fThực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong vấn đề lao động
trẻ em trên địa bàn huyện ba vì, thành phố hà nội.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.
Khái niệm
-Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là những người dưới
18 tuổi, trừ phi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”
- Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt nam quy
định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.
- Lao động trẻ em
- Lao dộng vị thành niên
- Doanh nghiệp
- TNXH
- TNXH của ND
- Biện pháp khắc phục lao động trẻ em
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
1.6.
Phân loại TNXH
Vai trò của TNXH
Các hình thức lao dộng trẻ em
Nội dung của TNXH của doanh nghiệp về vấn đề lao động trẻ em
Nội dung TNXH
2. THỰC TRẠNG
gây hậu quả xấu đến môi trường ngày càng phổ biến. Nhiều doanh nghiệp đã thải
ra môi trường những nước thải sản xuất độc hại chưa qua xử lý, lượng khí thải của
các nhà máy đang dần dần huỷ hoại tầng ozone… Môi trường sống hàng ngày
đang phải chống chọi với tình trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn, đất
đai… ngày càng gia tăng.
3.1.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong thời gian qua.
Thứ nhất, hiểu biết của giới kinh doanh Việt Nam hiện nay về các vấn đề ĐĐKD
hay CSR còn mơ hồ và hạn chế. Đa số các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm
quan trọng và ý nghĩa của CSR đối với khách hàng, xã hội và chính bản thân doanh
nghiệp.
Thứ hai, Quản lý Nhà nước còn lỏng lẻo, các văn bản pháp luật không sát với tình
hình thực tế đã dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp dễ dàng lách luật, chối bỏ
những trách nhiệm của mình.
Thứ ba, Công đoàn Việt Nam là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc hòa giải,
ký kết thỏa ước lao động tập thể, là đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Thế nhưng hiện tại, các tổ chức công đoàn vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu
cầu thực tế.
Thứ tư, tai nạn lao động, đình công đang có xu hướng gia tăng, đòi hỏi công tác
thanh tra lao động phải được thực hiện thường xuyên. Theo Tổ chức Lao động
Quốc tế ILO thì với các nước kém phát triển như Việt Nam thì trung bình 40.000
lao động phải có một thanh tra lao động. Nếu theo chuẩn này thì với trên 50 triệu
lao động thì Việt Nam cần tới hơn 1000 thanh tra.
Thứ năm, Pháp lệnh Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam có quy định người tiêu
dùng có quyền được cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ, được quyền lựa
chọn, được quyền khiếu nại, tố cáo… Nhưng kết quả tổng điều tra ý kiến người
tiêu dùng (NTD) trên phạm vi cả nước năm 2008 của Hội Tiêu chuẩn – Bảo vệ
NTD Việt Nam, có đến 41% NTD Việt Nam không biết mình có quyền lợi gì, số
còn lại có biết nhưng cũng không sử dụng các quyền lợi mình đáng được hưởng.
đó, tình trạng trẻ em tham gia lao động sớm, dù ở nhóm nào và tham gia ở mức độ
nào thì cũng đều có những nguy cơ rủi ro về thể chất, tâm lý, ảnh hưởng đến học
tập. Hơn nữa, nếu may mắn hơn, nhiều em làm việc tại địa bàn sinh sống, làm việc
cùng cha mẹ, người thân thì ít nguy cơ bị lạm dụng, bốc lột, không bị bắt làm
những việc phi pháp; còn ngược lại, các em sẽ dễ bị lôi kéo vào những hành vi vi
phạm pháp luật, các tệ nạn xã hội, dễ bị tổn thương và có nguy cơ cao bị lạm dụng,
bốc lột.
Nguyên nhân chủ yếu khiến trẻ em phải kiếm sống sớm là do các em sinh ra trong
những gia đình nghèo, có điều kiện kinh tế khó khăn. Hoặc cũng do nhận thức
chưa đầy đủ của các em, của gia đình và cộng đồng về Luật lao động, Luật bảo vệ
chăm sóc giáo dục sức khỏe trẻ em. Cái nguyên nhân nữa là do nhận thức sai lầm
của các gia đình cho rằng cho trẻ đi lao động sớm thì sẽ sớm nên người. Và một
nguyên nhân nữa là có một số em thích tiêu xài nên đã đi làm sớm để thỏa mãn
nhu cầu của các em.” Tuy vậy, việc quản lý của nhà nước trong lĩnh vực này còn
lỏng lẻo, luật pháp xử lý các vụ vi phạm chưa nghiêm minh khiến các chủ cơ sở sử
dụng lao động trẻ em xem thường. Bà Thùy Nga cán bộ phòng Pháp chế, Sở Lao
động TB&XH TP. Hồ Chí Minh khẳng định:
Mặc dù kinh tế Việt Nam đã và đang tăng trưởng nhanh chóng, nhưng cái nghèo
vẫn là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng lao động trẻ
em.
Ngoài ra, việc thiếu hiểu biết về khái niệm lao động trẻ em cũng như trình độ nhận
thức còn hạn chế về lao động trẻ em cũng là những rào cản đáng kể, cần phải được
rỡ bỏ.
