Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Kinh tế trang trại (KTTT) là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh
tế nông hộ, là mô hình sản xuất đã có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vai
trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Thực tế đã chứng minh kinh tế trang trại đã phát huy được vai
trò to lớn, tạo ra sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông
thôn, phát triển KTTT đã khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật,
kinh nghiệm quản lí góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, khuyến khích
làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân cư không
những vậy mà việc phát triển kinh tế trang trại còn góp phần vào việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhất là từ sau Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị năm 1988, kinh tế trang trại đã có những bước phát triển khá và
từng bước khẳng định là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông
nghiệp có nhiều ưu thế và phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của một
nền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đảng và nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách khuyến khích phát
triển và bảo hộ KTTT như các Nghị định, Quyết định như: Nghị định số
51/1999/NĐ-CP, Nghị định số 30/1998/NĐ-CP- quy định chi tiết thi hành
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng nộp thuế là
những hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trị
hàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích phát
triển kinh tế trang trại, Nghị định số 43/1999/NĐ-CP - hỗ trợ đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin, cơ sở
chế biến, ngoài ra còn rất nhiều các chính sách về thuế, khoa học - công nghệ,
1
môi trường, thị trường. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại đang
đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết kịp thời.
Huyện Ba Vì là một địa phương có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế
tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại.
Sinh viên có cái nhìn tổng thể hơn về thực trạng phát triển KTTT trên địa
bàn huyện Ba Vì, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những khó
khăn, tồn tại thúc đẩy phát triển KTTT.
Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa
học cho mỗi sinh viên trước khi ra trường.
Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên tham gia nhiên cứu khoa học
về vấn đề kinh tế trang trại.
1.4.1. Ý nghĩa trong thực tiễn.
Đề tài có thể là cơ sở khắc phục những vấn đề bất cập mà các trang trại
đang gặp phải.
Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp người
lao động, các chủ trang trại phát triển trang trại của mình.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo,
các ban ngành đưa ra phương hướng để phát huy những tiềm năng thế mạnh,
giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển kinh tế trang trại ngày
càng hiệu quả và bền vững.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Khái niệm về kinh tế trang trại
Hiện nay khái niệm về kinh tế trang trại đối với nước ta vẫn còn là vấn
đề tương đối mới. Tuy nhiên cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kinh tế
trang trại, mỗi tác giả có một góc nhìn khác nhau về loại hình kinh tế này. Tôi
xin đưa ra một số khái niệm về kinh tế trang trại như sau:
- Theo tác giả Trần Đức: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức
sản xuất cơ sở trong nước có mục đích chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng
hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người
chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô tập trung đủ lớn, với cách
nhiên về thực chất “trang trại” và “kinh tế trang trại” là hai khái niệm không
đồng nhất.
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan
hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại. Còn
trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các
quan hệ kinh tế đó.[7] Điểm chung của những khái niệm trên cho thấy kinh tế
trang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá, nhưng quy mô sản xuất
hàng hoá đó phải đạt tới một mức độ tương đối lớn. Như vậy, trang trại là
hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu
sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ và bình đẳng với các tổ
chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu để bán và tạo nguồn thu nhập
chính cho gia đình.
2.1.2. Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại
Theo công văn số 216/KTTW ngày 04/09/1998 của Ban Kinh tế Trung
ương về báo cáo kết quả hội nghị nghiên cứu kinh tế trang trại đã sơ bộ xác định
các đặc trưng chủ yếu để nhận dạng kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay là:
5
* Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp,
được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính chất sản xuất hàng
hoá rõ rệt, đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá lớn hơn và thu được lợi
nhuận nhiều hơn.
* Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản phẩm
hàng hoá theo nhu cầu thị trường.
* Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hay sử dụng của
một người chủ. Trang trại hoàn toàn có quyền tự chủ trong tổ chức hoạt động
sản xuất kinh doanh.
* Các yếu tố sản xuất của trang trại trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập
trung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
* Lao động chính trong các trang trại chủ yếu là chủ trang trại và
những người trong gia đình và có thuê mướn lao động theo hình thức
lao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình
công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
* Vai trò của kinh tế trang trại nói chung.
Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu,
có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp,có vai trò to
lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phần
lớn sản phẩm nông nghiệp trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngành
công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho chế biến và thương nghiệp.
