MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
1.1.
1.2.
Chương 2
2.1.
2.2.
Chương 3
3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU
LỊCH GẮN VỚI GIỮ GÌN TRẬT TỰ AN TOÀN
XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Một số vấn đề chung về phát triển du lịch và giữ gìn
trật tự an toàn xã hội
Quan niệm, nội dung và sự cần thiết phát triển kinh tế
du lịch gắn với giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
GẮN VỚI GIỮ GÌN TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI
Đặc điểm địa bàn và tình hình kinh tế chính trị xã hội liên
quan đến phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ gìn trật tự
an toàn xã hội ở huyện Ba Vì
Thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết
90
95
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển kinh tế du lịch và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là hai lĩnh vực
khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Trong đó, phát triển kinh tế
du lịch là phát triển ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã
hội hóa cao. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam coi
phát triển du lịch như là hướng chiến lược quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước do lợi ích nhiều mặt mà ngành kinh tế này
mang lại. Sự phát triển kinh tế du lịch đem lại nhiều tác động tích cực tạo
công ăn việc làm cho người lao động, phát triển các ngành dịch vụ, tạo ra
nguồn thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách, góp phần tăng trưởng kinh tế và thúc
đẩy phát triển nhiều ngành kinh tế khác như: giao thông vận tải, bưu chính
viễn thông, các ngành nghề thủ công truyền thống… Đó cũng là những nhân
tố tích cực tác động đến công tác giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên,
hoạt động du lịch có nhiều yếu tố tác động tiêu cực liên quan đến công tác giữ
gìn trật tự, an toàn xã hội nếu không được quan tâm chú trọng, nhất là trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
các thế lực thù địch, các loại tội phạm sẽ triệt để lợi dụng con đường du lịch
để tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật, tác động xấu đến tình hình giữ
gìn trật tự an toàn xã hội tại các địa điểm du lịch, do vậy kìm hãm sự phát
triển kinh tế du lịch
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đều cho thấy, kinh tế du lịch chỉ có
thể phát triển trong điều kiện đất nước hòa bình, ổn định về chính trị, lành
mạnh về môi trường kinh tế - xã hội. Vì vậy, phát triển du lịch phải luôn gắn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế du lịch nói
chung, kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội nói riêng
và một số công trình nghiên cứu về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh,
trong đó có kết hợp phát triển kinh tế du lịch với giữ gìn an ninh, trật tự an
toàn xã hội. Trong đó, tiêu biểu là các công trình như:
4
* Các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế du lịch và phát triển
kinh tế du lịch
- Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2004), Giải pháp khai thác tiềm năng du
lịch của Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010,
Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội. Tác giả luận án
đã tập trung làm rõ tiềm năng du lịch của Hà Nội, trong đó có Ba Vì, vùng đất
ngàn năm lịch sử với tiềm năng đặc biệt để phát triển du lịch sánh tầm khu vực
và thế giới. Đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng du
lịch của Thủ đô đến năm 2010.
- Trần Tiến Dũng (2006), Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha – Ke
Bàng, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. Công trình đã phân tích, luận
giải cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển du lịch bền vững; đánh
giá thực trạng phát triển du lịch ở Phong Nha- Kẻ Bàng và đề xuất giải pháp
phát huy tiềm năng du lịch dựa vào danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử…
của địa phương.
- Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (đồng chủ biên) (2006), Giáo
trình kinh tế du lịch, Nhà xuất bản Lao động, Hà nội. Nội dung giáo trình đề
cập các vấn đề liên quan đến du lịch và kinh tế du lịch. Trong đó, trình bày khái
niệm về du lịch; cơ sở hình thành, xu hướng phát triển, ý nghĩa kinh tế – xã hội
của du lịch; nhu cầu, loại hình và các lĩnh vực kinh doanh du lịch; điều kiện
kinh doanh du lịch; tính thời vụ trong du lịch; lao động, cơ sở vật chất – kỹ
thuật, chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh tế du lịch cũng như quy hoạch phát
quả quản lý Nhà nước về an ninh trật tự.
