1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Tính cấp thiết của đề tài. 5
2. Tình hình nghiên cứu. 6
3. Mục đích nghiên cứu. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 7
5. Phương pháp nghiên cứu. 8
6. Kết cấu của đề tài. 8
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
DOANH NGHIỆP 9
1.1. Giới thiệu chung 9
1.1.1. Vài nét về Đạo đức kinh doanh 9
1.1.2. Khái niệm Trách nhiệm xã hội. 11
1.1.3. Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 13
1.1.4. Mối quan hệ giữa Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và Đạo đức kinh
doanh. 16
1.2. Các nhân tố ảnh hƣởng tới Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 18
1.2.1. Quy định của pháp luật. 18
1.2.2. Nhận thức của Xã hội. 18
1.2.3. Quá trình toàn cầu hóa và sức mạnh của thị trường. 19
1.3. Các công cụ thực hiện và đánh giá hiệu quả hoạt động của CSR. 20
1.3.1. Các công cụ thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 20
1.3.2. Công cụ đánh giá Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 21
1.4. Tác dụng của việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 27
1.4.1. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần điều chỉnh hành vi của chủ
thể kinh doanh. 27
1.4.3. Việc thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp góp phần tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. 30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 33
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Hình 1: Mô hình các yếu tố cấu thành CSR 15
Hình 2: Mối quan hệ giữa Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội 17
Hình 3: Thứ bậc nhu cầu theo mô hình Maslow 19
Bảng 1: Kết quả đánh giá hoạt động CSR tại một số quốc gia 45
Bảng 2: Lợi ích kinh tế từ việc đầu tư cải thiện không khí và giảm mệt mỏi cho
công nhân (CN) ở một số công ty may mặc 50
Bảng 3: Những địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người 53
4 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH
Bảo hiểm
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong một thế giới công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu hướng
toàn cầu hóa, quốc tế hóa trở thành một tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa
các nền kinh tế ngày càng mật thiết và gắn bó, hoạt động giao lưu thương mại
giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt. Trước đây, các công ty dùng biện pháp
đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa làm biện pháp
cạnh tranh hữu hiệu để giành lợi thế trên thương trường. Hiện nay, các công ty
chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông
qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp
đang được áp dụng và bước đầu đem lại hiệu quả tích cực. Các doanh nghiệp
muốn khẳng định được thương hiệu trên thị trường thì điều mà họ hướng tới bây
giờ là việc thực hiện tốt Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR - Corporate
Social Responsibility).
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở
thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập,
nhưng ở Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa được các doanh
nghiệp quan tâm đúng mức. Hàng loạt các vụ việc vi phạm môi trường, vi phạm
quyền lợi người lao động, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng… nghiêm trọng đã
và đang khiến cộng đồng bức xúc và mất dần lòng tin vào các doanh nghiệp. Từ
đó, các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích thực hiện Trách
nhiệm xã hội mang lại cho các doanh nghiệp là cần thiết trong bối cảnh đất nước
ta hiện nay. Doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội là góp phần nâng cao lợi
nhuận cho doanh nghiệp như nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, và cũng là biện
pháp quảng cáo cho tên tuổi của doanh nghiệp đó.
Vì vậy, ý thức được vấn đề này các doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đưa
động vừa thể hiện sự phát triển nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động.
- Hoàng Long, 2007, “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp - Động lực cho sự
phát triển”, Báo Thương Mại, số 26/2007. Tác giả chứng minh tầm quan trọng
của CSR trong doanh nghiệp tới sự phát triển xã hội: chú ý phát triển cơ sở hạ
7
tầng cứng và mềm, giao thông vận tải, nhất là các hành lang kinh tế, phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành dịch vụ then chốt như tài chính - ngân
hàng, viễn thông, các nguồn năng lượng mới và tái tạo được.
- Hồng Minh, 2007, “Trách nhiệm xã hội và đạo đức doanh nghiệp”, Báo
Văn hoá và đời sống xã hội, số 2/2007. Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là
những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Thật khó mà thuyết phục doanh
nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa
trên lợi ích kinh tế trước mắt.
