng 20
3. Nguồn lực con người 20
3.1. Tích cực 21
3.2. Hạn chế 22
3.3. Nguyên nhân của thực trạng 23
III. Những giải pháp để phát huy nguồn lực con người 24
1. Trên lĩnh vực kinh tế 24
2. Trên lĩnh vực chính trị 25
3. Trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng 26
C – KẾT LUẬN 27
D – TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
3
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới

huy được vai trò của mình với tư cách là người chủ xã hội. Việt Nam là một nước
kém phát triển, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phát huy có hiệu
quả nguồn lực con người của đất nước. Nghiên cứu về vấn đề con người có rất
nhiều mặt, trong giới hạn bài viết này xin được nghiên cứu con người và nguồn lực
con người trên các phương diện:
- Truyền thống con người Việt Nam hiện nay
- Nhân cách con người Việt Nam hiện nay
- Nguồn lực con người
Trên cơ sở nghiên cứu ba vấn đề trên ta thấy được vai trò của con người và
nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
5
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
B – NỘI DUNG CHÍNH
I. Cơ sở của việc nghiên cứu
1. Cơ sở lí luận
1.1. Bản chất con người
Những vấn đề triết học về con người là một nôi dung lớn trong lịch sử triết
học nhân loại. Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề
này hay vấn đề kia. Đồng thời, tùy theo giác ngộ tiếp cận khác nhau mà các trường
phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác
nhau trong việc lí giải về con người. Mặt khác, trong khi giải quyết những vấn đề
trên, mỗi nhà triết học, trường phái triết học có thể lại đứng trên lập trường thế giới
quan, phương pháp luận khác nhau: duy vật hoặc duy tâm, biện chứng hoặc siêu
hình, …
- Triết học phương Đông tiêu biểu là nền triết học Trung Hoa cổ đại, vấn
đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn đề này,
các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn
chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tính con người là thiện (Nho
gia) và bản tính con người là bất thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng Đạo gia, ngay

một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lí giải các vấn đề triết
học về con người. Do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu
tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lí giải nhân
sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người.
Kế thừa những quan điểm trước đó và khi phê phán quan điểm của Phoiơbắc, Mác
đã khái quát bản chất con người qua câu nói : “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo
vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hòa các quan hệ xã hội ”. Mác đã đưa ra một quan niệm hoàn chỉnh về khái
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
7
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
niệm con người, bản chất con người, ông chỉ rõ hai mặt của con người là mặt sinh
học và mặt xã hội đặt trong mối quan hệ giữa chúng.
a) Bản chất sinh học của con người
Mác xem xét con người với tư cách là cá nhân sống, Mác viết: “vì vậy điều
cụ thể đầu tiên phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy và mối quan
hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ và phần còn lại của giới tự nhiên”. Trước
hết, Mác thừa nhận con người là một động vật cao cấp nhất. Cũng như mọi động
vật khác, con người là bộ phận của tự nhiên hay nói cách khác, giới tự nhiên là
thân thể vô cơ của con người nên con người chịu sự chi phối của các quy luật
khách quan. Trong đó có những quy luật sinh học (đồng hóa – dị hóa, biến dị - di
truyền, tương quan giữa cơ thể và môi trường…). Và cùng điều kiện khách quan đã
tạo nên những nhu cầu sinh học của con người như ăn, ngủ, giao tiếp, nhận thức,
duy trì nòi giống … Để thích nghi và tồn tại được, cũng như bao loài vật khác con
người cũng phải đấu tranh sinh tồn. Từ đó đã định ra phương hướng và mục đích
hoạt động của con người nhằm phục vụ lợi ích cho mình. Tuy nhiên, Mác không
thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính
sinh học và bản năng sinh vật của con người. Con người có đầy đủ các đặc trưng
của sinh vật tuy nhiên cũng lại có nhiều điểm phân biết với các sinh vật khác.