Trong điều kiện nước ta, vai trò và hiệu quả phát triển của kinh tế trang
trại phải được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt đó là: hiệu quả về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường. Được thể hiện rõ trên các nội dung chủ yếu sau:
- Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, góp phần đưa sản xuất
nông nghiệp lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Kinh tế trang trại là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, là
nhân tố mới ở nông thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực kinh
tế hộ nông dân, là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nghiệp
hàng hoá, tạo ra sức sản xuất mới, có khả năng tạo ra khối lượng lớn về nông
7
sản hàng hoá đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Kinh tế trang trại làm ra sản phẩm để bán theo yêu cầu của thị trường,
nên nó kích thích sản xuất và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại, phát triển. Để
giành thắng lợi trong cạnh tranh, các trang trại phải nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Muốn vậy, các trang trại phải biết đầu tư quy mô sản xuất hợp
lý, đầu tư khoa học công nghệ, máy móc thiết bị, tăng cường quản lý , do
đó kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy nhanh việc sản xuất hàng hoá trong
nông nghiệp nông thôn. Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại tất yếu
phải tiến hành cơ giới hoá, điện khí hoá các khâu của quá trình sản xuất, vận
chuyển, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, kinh tế trang trại
đã tạo điều kiện để đưa nông nghiệp đi dần vào công nghiệp hoá, hiện đại
rộng và phát triển sản xuất, tăng thêm lợi nhuận. Điều đó dẫn đến sự tích tụ và
tập trung đất đai, vốn đầu tư tạo quy mô sản xuất của các trang trại ngày một
lớn hơn, thu hút, sử dụng ngày càng nhiều lao động hơn.[5]
- Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai.
Bên cạnh lợi ích về kinh tế, Nhà nước và cộng đồng còn thu được lợi ích
về tài nguyên và môi trường. Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đất đai tài nguyên, đưa đất hoang
hoá vào phát triển sản xuất, nhất là đối với vùng trung du, miền núi, và ven
biển. Ngoài ra, phát triển kinh tế trang trại còn góp phần tăng nhanh độ che
phủ rừng, bảo vệ môi trường tận dụng mặt nước cho nuôi trồng thuỷ sản
2.1.4 Một số các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ thống trang
trại nói chung và trang trại chăn nuôi nói riêng.
* Các nhân tố chủ quan
- Vốn đầu tư của chủ trang trại
Một trang trại muốn phát triển với quy mô lớn thì điều kiện tiên quyết là
vấn đề vốn đầu tư của trang trại. Với loại hình kinh tế trang trại nào, phương
thức huy động vốn ra sao, thì việc đầu tư vốn có hiệu quả và thể hiện triển
9
vọng sản xuất của trang trại là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ trang
trại diễn ra trong quá trình sản xuất.
Thiếu vốn dẫn đến :
+ Quy mô trang trại nhỏ gây sức ép với việc tăng năng suất lao động và
hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
+ Làm hạn chế việc áp dụng công nghệ mới và máy móc hiện đại, ảnh
hưởng tới quá trình sản xuất.
+ Không đáp ứng được chất lượng các yếu tố đầu vào như: giống, kỹ
thuật, vật tư, máy móc thiết bị…
+ Ảnh hưởng tới việc học tập và nâng cao trình độ của các chủ trang trại.
+ Thiếu vốn cũng ảnh hưởng dán tiếp đến việc xử lý chất thải trong sản
xuất, gây ô nhiễm môi trường.
thiệt hại cho trang trại mà còn ảnh hưởng tới các trang trại xung quanh, cũng
như vấn đề vệ sinh môi trường các khu vực lân cận.
- Chính sách của nhà nước: Các chủ trương chính sách hợp lý thông
thoáng sẽ kích thích sự phát triển của hệ thống trang trại, tăng cường lưu
thông hàng hóa phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên do còn nhiều vướng mắc
chưa được tháo gỡ, các quy định của cơ quan nhà nước như thú y, kiểm soát
vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng thức ăn gia súc còn những bất cập chưa
tạo điều kiện cần và đủ để trang trại phát triển bền vững.
Thời gian giao đất, cho thuê đất, thủ tục giao đất, cho thuê đất còn nhiều
khó khăn; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm; chính sách
vay vốn còn hạn chế và nhiều bất cập làm ảnh hưởng tới quá trình đầu tư xây
dựng và phát triển của các trang trại.
- Tốc độ tăng dân số: Dân số và môi trường là nền tảng cho sự phát triển
bền vững. Không thể có sự phát triển bền vững nếu môi trường bị hủy hoại,
suy thoái, chất lượng cuộc sống và sức khỏe người dân bị sa sút. Sự phát
triển bền vững phụ thuộc rất lớn vào công tác dân số và bảo vệ môi trường.