- TS. Nguyễn Mạnh Quân, 2004, Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn
hoá doanh nghiệp”, NXB Lao động Xã hôi. Đạo đức kinh doanh và văn hóa
doanh nghiệp là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành bại của
mỗi doanh nghiệp. Đó là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư
duy ảnh hưởng rất lớn tới hành động của các thành viên trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có ai nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp“. Đây là đề tài đầu
tiên Thạc sĩ bàn về vấn đề này.
3. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về Trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp, nội dung và cách thức triển khai Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
- Nghiên cứu thực trạng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên thế giới
và tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất giải pháp để thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở Việt
Nam để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp tại Việt Nam.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hoàng Ánh, cô đã hướng
dẫn cho tác giả làm đề tài khóa luận này. Tác giả chọn và làm đề tài này gặp rất
nhiều khó khăn vì tác giả chưa có nhiều kiến thức về một số vấn đề kinh doanh.
Bài viết của tác giả do kiến thức hạn chế không tránh khỏi những sai sót, khuyết
điểm nên tác giả rất mong nhận được nhiều nhận xét bổ sung để bài viết của
người viết được hoàn thiện hơn. 9
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
DOANH NGHIỆP
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày một gay gắt, việc thỏa mãn khách hàng trở
thành một tài sản quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nỗ lực
nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành của khách hàng, nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ những năm đầu của thập kỷ 90, Trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR - Corporate Social Responsibility) đã thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc
gia phát triển trên thế giới. CSR đã chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong
việc trở thành cơ sở cho các chiến lược cạnh tranh, tiếp thị, xây dựng thương
hiệu, xúc tiến thương mại ở cấp doanh nghiệp, ngành và cả cấp quốc gia Để
tồn tại trong hoàn cảnh đó, giới doanh nhân ngày càng quan tâm chú trọng tới
xây dựng hình ảnh của mình trong mắt công chúng và Đạo đức kinh doanh hay
Trách nhiệm xã hội là những khái niệm được nhắc tới thường xuyên trong
những năm qua.
1.1. Giới thiệu chung
1.1.1. Vài nét về Đạo đức kinh doanh
nảy sinh từ việc quản lý các công ty khổng lồ hoạt động trên phạm vi toàn cầu
và khi họ chứng kiến sự lớn mạnh của các công ty thuộc nền kinh tế Á Đông
truyền thống. Cụ thể vào năm 1974 khái niệm Đạo đức kinh doanh chính thức
được ông Norman Bowie - Giáo sư về Quản trị chiến lược và của Triết học đưa
ra thành một chủ đề: “Vương quốc kết thúc” thảo luận tại một cuộc Hội nghị
Khoa học
2
. Trong thập niên 1980, 1990 vấn đề này đã trở thành đề tài của những
cuộc tranh luận sôi nổi trong các hội nghị, hội thảo, trong các trường học, giữa
các doanh nghiệp, các cổ đông, người lao động… ban đầu là ở Mỹ, sau đó lan
rộng sang các nước khác. Theo tác giả cuốn “Đạo đức kinh doanh” - Verner
Henderson:
“Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm soát
hành vi kinh doanh của một cá nhân, một nhóm người hay một nhóm nghề
nghiệp nhất định nằm mục đích đem lại phúc lợi cho xã hội”
3
.
Còn theo GS. Philip V. Lewis, Mỹ đã tổng quát: “Đạo đức kinh doanh là
tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cấp
chỉ dẫn về hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung thực của một tổ chức trong
2
Nguyễn Hoàng Ánh, “Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam - Thực trạng và Giải pháp”, Đại học Ngoại thương
Hà Nội, tr.1.
3
Verne E. Henderson (1997), Đạo đức kinh doanh, NXB Lao động Xã hội, tr.32.
11
những trường hợp nhất định”
4
4
Dr.Nguyen Hoang Anh (2008), “Bussiness Ethics in Vietnam - Reality and perspective”, www.isbee.org.
5
Jame H. Donnelly/ Jame L. Gibson/ John M. Ivancevich (2002), Quản trị học căn bản, NXB Thống kê, tr. 74.