trong hoạt động sản xuất vật chất. Trong hoạt động sản xuất vật chất con người
không thể tách khỏi xã hội. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản
xuất ra của cải vật chất và tinh thần để phục vụ cho đời sống của mình, đồng thời
hình thành và phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là cái vỏ vật chất của tư duy và
tư duy cũng chính là điểm phân biệt con người và các loài động vật khác. Tư duy
của con người phát triển trong hoạt động và giao tiếp xã hội mà trước hết là hoạt
động sản xuất. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
9
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
của con người, đồng thời hình thành nên nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã
hội.
- Con người là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội
C. Mác đã nêu luận đề của mình trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc:
“Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội ”.
Luận đề trên đã khẳng định: không có con người trừu tượng thoát li mọi điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong
một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch
sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người đã tạo ra những giá trị vật chất
và tinh thần để tồn tại và phát triển cả về thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong mối
quan hệ đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại, quan hệ chính trị, kinh tế, quan
hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ bản chất xã hội của mình. Từ
đó, con người có các nhu cầu xã hội được đáp ứng trên nền tảng đáp ứng nhu cầu
sinh học của con người.
Kết luận: Mặt thứ hai của bản chất con người đó là tổng hòa của những quan
hệ xã hội, giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu sai lệch về
mặt tự nhiên - cái sinh vật ở con người.
c) Con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội

- Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự biến đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó là do cá nhân thực hiện.
- Chủ nghĩa duy tâm cho rằng lịch sử nhân loại là lịch sử của các bậc vua
chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc. Còn quần chúng nhân dân chỉ là lực lượng
tiêu cực, là “phương tiện” mà các vĩ nhân cần đến để đạt mục đích của mình.
- Những nhà tư tưởng đề cao vai trò của quần chúng nhân dân nhưng
không nhận thức được một cách khoa học vai trò đó. Có người đề cao vai trò của
quần chúng nhân dân nhưng lại phủ nhận hoàn toàn vai trò của cá nhân đặc biệt.
- Chủ nghĩa duy vật trước Mác tuy không tin vào Thượng Đế, thần linh
nhưng lại cho rằng: nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo
đức, là các vĩ nhân sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu.
- Còn chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử và xác định đúng đắn mối quan hệ giữa vai trò
cá nhân điển hình là lãnh tụ với quần chúng nhân dân trong lịch sử phát triển cảu xã
hội.
Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, được thể hiện
ở các mặt:
- Quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp
sản xuất ra của của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và sự phát triển của của xã
hội.
Con người muốn tồn tại thì phải có những điều kiện vật chất hết sức cần thiết
đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở… mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng thông qua
sản xuất. Lực lượng sản xuất cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
12
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
gồm lao động chân tay và lao động trí óc. Thực tiễn sản xuất là cơ sở và động lực
của sự phát triển khoa học kĩ thuật và khoa học kĩ thuật làm tăng năng suất lao
động của quần chúng nhân dân lao động. Điều đó khẳng định rằng, hoạt động sản
xuất của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản đề quyết định sự tồn tại và phát

Mác- Lênin luôn coi sùng bái cá nhân là hiện tượng hoàn toàn xa lạ với hệ tư tưởng
của giai cấp vô sản.
2. Cơ sở thực tế
Nước ta đang tiến hành quá trình xây dựng nền kinh tế mới kinh tế thị trường
có sự quản lí, điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền
kinh tế ấy thì vấn đề con người càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Con người là mục tiêu đồng thời cũng là động lực của sự phát triển kinh tế-
xã hội. Là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, con người đã thỏa mãn nhu cầu của mình
bằng cách góp phần đưa xã hội đi lên. Tiềm năng phong phú đa dạng của xã hội
loài người, là nguồn tài nguyên vô tận, quý báu nhấtvà ngày càng phát triển cùng
với sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Trong nền kinh tế thị trường thì động
lực con người càng thể hiện rõ hơn trong nền sản xuất hàng hóa-nền sản xuất có sự
ứng dụng rộng rãi của các tiến bộ khoa học - kỹ thuật.
Sau chiến tranh, với nền kinh tế bao cấp, nước ta đã rơi vào tình trạng trì trệ
kém phát triển. Từ thực trạng đó, tại Đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn
lại chặng đường đã qua và đã có những bước đi mới đó là chuyển đổi cơ cấu kinh
tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Với sự thay đổi đó thì vấn đề
con người được quan tâm chú trọng nhiều hơn và có nhiều cơ hội để phát huy vai
trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
II. Thực trạng các vấn đề nghiên cứu
1. Truyền thống con người Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
14
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
Giá trị đạo đức truyền thống là tiền đề cơ bản để tạo dựng nên đạo đức lành
mạnh của xã hội, góp phần giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc phát huy
mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt trái của thị trường.
1.1. Mặt tích cực
Tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống của con người Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.