- Nguyễn Xuân Hiến (2003), An ninh trong lĩnh vực du lịch của người
nước ngoài và những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh của cơ
quan an ninh Việt Nam, luận án tiến sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng
hình sự, Học viện An ninh nhân dân. Tác giả đã phân tích làm rõ khái niệm,
đặc điểm người nước ngoài du lịch tại Việt Nam; chỉ rõ an ninh trong lĩnh vực
du lịch của người nước ngoài tại Việt Nam; phân tích thực trạng hoạt động
6
xâm phạm an ninh quốc gia của người nước ngoài du lịch tại Việt Nam và
công tác đấu tranh của cơ quan an ninh Việt Nam. Trên cơ sở đó tác giả đưa
ra dự báo và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh của cơ quan an ninh Việt Nam.
- Nguyễn Đình Sơn (2007), Phát triển kinh tế du lịch ở vùng du lịch
Bắc bộ và tác động của nó tới quốc phòng – an ninh, luận án tiến sĩ kinh tế,
chuyên ngành kinh tế chính trị, Học viện Chính trị - quân sự. Luận án đã đưa
ra quan niệm về kinh tế du lịch, phát triển kinh tế du lịch, phân tích tác động
của phát triển kinh tế du lịch đối với quốc phòng, an ninh; đề cập một số kinh
nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế du lịch kết hợp với quốc phòng, an ninh
và rút ra bài học vận dụng cho Việt Nam; đánh giá thực trạng và đưa ra
phương hướng, mục tiêu, giải pháp cơ bản phát triển kinh tế du lịch ở vùng du
lịch Bắc bộ kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.
- Nguyễn thị Minh Loan (2008), Tác động của hoạt động du lịch với
vấn đề giữ gìn trật tự an toàn xã hội ở Quảng Ninh, thực trạng và giải pháp,
đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Cảnh sát nhân dân. Đề tài đã phân tích rõ
hoạt động du lịch và mối quan hệ giữa hoạt động du lịch với giữ gìn trật tự an
toàn xã hội; phân tích đặc điểm, thực trạng hoạt động du lịch ở Quảng Ninh;
làm rõ tác động của hoạt động du lịch đến giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên
pháp luật hiện hành v.v...
- Nguyễn Anh Tuấn (2011), Gắn phát triển kinh tế du lịch với củng cố
quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện
tử, ngày 07/4/2011. Nội dung bài viết khái quát đặc điểm tự nhiên tỉnh Khánh
Hòa và đưa ra một số giải pháp gắn phát triển kinh tế du lịch với quốc phòng,
an ninh ở tỉnh Khánh Hòa bao gồm, nâng cao nhận thức cho các lực lượng;
làm tốt công tác quy hoạch; kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức dân quân
tự về, dự bị động viên; phát huy vai trò lực lượng quân đội trong thực hiện
gắn phát triển kinh tế du lịch với quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh.
- Nghiêm Xuân Yêm (2014), Về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, phòng chống tội phạm trong tình
8
hình hiện nay, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 14/11/2014. Bài viết luận giải
cơ sở lý luận, thực tiễn và chỉ ra một số vấn đề cần quan tâm về kết hợp phát
triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, phòng chống tội
phạm ở nước ta hiện nay.
Tóm lại, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến phát
triển kinh tế du lịch nói chung, phát triển kinh tế du lịch ở Thành phố Hà Nội
và huyện Ba Vì nói riêng và nghiên cứu về kết hợp hay gắn phát triển kinh tế,
trong đó có kinh tế du lịch với đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự
an toàn xã hội. Song chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển kinh tế
du lịch gắn với giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì, Thành
phố Hà Nội. Vì vậy, đề tài “Phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ gìn trật tự
an toàn xã hội trên địa bàn Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội” không trùng lặp
với các các công trình, đề tài đã nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ
gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, trên cơ
phòng, an ninh nói chung, đến phát triển kinh tế, trong đó có phát triển kinh tế
du lịch và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội nói riêng là cơ sở lý luận của đề tài.