12
chạy đua lợi nhuận “nhằm tăng lợi nhuận” đúng theo mối ràng buộc của các
doanh nghiệp trên “thương trường - không lừa gạt hay gian lận”. Có thể nói,
khái niệm về CSR của Friedman mới chỉ nhìn ở một phạm vi hẹp đó là một
doanh nghiệp, thấy được lợi ích trước mặt mà bỏ qua lợi ích lâu dài, đó là “phát
triển nhanh, mạnh và bền vững” giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh
nghiệp ngoài nước.
Sau định nghĩa về CSR của Friedman thì xuất hiện hàng loạt các khái niệm
CSR sau đó, mỗi khái niệm ở mỗi thời kì đã bước đầu có sự hoàn chỉnh hơn về
mặt nội dung. “Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng cao hành vi của doanh nghiệp
lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kì vọng xã hội”
6
(Prakash
Sethi, 1975). Hay “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi
của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại
một thời điểm nhất định”
7
(Archie B Caroll, 1979). Còn Maignan I. Ferrell đưa
ra khái niệm CSR như sau: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết
định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của
những cá nhân và tổ chức liên quan”
8
.
Khái niệm CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình
cao so với các định nghĩa khác.
1.1.3. Nội dung của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
1.1.3.1. Phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến
mọi đối tượng, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vậy, phạm vi ảnh
hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong nội bộ
doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần khác nhau trong
xã hội. Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR với 3 khía
cạnh sau:
Phạm vi nội bộ doanh nghiệp: CSR ảnh hưởng đến quan hệ trong và ngoài
hợp đồng lao động và thỏa mãn giữa hai bên; quyền lợi hợp pháp và nghĩa vụ
của người lao động như công việc làm, phúc lợi lao động, quy tắc làm việc, an
toàn lao động,…; xây dựng môi trường ứng xử có đạo đức trong doanh nghiệp.
Phạm vi hoạt động kinh doanh: CSR giải quyết các vấn đề trong giới hạn
các mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác, đối tượng liên quan trực tiếp
tới hoạt động kinh doanh.
Phạm vi xã hội: CSR được đặt ra giải quyết mối quan hệ với tập quán, văn
hóa truyền thống, tôn giáo của từng quốc gia, cộng đồng dân tộc. CSR xem xét
các vấn đề về quyền bình đẳng, quyền lợi trong đời sống xã hội, vấn đề đảm bảo
chữ tín trong kinh doanh.
1.1.3.2. Nội dung của CSR.
CSR có thể được hiểu như một gánh vác tự giác các trách nhiệm khác,
ngoài những trách nhiệm về kinh tế và pháp lý. Cụ thể hơn, là các trách nhiệm
được thể hiện ở sự lựa chọn các mục tiêu của doanh nghiệp và đánh giá kết quả
14
thực hiện, không chỉ đơn thuần dựa vào các tiêu chí lợi nhuận và phúc lợi của
đơn vị mà còn dựa vào những tiêu chí về đạo đức hay tính chính xác đáng so với
mong muốn của xã hội. CSR không chỉ đơn thuần là các hành động nhân đạo, từ
thiện đối với cộng đồng mà yếu tố cấu thành nên CSR rộng hơn rất nhiều, đó là
trong quan hệ kinh doanh. Về cơ bản, trách nhiệm xã hội bao gồm những nghĩa vụ
kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn.
Nghĩa vụ kinh tế là nghĩa vụ đầu tiên và cơ bản nhất của doanh nghiệp thực
hiện CSR liên quan đến cách thức phân bổ trong hệ thống xã hội, các nguồn lực
được sử dụng để làm ra sản phẩm dịch vụ.
Nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp là thực hiện đầy đủ những quy định về
pháp lý chính thức đối với những người hữu quan, trong cạnh tranh đối với môi
trường tự nhiên do pháp luật hiện hành quy định.
10
O.C. Ferrell, John Fraedrich, Linda Ferrell (2005), “Business Ethics- Ethical Decision making & cases”,
Boston Houghton, pp.48.