truyền thống cũng được thay đổi theo hướng đó, dần làm mất đi bản sắc dân tộc.
Hiện tượng suy thoái về đạo đức do ham muốn làm giàu bằng mọi giá đã dẫn
tới một số người đến với những hành vi vi phạm lợi ích của cộng đồng như tham
nhũng, làm ăn bất lương (buôn lậu, làm hàng giả…) và sa vào các tệ nạn xã hội
khác (trộm cướp, cờ bạc…) làm thiệt hại lớn cho nhà nước. Những tệ nạn xã hội
trước đây chỉ diễn ra tự phát với quy mô nhỏ thì nay có nguy cơ lan rộng và mang
tính tội phạm có tổ chức cao với hình thức tinh vi hơn và quy mô không chỉ giới
hạn ở một quốc gia mà là xuyên quốc gia.
Bên cạnh đó, các di sản văn hóa dân tộc cũng không được quan tâm đúng
mức. Theo số liệu thống kê những năm gần đây cho thấy: Số người thăm viếng các
công trình văn hóa, di tích lịch sử của quê hương đất nước chiếm tỉ lệ rất nhỏ
(khoảng dưới 10%) và đối với các loại hình nghệ thuật truyền thống, số người ham
thích cũng ở mức hạn chế (chèo khoảng 18,59%, tuồng khoảng 6,8% ). Xã hội
phát triển đi liền với nó là những quan niệm về đạo đức mới cũng ngày càng phát
triển, con người mới nhìn xã hội theo cách riêng của họ mà đôi khi xem nhẹ giá trị
truyền thống.
Nền giáo dục của nước ta hiện nay đang phát triển mạnh. Việc tiến hành phổ
cập tiểu học đã giải quyết được hơn 90% nạn mù chữ ở nước ta. Bên cạnh những
thành tựu mà ta đã đạt được về mặt giáo dục nhưng vẫn còn có những chính sách
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
16
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
giáo dục còn chưa thực sự đúng đắn. Chúng ta coi trọng về mặt tự nhiên nhiều hơn
về mặt xã hội, nên sự hiểu biết về mặt dân tộc, về các giá trị truyền thống khác của
dân tộc của học sinh, sinh viên còn rất hạn hẹp. Một tình trạng khá phổ biến ở đây
là có rất nhiều học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường loại khá giỏi nhưng vấn đề
truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc lại không biết một chút gì. Điển hình, trong kì
thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2006, có một số lượng không nhỏ thí sinh bị
điểm 0 đối với các môn lịch sử, địa lý, có khá nhiều những bài văn được đánh giá
là “văn lạ”.