Đồng thời, các số liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan chức năng về phát
triển kinh tế du lịch và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba
Vì… là cơ sở thực tiễn của đề tài luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị là trừu
tượng hoá khoa học và các phương pháp nghiên cứu như: kết hợp lô gíc với
lịch sử, phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia
để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
10
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những luận
cứ khoa học giúp Đảng bộ, Chính quyền, các cơ quan chức năng Huyện Ba
Vì, Thành phố Hà Nội tham khảo trong xác định chủ trương, giải pháp vừa
bảo đảm thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, vừa giữ gìn tốt hơn trật tự an toàn
xã hội trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Huyện Ba Vì nói
riêng, của Thành phố Hà Nội nói chung.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
và học tập môn kinh tế chính trị trong các trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục danh mục tài liệu tham khảo,
mục lục, phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
11
12
ngành văn hóa – xã hội. Mặc dù có rất nhiều quan niệm và cách định nghĩa
khác nhau về du lịch. Song tác giả luận văn cho rằng, định nghĩa về du lịch
trong Luật Du lịch Việt Nam là phù hợp.
* Các loại hình du dịch
Có nhiều cách phân chia du lịch theo các tên gọi khác nhau.
Thứ nhất, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi, du lịch được phân
thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
Thứ hai, theo môi trường tài nguyên, du lịch được xác định gồm: du
lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên.
Thứ ba, căn cứ vào mục đích chuyến đi, có các loại hình: du lịch chữa
bệnh, du lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn hóa, du lịch công
vụ; du lịch thương gia, du lịch tôn giáo…
Thứ tư, căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi, du lịch được phân
thành du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân.
Thứ năm, theo phương tiện đi lại của hoạt động du lịch, các hình thức
du lịch gồm: du lịch xe đạp, ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay.v...
* Khái niệm kinh tế du lịch
Theo cách hiểu thông dụng nhất, kinh tế du lịch là hiệu quả kinh tế do
du lịch mang lại. Vì vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế du lịch.
Theo tác giả Đổng Ngọc Minh và Vương Đình Lôi (Trung Quốc): “Kinh tế du
lịch là một hoạt động kinh tế, là tổng thể các hành vi phối hợp với nhau của
hoạt động kinh tế nói chung với hoạt động kinh tế du lịch nhằm đáp ứng nhu
cầu về du lịch” [36, tr.228].
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Kinh tế du lịch là một loại
hình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành
công nghiệp không khói, gồm du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức
Từ những vấn đề nêu trên, có thể khái quát: kinh tế du lịch là ngành
kinh tế dịch vụ, ngành kinh doanh trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm du lịch,
thoả mãn nhu cầu tinh thần của du khách, nhằm đem lại lợi ích kinh tế, chính
14
trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp du lịch.
Kinh tế du lịch là ngành công nghiệp không khói, ngành sản xuất phi vật chất
nhưng mang lại những giá trị vật chất và tinh thần rất cao. Kinh tế du lịch ra
đời và phát triển như một tất yếu khách quan, trở thành một ngành kinh tế độc
lập với những đặc trưng riêng.
* Đặc điểm của kinh tế du lịch
Thứ nhất, kinh tế du lịch mang tính nhạy cảm. Do ngành kinh tế du lịch
gồm nhiều bộ phận tạo thành nên trong quá trình cung cấp dịch vụ đối với du
khách nhà cung ứng cần bố trí chính xác về thời gian, có kế hoạch chu đáo chi
tiết về nội dung các hoạt động, cần phải kết hợp một cách hữu cơ, liên hệ chặt
chẽ giữa các khâu đi lại, du ngoạn, ăn ở, vui chơi, giải trí, mua sắm… Hơn
nữa, các nhân tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội như chiến tranh, động
đất, khủng bố kinh tế, dịch bệnh… đều ảnh hưởng lớn và gây cản trở đối với
sự phát triển kinh tế du lịch.