Nghĩa vụ pháp lý
Nghĩa vụ kinh tế
Nghĩa vụ đạo đức
Nghĩa vụ nhân văn
16
Nghĩa vụ đạo đức của doanh nghiệp được định nghĩa là những hành vi hay
hoạt động được xã hội mong đợi nhưng không được quy định thành các nghĩa
vụ pháp lý. Nghĩa vụ đạo đức chính là nền tảng của nghĩa vụ pháp lý.
Nghĩa vụ nhân văn của doanh nghiệp bao gồm những hành vi và hoạt động
mà xã hội muốn hướng tới và có tác dụng quyết định chân giá trị của tổ chức
hay doanh nghiệp. Nghĩa vụ nhân văn thể hiện những mong muốn hiến dâng của
doanh nghiệp cho xã hội.
1.1.3.3. Đối tượng của CSR.
mục tiêu của hành động, đó cũng chính là “đầu ra” của hoạt động.
Quá trình xử lý (Hình 2)
Đầu vào Đầu ra
Cơ sở để ra quyết định
Tác động Xã hội
Cách thức hành động Giá trị niềm tin.
Các biểu trưng.
Các nghĩa vụ.
Cách thức giải quyết vấn
đề.
Các chương trình hoạt
động của doanh nghiệp.
Tác động tích cực tối đa.
Nguyên tắc, chuẩn mực
đúng - sai.
Sự đồng thuận
thành nguyên tắc.
Tác động tiêu cực tối
thiểu.
Đối tượng hữu quan.
doanh nghiệp hoạt động theo một mục tiêu đúng đắn, tạo nên môi trường kinh
doanh công bằng, bình đẳng, thông thoáng và tạo sự gần gũi giữa các doanh
nghiệp với nhau. Tuy nhiên, pháp luật không thể là căn cứ phán xét một hành
động là có đạo đức hay vô đạo đức trong những trường hợp cụ thể mà nó chỉ
thiết lập những quy tắc cơ bản cho những hành động được coi là có trách nhiệm
trong kinh doanh. Điều đáng chú ý là pháp luật thường ban hành chậm hơn so
với thực tế diễn ra, “độ trễ” nhất định nào đó của pháp luật là cơ hội cho hoạt
động kinh doanh bất hợp pháp xảy ra, và khi sự việc đã rồi thì pháp luật mới căn
cứ vào đó để xây dựng các quy định mới. Ngay cả khi các văn bản pháp luật đã
được ban hành thì để nội dung đi vào “cuộc sống” cũng cần một khoảng thời
gian nhất định. Nói tóm lại, các quy định của pháp luật cũng là những yêu cầu
tốt mà mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối quan hệ với xã hội. Tuân
thủ pháp luật, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều công ăn việc làm,
bảo vệ môi trường,… là doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xã hội của mình.
1.2.2. Nhận thức của Xã hội.
Khi xã hội phát triển cao đồng nghĩa với mức sống của cộng đồng được
nâng cao, do đó nhu cầu của con người cũng phát triển theo. Theo Abraham
Maslow thì con người càng cố gắng thỏa mãn những nhu cầu và khi nhu cầu nào
đó được thỏa mãn lại xuất hiện những nhu cầu tiếp theo, ban đầu là nhu cầu sinh
lý (ăn, mặc, ở, ); sau đó đến nhu cầu an toàn, được bảo vệ; nhu cầu xã hội (các
19
vấn đề về tình cảm); nhu cầu được tôn trọng, được công nhận, có địa vị; cuối
cùng là nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển và tự thể hiện mình.