lớn chiến thắng hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngày
nay nó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhân cách làm cho con người xác định đúng đắn về lẽ sống, lối sống, nếp
sống nghĩa là biết sống lương thiện, tử tế, có trách nhiệm với chính bản thân mình
và xã hội. Khi đời sống vật chất và các yêu cầu về ăn mặc được nâng cao thì con
người lại nâng cao trình độ học vấn của mình để tăng thêm sự hiểu biết. Con người
bây giờ nhìn nhận một vấn đề cũng khá đầy đủ các tri thức cần thiết, đồng thời hình
thành nên một kiểu nhân cách mới, không phủ nhận quá khứ dân tộc mà nhìn cuộc
sống hiện nay với con mắt riêng của thế hệ mình. Bác Hồ đã viết: “Nước độc lập
mà dân không được hạnh phúc thì độc lập ấy có ý nghĩa gì?”. Vì thế, thế hệ trẻ
hiện nay đang tiếp bước cha ông ta, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra,
họ còn hăng hái học tập, thi đua, tham gia vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa để phát triển kinh tế đất nước. Sự hình thành nhân cách là hiên tượng tất nhiên,
hợp với quy luật của lịch sử. Chính nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy việc hình
thành nhân cách, đòi hỏi con người phải năng động sáng tạo hơn, tự mình phải làm
chủ được mình, tự quyết định vận mệnh của mình, từ đó góp phần quyết định vận
mệnh của đất nước.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
18
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
2.2. Hạn chế
Bên cạnh những mặt tích cực trong nhân cách con người Việt Nam hiện nay
song vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế. Đó là :
Xu thế của con người Việt Nam hiện nay là động cơ vật chất lấn át nhu cầu
đạo đức và chính trị. Con người ngày nay không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của mình. Vì lòng tham, nhiều người đã đi quá giới hạn cho phép. Vì
địa vị xã hội, vì sự giàu có, đôi khi họ đã đi “đường tắt” mà không tự nâng cao
trình độ của mình. Mối quan hệ giữa người với người bị chi phối bởi đồng tiền và
lợi ích vật chất, làm cho mối quan hệ gia đình, bạn bè … được giải quyết bằng tiền
bạc hay các giá trị vật chất khác. Lối sống thực dụng vừa là nguyên nhân vừa là hậu

hóa, lối sống thực thực dụng, đồi trụy từ bên ngoài xâm nhập vào nước ta qua nhiều
con đường khác nhau là ô nhiễm đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội mà đối
tượng được chú ý ở đây là tầng lớp thanh thiếu niên.
Chạy theo lợi nhuận của cơ chế thị trường, con người đã đánh mất đi chính
mình. Lối sống tiêu dùng đã tạo nên một môi trường xã hội luôn kích thích con
người sống hưởng thụ dẫn đến những tệ nạn xã hội nảy sinh như cờ bạc, nghiện
hút, mại dâm … hay một số người muốn hưởng thụ nhưng vượt quá khả năng của
mình thì con đường ngắn nhất là vi phạm pháp luật.
Đây là những nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa biến chất của một số người
trong xã hội, làm mất đi nhân cách của chính họ trong đời sống hiện nay.
3. Nguồn lực con người
Nguồn lực con người là tổng thể các yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo
đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội … tạo nên năng lực của con người,
của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
20
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
hội của đất nước. Để nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại, Đảng ta đã “lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho việc
phát triển nhanh và bền vững”, còn việc “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công
nghiệp hóa - hiện đại hóa” (Văn kiện Đại hội Đảng VIII). Do vậy, khai thác và sử
dụng nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
3.1. Mặt tích cực
Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, số người ở độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ
cao trong xã hội. Con người được coi là nguồn lực cơ bản để tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội. Trong khi các tài nguyên khoáng sản khác trong tự nhiên
đang bị cạn kiệt dần thì trong xã hội loài người lại có một nguồn tài nguyên vô tận,
vô giá, quý báu nhất và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của nền văn

của sự vật, khi ý chí nghị lực của quần chúng được kết hợp chặt chẽ với sự hiểu
biết của các quy luật phát triển khách quan.
3.2. Hạn chế
Hạn chế trong việc phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam, trước hết
chúng ta đề quá cao mặt xã hội, xem nhẹ mặt tự nhiên, không quan tâm đúng mức
nhu cầu vật chất, chưa thực sự chú ý đến lợi ích cá nhân người lao động, vai trò cá
nhân bị lu mờ, tài năng cá nhân không được khuyến khích, tính cách riêng của cá
nhân không được thừa nhận.
Có lúc ta coi nhẹ tính nhân loại mà đề cao tính giai cấp, chưa làm theo đúng
tính quy luật của chủ nghĩa Mac-Lênin đã đề ra: “Chủ nghĩa xã hội là sự tiếp nối
quá trình phát triển của nhân loại, phải biết tiếp thu những di sản của quá khứ một
cách chọn lọc, nâng nó lên tầm cao mới” dẫn đến sự thiếu hiểu biết về truyền
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
22
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
thống văn hóa dân tộc gây khó khăn cho quá trình hội nhập quốc tế của nước ta
hiện nay.
Tình trạng quan liêu trong bộ máy nhà nước, một bộ phận cán bộ tham
nhũng cửa quyền, vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân đang làm biến dạng
nhân cách con người, không ít kẻ lợi dụng chui vào tổ chức Đảng, cơ quan Nhà
nước gây ra những tác động xấu đang làm xói mòn lòng tin của quần chúng đối với
Đảng và Nhà nước ta.
Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, ở vùng sâu vùng xa, đại bộ phận
người lao động bị thất nghiệp ở thành thị gây ra sự lãng phí lớn về nguồn lực con
người ở nước ta hiện nay. Trong khi đó sinh viên ra trường đa số không muốn trở
về quê mà lại ở thành phố,làm cho sự phận bố lao động giữa thành thị và nông thôn
chưa hợp lý.
Năng lực lao động ở nước ta còn hạn chế so với các nước trong khu vực.
Tình trạng thiếu lao động trí thức là phổ biến,nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc tuyển dụng lao động, mặc dù hàng năm có hàng nghìn sinh viên ra

