TIỂU LUẬN: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nguồn nhân lực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở việt nam trong thời kỳ quá độ pot - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất
với chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nguồn
nhân lực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở việt nam trong thời kỳ quá độ
Lời mở đầu

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi con
người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực ; tu dưỡng rèn luyện phẩm
chất đạo đức, ý thức lao động tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu của sự biến
đổi khoa học công nghệ hết sức nhanh chóng.
Trong sự nghiệp đổi mới CNH, HĐH đất nước với những mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay, con người và
nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta. Đó là yếu tố hết sức bức thiết và
cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn nhân lực xét
trong nước ta nói riêng và quốc tế nói chung. Chúng ta khẳng định con người vừa

vượn người đã biết sử dụng gậy gộc, đá, xương động vật làm công cụ và bắt đàu
biết chế tạo công cụ lao động thô sơ cũng như dùng lửa. Nhưng cuộc sống của loài
vượn vẫn theo quy luật sinh vật : sống hoà lẫn vào thiên nhiên, sinh sống hoàn
toàn tuỳ theo bản năng vốn có trong cơ thể và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có
thể nói là hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên.Theo thời gian vượn người tiến hoá
thành người khéo, người đứng thẳng, người khôn và con người hiện đại ngày nay.
Nhưng sự tiến hoá ấy không làm thay đổi mối quan hệ mật thiết giữa con người
với tự nhiên. Ngày nay, con người vẫn đang chinh phục tự nhiên bằng nhiều hình
thức và phương pháp khác nhau. Như vậy, ngay từ thời kỳ sơ khai nhất, con người
đã biết dựa vào những thứ vốn có trong tự nhiên để cải biến nó theo nhu cầu sinh
tồn và phục vụ nhu cầu sống của mình. Do đó ta thấy rõ một sự thật tất yếu khách
quan là con người không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ mật thiết, gắn kết
chặt chẽ với tự nhiên.

Đồng thời nó cũng thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người cụ
thể hơn là biểu hiện mức độ, khả năng chinh phục tự nhiên của con người.
Trong thời nguyên thuỷ con người chỉ mới sử dụng những công cụ hết sức
thô sơ, hầu hết là những công cụ thủ công vào quá trình lao động sản xuất. Do đó
năng suất lao động thấp kém, con người chưa tạo ra nhiều của cải dư thừa có khả
năng trao đổi với nhau phục vụ nhu cầu sống hết sức sinh động, phong phú của
mình. Điều đó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên vẫn còn non thấp kém. Cho
đến khi chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, con người đã dần
sáng tạo ra các công cụ lao động tiến bộ hơn song về bản chất nó vẫn mang tính
thủ công. Do vậy, mặc dù sản phẩm lao động làm ra ngày một phong phú hơn
song trong quá trình lao động sản xuất vẫn còn dựa vào sức người - mặt thể lực là
chính, cần nhiều thời gian và quan trọng hơn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày
càng đa dạng của con người. Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, con người đã tạo ra
hàng loạt những máy móc hết sức hiện đại để phục vụ vào quá trình lao động sản
xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên, cải biến nó thành những vật dụng và sản
phẩm có giá trị, chất lượng cao, phong phú về hình thức, đa dạng về chủng loại,

Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người
sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất. Thông
qua các công cụ của họ đã chứng tỏ họ có hoạt động lao động và đây cũng chính là
ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung, thế giới động vật nói riêng.
c. Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại.
Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự
phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản
xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân
trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành
LLSX trực tiếp.

Những phát minh khoa học trở thành thang điểm xuất phát ra đời những
ngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới nguyên vật liệu
mới, năng lượng mới. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, cụ
thể là vào người lao động và tư liệu sản xuất, trở thành một yếu tố không thể thiếu
được trong sản xuất đã làm cho LLSX có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại.
Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn
là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học. Như vậy, dù không
phải là yếu tố thứ ba của LLSX nhưng có thể nói khoa học và công nghệ hiện đại
là đặc trưng cho LLSX hiện đại.
2. Vai trò của con người trong LLSX.
a. Khái niệm con người.
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ
đại đến hiện đại. Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người và
bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy
vật biên chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn đề
khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay.
Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt
xã hội.

Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa
con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cùng đều
mang tính xã hội. Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với con người là quan
hệ bản chất nhất bao trùm lên các mối quan hệ khác. Thực tế lịch sử đã chứng
minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân
cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để SXVC mà phải liên

kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau. Từ đó hình
thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động, hành vi của con người.
Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của
mình. Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của
mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Không có giới tự nhiên,
không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản
phẩm của lịch sử. Song điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch
sử - xã hội.
Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sử
trong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh và điều
kiện sẵn có do quá khứ để lại. Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ hai chiều
giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người. Thông qua
môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiện các quan hệ
xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật.
b. Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX.
Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân là người lao động”. Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội. nhân tố con người vừa là phương
tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện
ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọi tài
sản vô giá ấy. Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong
LLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình sản xuất. Nhân tố trung tâm

xuất ra của cải vật chất.
II.Chiến lược phát triển GD ĐT nguồn nhân lực theo hướng CNH, HĐH ở Việt
Nam trong thời kì quá độ.

1. Tính tất yếu khách quan và nội dung CNH, HĐH của Việt Nam trong thời
kí quá độ.
a. Tính tất yếu khách quan nước ta phải CNH, HĐH.
Mỗi phương thức sản xuất đều ra đời và tồn tại trên một cơ sở VCKT tương
ứng với nó. Cơ sở VCKT của CNXH là một nền công nghiệp lớn hiện đại, trước
hết là công nghiệp nặng có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại cho công nghiệp
và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, nhằm không ngừng phát triển nền
sản xuất lớn xá hội chủ nghĩa và cải thiện đời sống nhân dân.
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện hoạt động kinh tế,
dịch vụ và quản lý từ trạng thái sử dụng sức lao động là chính sang trạng thái sử
dụng sức lao động kết hợp với kỹ thuật công nghệ hiện đại tạo ra năng suất lao
động ngày càng cao.
CNH, HĐH là một tính quy luật để xây dựng cơ sở VCKT cho CNXH. Cơ
sở VCKT của một phương thức sản xuất là toàn bộ những tư liệu vật chất trong đó
chủ yếu là công cụ sản xuất mà lao động trong xã hội sử dụng. Cơ sở VCKT của
phương thức sản xuất trước tư bản là hết sức lạc hậu, chủ yếu là công cụ lao động
thủ công. Trong chủ nghĩa tư bản nền đại công nghiệp cơ khí hoá đã tạo cái cốt
cho chủ nghĩa tư bản tồn tại. Nó tự khẳng định mình là một phương thức sản xuất
thống trị trong lịch sử. Việt Nam quá độ lên CHXH bỏ qua giai đoạn tư bản thiếu
một tiền đề VCKT mà chủ nghĩa tư bản để lại. Mặt khác Việt Nam là một nước có
nền kinh tế kém phát triển, chưa có nền sản xuất lớn dựa trên nền tảng công
nghiệp lớn. Do đó để xây dựng CNXH tất yếu nước ta phải CNH, HĐH.
Gắn CNH với HĐH làm cho kinh tế nước ta dần đạt tới trình độ tiên tiến
của thế giới. Thời đại ngày nay cách mạng khoa học công nghệ là một đặc trưng,
khoa học công nghệ trở thành LLSX trực tiếp, nó vừa là nền tảng vừa là động lực
của quá trình CNH. Đồng thời gắn CNH với HĐH sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu

được nguy cơ tụt hậu kinh tế cũng như thúc đẩy nền sản xuất hướng về xuất khẩu
ra thị trường quốc tế.
Ngoài ra, ta phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế là tổng
thể các ngành, vùng kinh tế trong đó cơ cấu kinh tế ngành là quan trọng được cân
đối về quy mô, về tỉ trọng, phù hợp điều kiện của tự nhiên và xu hướng phân công
hợp tác lao động quốc tế. Trước hết, nó phải phù hợp với các quy luật khách quan
và xu thế phát triển của khoa học công nghệ đồng thời phát huy được lợi thế so
sánh trong nước. Để xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý phải chuyển dịch cơ cấu
gắn liền với phân công lại lao động xã hội theo một tính quy luật. Trong đó tỉ
trọng lao động trong ngành công nghiệp gia tăng, nông nghiệp giảm còn dịch vụ
tăng lên. Tuy nhiên phải luôn luôn đảm bảo tỉ trọng hợp lý giữa chúng một cách
tương đối so với nhau. Mặt khác tỉ trọng lao động giản đơn, lao động cơ bắp giảm
còn lao động phức tạp tăng lên.
2. Chiến lược phát triển GD ĐT nguồn nhân lực nước ta.
a. Vai trò và thực trạng nguồn nhân lực nước ta.
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực
khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định
nhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực
con người được phát huy. Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại
nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú.
Các lĩnh vực khoc học khác nhau có thể hiểu nguồn lực theo những cách
khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân
tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau tạo nên sự phát triển
của một sự vật, hiện tượng nào đó. Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là
những yếu tố có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy nền kinh tế đất nước và sự
phát triển xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là nói tới con người
với tư cách là chủ thể của quá trình sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến
đổi xã hội.

Tỷ trọng (%) các khối kinh tế trong GDP

doanh, nhà quản lý. Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi
năng lực phát huy, mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ đất nước. ”
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ mục tiêu của chiến lược
phát triển kinh tế -xã hội 10 năm (2001-2010 ) là : “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân,
tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế quốc phòng an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao”.
Để thực hiện mục tiêu đó trong 10 năm tới cần :
Phát triển giáo dục mần non. Củng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ và
phổ cập giáo dục tiểu học tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước phần
lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn đang được học
hết trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và được đào tạo nghề. Điều
chỉnh cơ cấu bậc học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng, cơ cấu dân tộc…trong hệ
thống GDĐT phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân và phát triển kinh tế xã
hội và các mục tiêu của chiến lược. Chú trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực
trong trường phổ thông. Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật viên và nhân viên
nghiệp vụ theo nhiều trình độ. Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học
sau đại học tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia
ngang tầm khu vực tiến tới đạt trình độ quốc tế. Phát triển giáo dục thường cuyên
và giáo dục từ xa.

Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ
chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu mới của sự
nghiệp páht triển giáo dục trong thế kỷ XXI.
c. Mục tiêu và phương hướng phát triển GDĐT nguồn nhân lực nước ta.
Phát triển toàn diện con người cần đạt tới những giá trị xã hội sau đây

có mà nhân tài chính là sản phẩm của một quá trình đào tạo rèn luyện và tự rèn
luyện rất lâu dài và công phu. Cần nhận dạng nhân tài bằng hình thức thi cử và đặt
ra nhiều tiêu chí.
Để nhân tài có thể phát triển được thì phải có điều kiện: Thứ nhất nhân tài
trước hết phải được đào tạo rất cẩn thận, tu dưỡng, rèn luyện, tự tích luỹ kinh
nghiệm và kiến thức trong một môi trường thuận lợi thúc đẩy con người luôn sáng
tạo và hành động. Thứ hai, phải có các nguồn lực và dành cho mỗi người một khả
năng lựa chọn và huy động tổ chức các nguồn lực thực hiện có hiệu quả mục đích
đã đề ra. Tóm lại, điều kiện nảy sinh và phát triển nhân tài là phải có một nền giáo
dục tiên tiến có sự kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố nhà trường - gia đình - xã hội
cùng quan tâm đến thế hệ trẻ và giáo dục.
Kết luận
Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần dần đi
đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển.
Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí tuệ và đi liền với
nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người.
Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân tố
con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như chuẩn bị tốt
nguồn nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ, ý thức và tâm hồn

thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực hiện sự chuyển mình từ
một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Các cuộc đại thắng của dân đã đi vào lịch sử suy cho cùng là thắng lợi của
chính con người Việt Nam. Bài học đó còn nguyên giá trị cho tới ngày nay. Với
chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn và khoa học của Đảng, với trí tuệ và phẩm
chất của con người Việt Nam, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status