Thứ hai, kinh tế du lịch mang tính thời vụ. Do ảnh hưởng của yếu tố địa lý
tự nhiên, thời tiết khí hậu, nên du lịch hầu khắp các nước đều mang “tính thời
vụ” đặc trưng. Chẳng hạn, loại hình du lịch biển thường rất đông khách vào mùa
hè, vắng khách vào mùa đông, ngược lại loại hình du lịch leo núi, trượt tuyết thì
thường vắng khách vào mùa hè nhưng lại nhiều khách vào mùa đông.
Thứ ba, kinh tế du lịch mang tính chi phí, tính tổng hợp cao. Mục đích
của khách du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải với mục
tiêu kiếm tiền. Du khách sẵn sàng trả những khoản chi phí trong chuyến đi của
mình về các khoản dịch vụ như: ăn, uống, ở, đi lại và nhiều các chi phí khác
nhằm thực hiện được mục đích vui chơi, giải trí, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên
chất, tinh thần cho nhân dân.
Cũng như những ngành kinh tế khác, phát triển kinh tế du lịch cũng cần
có những điều kiện và những yếu tố tiền đề để thúc đẩy kinh tế du lịch phát
triển. Trong đó, đáng chú ý một số điểm sau:
Thứ nhất, nền kinh tế phải phát triển ở một trình độ nhất định, người dân
có thu nhập đủ sống mới có điều kiện đi du lịch.
16
Thứ hai, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển đặc biệt là các ngành
nghề phục vụ ngành du lịch như: giao thông vận tải, phục vụ ăn nghỉ, vui chơi
giải trí v.v...
Thứ ba, có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch.
Thứ tư, trật tự, an toàn xã hội tốt, thủ tục thông thoáng cho du khách.
1.1.2. Khái niệm về giữ gìn trật tự an toàn xã hội
* Khái niệm về trật tự, an toàn xã hội
Ở Việt nam thuật ngữ “ Trật tự an toàn xã hội” được sử dụng chính thức
trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV và trong hiến
pháp năm 1992. “Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội bình yên, trong
đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy
tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định” [6],[23,trang13].
Trật tự an toàn xã hội là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và
điều chỉnh bởi hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước, quy phạm đạo
đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của mỗi dân tộc, quốc gia,
nhờ đó mọi công dân được sống, lao động yên ổn, có tổ chức, có kỷ cương,
mọi quyền và lợi ích chính đáng được tôn trọng, bảo vệ và không bị xâm hại.
Trật tự an toàn xã hội bao gồm nhiều nội dung tạo nên một trạng thái xã
hội bình yên, có trật tự, kỷ cương, bao gồm: an ninh xã hội được bảo đảm,
công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao, hạn chế tới mức thấp nhất
tội phạm hình sự; Trật tự an toàn giao thông, hoạt động giao thông được
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp . Đấu tranh phòng, chống tội phạm là
việc tiến hành các biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm;
phát hiện để ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, hạn chế đến mức thấp
nhất hậu quả, tác hại do tội phạm gây ra cho xã hội; điều tra khám phá tội
phạm và người phạm tội để đưa ra xử lí trước pháp luật đảm bảo đúng người,
đúng tội; giáo dục, cải tạo người phạm tội giúp họ nhận thức được lỗi lầm và
cố gắng cải tạo tốt, có thể tái hoà nhập cộng đồng xã hội, trở thành người
lương thiện, sống có ích cho xã hội. Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
đang diễn ra quyết liệt, đa dạng và ngày càng phức tạp. Đặc biệt là sự xuất
18
hiện những loại tội phạm mới, phương thức thủ đoạn mới phi truyền thống
như tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm về
môi trường, tội phạm tiền giả quốc tế, rửa tiền, tội phạm mua bán người, tội
phạm về ma túy…
Giữ gìn trật tự nơi công cộng. Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có
trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở
những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo. Trật tự công cộng là một
mặt của trật tự, an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung
về trật tự, yên tĩnh, vệ sinh, nếp sống văn minh; sự tuân thủ những quy định
của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận.
Giữ gìn trật tự nơi công cộng chính là giữ gìn trật tự, yên tĩnh chung, giữ gìn
vệ sinh chung, duy trì nếp sống văn minh ở những nơi công cộng - nơi diễn ra
các hoạt động chung của nhiều người, đảm bảo sự tôn trọng lẫn nhau trong
lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người.