Hình 3: Thứ bậc nhu cầu theo A. Maslow
12
(Nguồn: Nguyễn Thường Lạng, Tạp chí Nhà quản lý “Thuyết nhu cầu của
Maslow với việc phát triển kỹ năng khuyến khích nhân viên”)
tác động tới giác quan của họ. Bởi vậy, trong giai đoạn toàn cầu hóa đang phát
triển nhanh chóng, khoảng cách về công nghệ, kỹ thuật giữa các nền kinh tế
ngày một rút ngắn, chất lượng sản phẩm ngày càng đồng đều hơn thì để tồn tại
và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Lúc đó, CSR và Đạo đức
kinh doanh là nguồn lực, nguồn vốn mới cho doanh nghiệp trong cạnh tranh
quốc tế. Chính hai nguồn lực này sẽ tác động và thúc đẩy người tiêu dùng thay
đổi quan niệm tiêu dùng của họ. Trong xu thế toàn cầu hóa với sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt và quyết liệt, mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp đều phải
không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, trong đó khả năng cạnh
tranh về nguồn nhân lực và môi trường đầu tư đóng vai trò quan trọng. Toàn cầu
hóa kinh tế và nhất thể hóa kinh tế khu vực làm gia tăng sự liên kết giữa các
doanh nghiệp của các nước, nhưng đồng thời cũng buộc các doanh nghiệp phải
trực tiếp cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, có những khu vực,
những nước và doanh nghiệp giàu lên nhanh chóng nhờ toàn cầu hóa; nhưng có
những khu vực, những nước và doanh nghiệp bị thua thiệt hoặc thậm chí bị đẩy
ra khỏi dòng chảy sôi động của thương mại và đầu tư quốc tế. Hiện nay, các
doanh nghiệp luôn chú trọng tới ba sự cạnh tranh: chất lượng, giá cả và mẫu mã.
1.3. Các công cụ thực hiện và đánh giá hiệu quả hoạt động của CSR.
1.3.1. Các công cụ thực hiện Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Đạo đức thường được hiểu là những ràng buộc bất thành văn, CSR đã được
cụ thể hóa thành các văn bản cho các doanh nghiệp tùy nghi áp dụng. Theo
thống kê, hiện nay trên thế giới có hơn 1000 bộ quy tắc ứng xử thể hiện Trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan đến các nội dung: an toàn vệ sinh lao động
nơi sản xuất, chăm sóc sức khỏe người lao động và bảo vệ môi trường như một
chứng chỉ phổ biến: SA 8000 - tiêu chuẩn lao động trong các nhà máy sản xuất;
WRAP- trách nhiệm toàn cầu trong ngành sản xuất may mặc; FSC- bảo vệ rừng
bền vững; ISO 14 001 - hệ thống quản lý môi trường trong doanh nghiệp;…
Ví dụ SA 8000 là một trong 3 tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu. Theo đánh giá của các chuyên
chính:
13
www.taptritriethoc.com.vn, Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau.
22
Quy tắc ứng xử của các tổ chức quốc tế như: ISO, Công ước ILO, GC,
OECD.
Quy tắc ứng xử của của các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức hiệp hội
ngành nghề: Bộ Quy tắc ứng xử của Nike (Tập đoàn thể thao), Adidas (Tập
đoàn thời trang), FTA (Hiệp hội Ngoại thương).
Quy tắc ứng xử của các tổ chức độc lập như: SAI (Tổ chức Trách nhiệm xã
hội Quốc tế), FLA (Nhượng quyền Thương mại)
Các doanh nghiệp sẽ cần thu thập đầy đủ các thông tin để lựa chọn thực
hiện Bộ Quy tắc ứng xử nào phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình. Bộ luật
ứng xử BSCI: ra đời nhằm đảm bảo tuân thủ với các tiêu chuẩn xã hội và môi
trường cụ thể. BSCI là Bộ Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội
trong kinh doanh. BSCI ra đời năm 2003 từ đề xướng của Hiệp Hội ngoại
thương (FTA) với mục đích thiết lập một diễn đàn chung cho các quy tắc ứng xử
và hệ thống giám sát ở Châu Âu về CSR. Các công ty cung ứng phải đảm bảo
rằng Bộ luật ứng xử này cũng được xem xét bởi các nhà thầu phụ có liên quan
đến các quy trình sản xuất của giai đoạn sản xuất sau cùng được thực hiện thay
cho các thành viên của BSCI. Các yêu cầu sau đây là đặc biệt quan trọng và phải
được thực hiện theo một cách tiếp cận mang tính phát triển:
1. Tuân thủ pháp luật: Tuân theo tất cả các quy luật và quy định được áp
dụng, các tiêu chuẩn công nghiệp tối thiểu, các thỏa thuận Tổ chức lao động
quốc tế và Liên Hiệp quốc, và những yêu cầu khác do luật pháp quy định, áp
dụng luật nào nghiêm ngặt hơn.