Nhiều khi giá phải trả cho chi phí về môi trường nhiều hơn những thứ con
11
người thu về từ thiên nhiên. Dân số, môi trường và phát triển tạo thành vòng
quay tuần hoàn khép kín ảnh hưởng chi phối lẫn nhau. Dân số tăng nhanh dẫn
đến nhu cầu về lương thực thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu tăng nhanh
kích thích sự phát triển của hệ thống các trang trại, tuy nhiên nó cũng gây ra
sức ép rất lớn về vấn đề đất đai và môi trường. Chính vì vậy cần phải có
những chiến lược phát triển lâu dài mang tính bền vững cho ngành chăn nuôi
sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội.
- Khoa học kỹ thuật
Quy mô và đặc điểm đất đai của mỗi trang trại thường có sự thay đổi.
Tuy nhiên sự thay đổi này lại nằm trong một giới hạn nhất định, việc tăng hệ
số sử dụng đất cũng có giới hạn, con đường mở rộng tăng khối lượng và chất
lượng sản phẩm của trang trại chính là áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật,
ty cổ phần. Loại hình này chủ yếu phát triển trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụ
lâm sản.
- Nông trại uỷ thác: là loại hình trang trại mà chủ trang trại uỷ thác cho
bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
trong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác.
* Theo cơ cấu sản xuất
- Trang trại kinh doanh tổng hợp: là loại nông trại sản xuất kinh doanh
nhiều loại sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngành
nghề khác.
- Trang trại sản xuất chuyên môn hoá là trang trại tập trung sản xuất kinh
doanh một loại sản phẩm như trang trại chuyên nuôi gà, vịt, lợn và bò sữa,
chuyên trồng hoa, rau, chuyên nuôi trồng thuỷ sản.
* Theo hình thức sở hữu
- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất (thường là trang trại gia
đình) đây là loại hình phổ biến ở các nước.
- Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất phần còn lại phải đi
thuê người khác.
- Trang trại thuê toàn bộ tư liệu sản xuất của chủ khác để sản xuất kinh doanh.
13
2.1.5. Các tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại
Thông tư số 74/2003/TT-BNN,ngày 04/7/2003 của bộ NN&PTNT về
việc thay thế thông tư liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK. Qua đó đưa ra
tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được
xác đinh là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí sau :về giá trị sản lượng
hàng hoá, dịch vụ bình quân một năm hoặc quy mô sản xuất phải tương đối
lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và
vùng kinh tế:
Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng
hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí
Là những trang trại có từ 2 hoạt động sản xuất nông, lâm, và nuôi trồng
thuỷ sản khác nhau trở lên và mỗi hoạt động đều đạt về quy mô hoặc mức giá
trị hàng hoá và dịch vụ như quy định cho trang trại.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới
Trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển, kinh tế trang trại đã được khẳng
định là mô hình sản xuất phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông
lâm nghiệp. Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi quốc gia, kinh tế trang trại rất đa
dạng cả về hình thức quản lý, quy mô và cơ cấu sản xuất.
Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích
trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực
lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao. Thực tiễn đã
chứng minh rằng kinh tế trang trại có vai trò quan trọng ở các nước đang phát
triển (Hàn Quốc, Đài Loan,…) và đang tiếp tục phát huy tác dụng ở những
nước có nền kinh tế phát triển cao (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,….). Kinh tế trang
trại gia đình đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nông
nghiệp thế giới, thúc đẩy ngành sản xuất nông sản hàng hoá và đưa nền nông
nghiệp tiến lên hiện đại.[3]
15
Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công
nghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu
hướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên.
Ở những vùng đất mới như châu Mỹ, châu Úc thì quy mô trang trại là rất
lớn. Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180-200 ha, ở Canađa
là 400-450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha…Họ gọi là trang trại
nhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến khích, bảo vệ
bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.
Ở Mỹ, năm 1950 có 5.648 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 151
ha/ trang trại, nhưng đến năm 1992 chỉ còn 1.925 nghìn trang trại với diện
tích bình quân là 198 ha/ trang trại.
Ở Inđônêsia, năm 1963 có 744.000 trang trại với diện tích bình quân là
1.20 ha/trang trại đến năm 1973 có 808.000 trang trại với diện tích bình quân
là 1.14 ha/trang trại/ đến năm 1983 có 916.000 trang trại với diện tích bình
quân là 0.95 ha/trang trại
Ở Thái Lan, năm 1963 có 3.124.000 trang trại với diện tích bình quân
là 0.55 ha/ trang trại đến năm 1978 có 4.018.000 trang trại với diện tích bình
quân là 0.8 ha/trang trại.