Đảm bảo trật tự, an toàn giao thông. Trật tự, an toàn giao thông là trạng
thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp
luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người phải tuân theo
khi tham gia giao thông, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động giao thông thông
Bảo vệ môi trường. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời
sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất
nước, dân tộc và nhân loại. Bảo vệ môi trường là tập hợp những biện pháp giữ
cho môi trường trong sạch, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới
(vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, lòng đất, nước, không khí,
khí hậu...), đảm bảo sự cân bằng sinh thái... nhằm tạo ra một không gian tối
ưu cho cuộc sống của con người.
1.1.3. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế du lịch với giữ gìn trật tự,
an toàn xã hội
Phát triển kinh tế du lịch và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là hai lĩnh
vực khác nhau, hoạt động theo những quy luật riêng, song giữa chúng có mối
20
liên hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, nếu tác động tích cực sẽ thúc
đẩy nhau cùng phát triển, nếu tác động tiêu cực sẽ kìm hãm sự phát triển của
nhau. Trong đó, kinh tế nói chung và kinh tế du lịch nói riêng phát triển là
tiền đề để xây dựng và củng cố, thiết lập nền trật tự, an toàn xã hội của quốc
gia nói chung và của địa phương nói riêng. Ngược lại, trật tự, an toàn xã hội
được giữ vững sẽ tạo điều kiện để kinh tế du lịch phát triển ổn định và bền
vững, đặc biệt là những địa phương có tiềm năng, lợi thế, có điều kiện để phát
triển kinh tế du lịch.
Sự phát triển của kinh tế du lịch vừa tạo tiền đề, điều kiện cho giữ gìn
trật tự, an toàn xã hội, vừa đặt ra với giữ gìn trật tự, an toàn xã hội nhiều vấn
đề phải giải quyết. Điều này thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
Kinh tế du lịch phát triển làm tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương,
góp phần tích cực trong tạo và giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người
lao động. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm cho công tác giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội được giữ vững, tăng cường.
Về mặt hình thức hoạt động du lịch bao gồm nhiều nội dung liên quan
cầu đối với giữ gìn trật tự, an toàn xã hội như vấn đề quản lý các phần tử
chống đối, tình báo, tuyên truyền chính trị, tôn giáo, kích động bạo loạn; quản
lý phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh tế du lịch; vấn đề đảm bảo an toàn
xã hội, an toàn vui chơi giải trí, an toàn giao thông, yêu cầu về trật tự công
cộng; yêu cầu về công tác phòng cháy chữa cháy, vấn đề tệ nạn xã hội nảy
sinh trong môi trường hoạt động kinh tế du lịch v.v...
Một trong những vấn đề cần chú ý là tính không ổn định của thị trường
du lịch. Do tính đặc thù thị trường du lịch vốn không ổn định, sự đột biến, do
cung và cầu các sản phẩm du lịch tăng giảm theo thời vụ. Tình trạng này
thường kéo theo hiện tượng đầu cơ, nâng giá, lối làm ăn chụp giật, trái pháp
luật, thậm chí có cả những hiện tượng lợi dụng sự nhạy cảm và thất thường
của thị trường du lịch để thực hiện những hành vi chèn ép, tước đoạt tài sản
công dân, lừa đảo, buôn bán hàng giả, bán hàng không đúng với giá cả thị
22
trường và các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mê tín dị đoan, mại dâm, ma túy…
thường nảy sinh ở những khu du lịch, làm ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự,
an toàn xã hội.