2. Tự do lập Hội và Quyền Thương lượng Tập thể: Quyền của mọi cá nhân
để hình thành và tham gia các tổ chức đoàn thể theo ý họ và để thương lượng tập
lương ở mức tốt nhất. Mỗi người lao động được phép có ít nhất một ngày nghỉ
sau sáu ngày làm việc liên tục.
6. Y tế và An toàn nơi làm việc: Một tập hợp rõ ràng các quy định và thủ
tục phải được lập ra và tuân thủ theo đối với vấn đề y tế và an toàn nơi làm việc,
đặc biệt là dự phòng và sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân, phòng tắm sạch sẽ, có
thể sử dụng nước uống được và nếu được cần cung cấp các thiết bị vệ sinh an
toàn cho kho lưu trữ thực phẩm. Cấm các quy định và các điều kiện trong phòng
24
ngủ vi phạm các quyền cơ bản của con người. Đặc biệt không cho phép người
lao động nhỏ tuổi làm việc trong những tình huống nguy hiểm, không an toàn
hoặc không tốt cho sức khỏe.
Đặc biệt, cần phải chỉ định rõ người đại diện quản lý chịu trách nhiệm về y
tế và an toàn cho tất cả các cá nhân và phải có khả năng quy trách nhiệm đối với
việc thực hiện các quy định về Y tế và An toàn của BSCI. Tất cả mọi cá nhân
đều phải được huấn luyện về y tế và an toàn thường xuyên và có ghi nhận, ngoài
ra việc huấn luyện như vậy phải được lặp lại cho những người mới và những
người được phân giao nhiệm vụ lại. Cần phải thiết lập các hệ thống để phát hiện,
ngăn ngừa hoặc phản ứng lại đối với những nguy hiểm tiềm ẩn đối với sức khỏe
và an toàn của tất cả mọi người.
7. Cấm sử dụng lao động trẻ em: Cấm sử dụng lao động trẻ em được ghi rõ
trong các Công ước của ILO và Liên Hiệp quốc và/ hoặc luật pháp quốc gia.
Trong số các tiêu chuẩn khác nhau này, tiêu chuẩn nào nghiêm ngặt nhất sẽ
được tuân thủ. Cấm bất cứ hình thức bóc lột trẻ em nào. Cấm những điều kiện
làm việc như nô lệ hoặc có hại cho sức khỏe trẻ em. Quyền của các lao động trẻ
tuổi phải được bảo vệ. Trong trường hợp nhận thấy những trẻ em làm việc trong
những tình huống đúng với những định nghĩa về lao động trẻ em ở trên, công ty
cung ứng đó cần phải thiết lập và lưu lại các chính sách, thủ tục để bù đắp cho
những trẻ em phải làm việc như vậy. Hơn nữa, công ty cung ứng đó cần phải
được cung cấp hỗ trợ thích hợp để cho phép những trẻ em đó được tiếp tục đi
mại quốc tế đã không được thừa nhận tại WTO cũng như các diễn đàn quốc tế
khác. Bởi vậy, các CoC không phải là các công ước quốc tế, cũng không phải
thoả thuận giữa chính phủ với chính phủ mà chỉ là thoả thuận giữa doanh nghiệp
với doanh nghiệp (bên bán và bên mua hàng hoá, dịch vụ).
2. Các CoC không thay thế, không đứng trên luật quốc gia. Việc thực hiện
các CoC ở bất cứ quốc gia nào phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ việc
thực hiện luật quốc gia.
3. Phần lớn nội dung của CoC dựa trên các công ước và thông lệ quốc tế (ví
dụ ILO) và luật quốc gia. Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở các CoC là đưa ra cách
14
Nguyễn Hữu Dũng, “Trách nhiệm xã hội daonh nghiệp của Việt Nam”, Viện Khoa học và Lao động xã hội,
http://hanoi.vnn.vn/chuyen_de/ttvhdn/clbdn/bai06.asp.