Nhóm nguyên nhân về cá nhân: bao gồm các vấn đề về tình thần, tâm lý của trẻ em; sự thiếu hiểu biết và yếu về
kỹ năng của các bậc cha mẹ, các em; cha mẹ nghiện ngấp rượu, ma tuý, cờ bạc; trẻ em sống trong các gia đình
mâu thuẫn, hoặc bản thân các em bị căng thẳng về tinh thần do cha mẹ và người chăm sóc gây ra hoặc do bản thân
các em đã từng trải qua lạm dụng...
+ Nhóm nguyên nhân về môi trường:
bị xếp vào loại độc hại hoặc các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
- Những em đang làm các công việc độc hại thường dễ bỏ học sớm trước khi đủ
tuổi lao động tối thiểu.
3. Một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả thực hiện CSR
tại Việt Nam.
3.3.1. Các biện pháp từ phía Nhà nước.
3.3.1.1. Bổ sung và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam nhằm tạo sở sở pháp
lý vững chắc cho ĐĐKD và CSR.
Hệ thống pháp luật chính là khung cơ sở, là nền tảng đầu tiên để các doanh
nghiệp thực hiện ĐĐKD nói chung cũng như CSR nói riêng. Tuy nhiên khung
pháp luật hiện thời của Việt Nam còn nhiều thiếu xót, bất cập chưa đáp ứng
được những đổi mới của đất nước khiến cho nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng kẽ
hở của pháp luật để trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ đạo đức, CSR.
3.3.1.2. Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về ĐĐKD và CSR ở Việt
Nam.
Nhận thức đúng về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng
đồng là điều cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Nhận thức đúng để hành động
đúng bên cạnh cơ chế quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn của các cơ quan quản lý
Nhà nước về bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, môi trường… chắc chắn
sẽ mang lại hiệu quả thiết thực và ý nghĩa đối với con người.
– Xây dựng, bổ sung Bộ Luật Lao động Việt Nam.
– Tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp về CSR.
– Phối hợp đồng bộ hoạt động của các cơ quan, ban ngành, tổ chức.
3.3.1.3. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ thực thi CSR trong doanh nghiệp.
Mục tiêu của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh là tối đa
hoá lợi nhuận, doanh thu, trong khi đó, việc tuân thủ ĐĐKD nói chung và CSR
nói riêng cần có thời gian dài mới có thể phát huy đem lại lợi ích cho doanh
nghiệp. Do đó, Nhà nước nên ban hành các chính sách khuyến khích, quan tâm,
hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội như việc giúp đỡ doanh
Tài liệu tham khảo
Luật pháp, chính sách của Việt Nam
1. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 30/5/1994 Ban Bí thư, Chỉ thị số 55-CT/TW ngày
26/8/2000 của Bộ
Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công
tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em.
2. Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2007.
3. Bộ Luật Dân sự, sửa đổi năm 2005.
4. Bộ luật Hình sự năm1999.
11. Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010
(Quyết định số
23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001).
12. Chương trình Hành động quốc gia về Bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
giai đoạn 1999-2002
(Quyết định số 134/1999 ngày 31/5/1999).
14. Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số
267/QĐ-TTg ngày
22 tháng 02 năm 2011).
15. Bộ LĐTB&XH và Bộ Y Tế, Thông tư Liên tịch số 09/TT-LB ngày 13 tháng
4 năm 1995 quy định
chi tiết các điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động
chưa thành niên.
16. Bộ LĐTB&XH, Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH ngày 11 tháng 9 năm
1999 qui định danh
mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào
làm việc.
Luật pháp quốc tế
Honda Việt Nam, Sữa Việt Nam (Vinamilk),… là những gương tiêu biểu, và là
mô hình cho các doanh đã và đang từng bước thực hiện CSR. Đi đôi với các
doanh nghiệp thì nhà nước cũng phải có những chính sách và biện pháp tích cực
nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn trong việc thực hiện CSR.
Và trong thời kỳ hội nhập, một tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển, năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là trách nhiệm xã hội.
Đạo đức kinh doanh nói chung, CSR nói riêng là những phạm trù phức tạp, và
để hiểu và thực hiện được CSR cần một khoảng thời gian không ngắn và phải
có những bước đi phù hợp. Để các doanh nghiệp nâng cao ý thức về CSR, đồng
thời áp dụng thực hiện trong doanh nghiệp mình đòi hỏi phải có giải pháp đồng
bộ trong đó có sự phối hợp của các doanh nghiệp Nhà nước, các cơ quan ban
ngành, các tổ chức hiệp hội và cả những người dân. Có như vậy, chúng ta mới
mong tình hình thực hiện CSR được cải thiện và sẽ phát huy tác dụng góp phần
tạo dựng chỗ đứng cho các doanh nghiệp Việt Nam ngay tại thị trường trong
nước và trên thị trường thế giới.
“Quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay″ của Nguyễn Bao
Cường. Bài viết được đăng trên Bản tin số 23, Viện Khoa học và Lao động xã
hội.