Do tác động của quy luật thị trường, lợi nhuận là mục tiêu động lực của
các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. Một số doanh nghiệp, cá nhân tìm
mọi cách để đạt được lợi nhuận tối đa. Họ chạy theo lợi nhuận đơn thuần, bất
chấp đạo lý, chỉ thấy được cái lợi trước mắt, không thấy được cái hại lâu dài
cho cộng đồng. Theo đó, tài nguyên du lịch bị khai thác bừa bãi, môi trường
sống bị ô nhiễm, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, làm phương hại đến lợi ích của
cộng đồng. Bên cạnh đó, một số đối tượng lợi dụng du lịch để truyền bá văn
hóa phẩm đồi trụy, lối sống “lai căng”, làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc
sống, đến văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Điều này đòi hỏi việc
giữ gìn trật tự, an toàn xã hội phải được tăng cường cùng với sự phát triển của
kinh tế du lịch.
hội và có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế du lịch. Thực tiễn đấu tranh
phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội cho thấy tệ nạn xã hội luôn lấy du lịch
làm mảnh đất để hoạt động. Du lịch và tệ nạn xã hội dường như song hành.
Tệ nạn xã hội chính là mặt trái của hoạt động du lịch. Các đối tượng tệ nạn xã
hội như mại dâm, cờ bạc, bói toán, mê tín dị đoan, lối sống hiện sinh, đồi trụy,
trác táng thường nảy sinh từ mảnh đất du lịch. Do đó làm tốt công tác bài trừ
tệ nạn xã hội có tác động tích cực nhằm ngăn chặn mặt trái trong phát triển
kinh tế du lịch.
Hoạt động du lịch trong thời kỳ đổi mới, mở cửa hiện nay đang là
ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghiệp không khói hàng năm thu về
nguồn lợi nhuận to lớn. Chính vì bùng nổ của nhu cầu du lịch mà cuộc cạnh
tranh trong hoạt động du lịch trở lên khốc liệt. Không thể chấp nhận hiện
tượng cạnh tranh không lành mạnh, lối làm ăn phi pháp, bất chấp các chuẩn
mực pháp luật và các chuẩn mực đạo đức. Bởi vậy, ngăn chặn các tệ nạn xã
hội cũng đồng nghĩa với việc làm lành mạnh hóa hoạt động kinh tế du lịch,
24
khắc phục sự chệch hướng, bảo đảm tính văn hóa, nhân văn của kinh tế du
lịch trong tình hình hiện nay.
Phòng chống ô nhiễm môi trường là một nội dung của công tác giữ gìn
trật tự, an toàn xã hội. Với hoạt động kinh tế du lịch vấn đề môi trường sinh
thái cấu thành yếu tố tài nguyên du lịch, là nguồn lực cho sự phát triển của
kinh tế du lịch. Nhìn từ góc độ này, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội góp phần
thúc đẩy và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của kinh tế du lịch.
1.2. Quan niệm, nội dung và sự cần thiết phát triển kinh tế du lịch
gắn với giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì, thành
phố Hà Nội
1.2.1. Quan niệm phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ gìn trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
triển kinh tế – xã hội của huyện nói chung, kế hoạch phát triển kinh tế du lịch
và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội nói riêng cũng như trong thực tế triển khai
thực hiện các hoạt động phát triển kinh tế du lịch và giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội trên địa bàn huyện Ba Vì.
Phương thức gắn phát triển kinh tế du lịch với giữ gìn trật tự, an toàn xã
hội trên địa bàn huyện Ba Vì vừa gián tiếp, vừa trực tiếp thông qua việc xây
dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện trên thực tế nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch theo đúng lộ trình, hợp pháp, hợp Hiến, đồng
thời thực hiện tốt công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn tính
mạng, tài sản cho khách du lịch; phòng chống tội phạm, các phần tử xấu lợi
dụng du lịch xâm hại đến trật tự an toàn xã hội, trong kế hoạch phát triển kinh
tế du lịch luôn phải gắn với công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Trật tự an
toàn xã hội được giữ vững góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu, tạo niềm tin
cho du khách yên tâm đến thăm quan du lịch, vui chơi, thoải mái, tăng lượng
khách du lịch, thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển.
1.2.2. Nội dung phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ gìn trật tự, an
toàn xã hội trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Phát triển kinh tế du lịch gắn với giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trên địa
bàn huyện Ba Vì bao gồm nhiều nội dung, trong đó đáng chú ý một số nội
dung cơ bản sau:
26