tế,một mặt cũng tạo tác động tích cực, mặt khác nó cũng tạo ra các mặt tiêu cực
như lối sống thực dụng,vì chức vì quyền không ít người bất chấp đạo lý. Nó đã gây
ra ảnh hưởng xấu trong xã hội. Đây chính là những nguyên nhân hạn chế nguồn lực
con người đòi hỏi nhà nước ta phải có những biện pháp, chính sách để phát huy
được tối đa nguồn lực con người hiện nay.
III. Những giải pháp để phát huy nguồn lực con người
1. Trong lĩnh vực kinh tế
Phải nâng cao vị thế của người lao động trong quá trình sản xuất. Cần nhanh
tróng khắc phục tình trạng tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất, ở mọi thành
phần kinh tế.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
24
Vấn đề con người - nguồn lực con người trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới
Phải phát huy những thành tựu đã đạt được,nâng cao chất lượng, số lượng
đội ngũ trí thức phục vụ cho CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA, mở rộng
quy mô đào tạo đại học và sau đại học, trong mọi lĩnh vực nhất là quản lý kinh
doanh để họ trở thành đội ngũ hùng mạnh đủ trình độ để làm chủ công nghệ tiến tới
khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Nhà nước cần có chính sách bố trí sử dụng trí thức miền núi cho phù hợp
tăng số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức thuộc dân tộc thiểu số. Cần giả quyết
tốt việc đào tạo tại chỗ theo phương thức cử tuyển điều chỉnh chế độ học bổng để
tạo điều kiện tốt hơn cho học tập.
Cần tăng số lượng đào tạo trí thức ở nước ngoài tăng cường giao lưu kỹ thuật
khoa học, đưa trí thức đi học ở một số nước có trình độ khoa học công nghệ, phát
triển cao nhất là ở những ngành mũi nhọn. Bên cạnh đó căn cứ vào yêu cầu phát
triển của các ngành, các vùng lãnh thổ tổ chức bố trí lại lực lượng lao động một
cách hợp lý trên phạm vi cả nước theo hướng đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn.
2. Trong lĩnh vực chính trị
Nâng cao trình độ cán bộ,giảng viên và nhân dân về nhận thức chính trị (chủ

sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nói riêng là một vấn đề rộng lớn, trong
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ IX của Đảng đã chỉ ra: xây dựng con
người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự lực tự
cường dân tộc,trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác
phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hóa,
quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Phát huy được nguồn lực con
người phục vụ vào công cuộc xây dựng nền kinh tế mới có ý nghĩa quan trọng. Nó
góp phần đưa đât nước phát triển giàu mạnh hơn, thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc
hậu để có vị thế trên thị trường quốc tế.
Muốn vậy, chúng ta cần phải không ngừng tăng cường phát huy sức mạnh
vốn có của ta,tạo ra môi trường thuận lợi nhất để cho đội ngũ tri thức trẻ học tậo và
ứng dụng. Nói chung, trong xây dựng nền kinh tế mới thì con người là nhân tố
quyết định và chi phối sự phát triển của đất nước.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
27


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status