Ngày nay, ở Châu Mỹ La tinh các đồn điền đang trong quá trình chia nhỏ
ruộng đất cho các công nhân nông nghiệp hình thành các trang trại nông nghiệp gia
đình có trình độ chuyên môn nông nghiệp mà vẫn tập trung được lượng nông sản
hàng hoá lớn. Họ thấy rằng hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa không thích hợp
với sản xuất nông nghiệp. Ở các nước xã hội chủ nghĩa đang trong quá trình chia nhỏ
lại các xí nghiệp nông nghiệp và phát triển hình thức trang trại gia đình. Từ đó có thể
nhận thấy điểm tương đồng là “sản xuất lớn” không thể áp dụng có hiệu quả hơn so
với kinh tế trang trại trong gia đình nông nghiệp.
Sản lượng chăn nuôi năm 2009
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm
2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn
trâu 182,2 triệu con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò
17
1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con,
gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con Tốc độ tăng về số
lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt
trên dưới 1% năm.
Hiện nay các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn của thế giới như sau:
Về số lượng đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, nhì Ấn Độ
172,4 triệu, thứ ba Hoa kỳ 94,5 triệu, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu, thứ
năm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò.
Chăn nuôi trâu số một là Ấn Độ 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số
trâu của thế giới), thứ hai Pakistan 29,9 triệu trâu, thứ ba Trung Quốc 23,7 triệu con,
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, các trang trại trước đó
được cải tạo, tập thể hoá, quốc doanh hoá thành các cơ sở sản xuất tập thể và
Nhà nước dưới hình thức hợp tác xã, nông trường, trạm trại. Tiếp theo đó,
Nhà nước đã có những chủ trương mới về giao đất, giao rừng, thực hiện nông,
lâm kết hợp, khuyến khích di dân kinh tế mới, khai hoang, phục hoá tạo tiền
đề cho kinh tế trang trại phát triển. Đặc biệt, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị
khoá VI và Nghị quyết Trung ương 5 khoá VII cũng như luật đất đai năm
1993, đã mở đường cho các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển
và từ đó xuất hiện ngày một nhiều các mô hình kinh tế trang trại trên khắp cả
nước. Bước sơ khai của kinh tế trang trại trong giai đoạn này chủ yếu mang
tính tự phát và cho đến nay phát triển kinh tế trang trại đã và đang trở thành
vấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và khuyến khích phát triển.
Ngày 02/02/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 03/2000/NQ-
CP về phát triển kinh tế trang trại. Tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh
tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách
ưu đãi về nhiều mặt đối với kinh tế trang trại.
Mặt khác, Nhà nước đã ban hành các tiêu chí xác định kinh tế trang trại
nhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích kinh tế trang trại phát
triển trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
19
Tháng 1/1981 Chỉ thị 100/CT-BBT ra đời đánh dấu quá trình đổi mới
trong nông nghiệp, nông thôn, thực sự giải phóng sức sản xuất cho nông dân.
Đại hội VII (tháng 12/1986) đề ra chủ trương đổi mới nền kinh tế nước
ta. Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (tháng 4/1987) về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế nông nghiệp, khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ,
khuyến khích phát triển.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương tháng
12/1997 và Nghị quyết số 06 ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về phát triển
nông nghiệp, nông thôn.
Luật đất đai 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Tình hình sản xuất của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì
từ năm 2008 đến năm 2010.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 17/2/2011 đến ngày 25/5/2011
3.3. Nội dung nghiên cứu
-Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ba Vì
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi.
- Điều tra, nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của một số trang
trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn
huyện Ba Vì – Hà Nội
3.4. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.1. Câu hỏi nghiên cứu.
Số lượng và quy mô của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì?
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn
huyện Ba Vì?
22
Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì đang phát triển theo
chiều hướng nào?
Phân bố
Vùng
miền núi
Tỷ lệ
(%)
Vùng đồng
bằng
Tỷ lệ
(%)
Chăn nuôi lợn 10 28.57 5 50 5 50
Chăn nuôi gia cầm 10 28.57 7 70 3 30
Chăn nuôi thủy cầm 5 14.29 0 0 5 100
Chăn nuôi tổng hợp 10 28.57 8 80 2 20
Tổng
35 100 20 57.14 15 42.86
( Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
* Số lượng trang trại chăn nuôi điều tra tại các xã cụ thể như sau:
- Ba trại: 12
Trang trại lợn: 5
Trang trại gia cầm: 4
Trang trại thủy cầm: 0
Trang trại tổng hợp: 3
- Vật Lại: 8
Trang trại lợn: 2
Trang trại gia cầm: 3
Trang trại thủy cầm: 0
Trang trại tổng hợp: 3
- Tây Đằng: 10
Trang trại lơn: 3
Trang trại gia cầm: 3