Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội trên địa bàn huyện ba vì, thành phố hà nội - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


PHAN THỊ THÚY

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Ở MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS. TS. PHẠM NGỌC THỤY
HÀ NỘI, NĂM - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

và địa phương.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn trân trọng nhất tới giáo viên hướng dẫn khoa học
PGS. TS Phạm Ngọc Thụy đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo trong
khoa và nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND Huyện Ba Vì, Hội đồng Bồi thường Giải
phóng Mặt bằng Ba Vì, Trung tâm phát triển quỹ đất, phòng TN&MT huyện, phòng
công thương, UBND Thị trấn Tây Đằng, các xã Đồng Thái, Minh Quang đã giúp đỡ
tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn Phan Thị Thúy

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Mục đích và yêu cầu 2

2.2.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy công tác thu hồi đất ở huyện
Ba Vì nói riêng và TP Hà Nội nói chung 28
2.3. Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Ba Vì 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì 36
3.1.3. Hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của
huyện Ba Vì
44
3.2. Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư trên địa bàn
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 50
3.2.1. Những kết quả đạt được 50
3.2.2. Những khó khăn, vướng mắc 53
3.2.3. Đánh giá công tác bồi thường, thu hồi đất, tái định cư trên địa bàn
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 54
3.3. Thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư ở ba dự án
nghiên cứu
55
3.3.1. Khái quát ba dự án 55
3.3.3. Kinh phí bồi thường hỗ trợ của ba dự án 68
3.3.4. Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
của ba dự án 72
3.4. Những tác động của việc thu hồi đất đến đời sống việc làm của người
dân thuộc 03 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội huyện Ba Vì. 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.5. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy công tác thu hồi đất ở huyện Ba Vì
nói riêng và TP Hà Nội nói chung 76

Bảng 3.8: K inh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB dự án xây dựng trường
THPT Minh Quang: 70

Bảng 3.9: Kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB: 71

Bảng 3.10: Tổng hợp diện tích, kinh phí bồi thường hỗ trợ của ba dự án 72

Bảng 3.11: Tổng hợp thống kê theo điều tra sử dụng tiền sau bồi thường 75

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Chữ viết tắt đầy đủ
1 ADB Ngân hàng phát tiển Châu á
2 BTHT&TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
3 CNH-HĐN Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
4 CP Chính phủ
5 GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng
6 GPMB Giải phóng mặt bằng
7 HĐND Hội đồng nhân dân
8 HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
9 NĐ Nghị định
10 NTTS Nuôi trồng thủy sản
11 QĐ Quyết định
12 TĐC Tái định cư

gia tăng cả về số lượng và mức độ gay gắt, phức tạp về nội dung. Điều này cho thấy
chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế, chính sách bồi thường nói
chung và các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói
riêng nhằm hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người
có đất bị thu hồi cần phải có nhiều nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên
sâu về các khía cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách
quan thực trạng công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư; nắm rõ bản chất của các vấn
đề còn bất cập.
Trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua đã có nhiều
“điểm nóng” do thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

đất chưa tốt, người dân khiếu nại, tố cáo với số đông, gây mất ổn định xã hội, việc
giải quyết, khắc phục kéo dài, mất nhiều thời gian.
Huyện Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, vị trí địa lý trên đã
tạo cho huyện Ba Vì những điều kiện lý tưởng để thu hút đầu tư, đặc biệt là
từ 01/8/2008, Ba Vì là một huyện của Hà Nội (Hà Tây sáp nhập Hà Nội).
Huyện Ba Vì trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi, nhiều dự án
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khu thương mại dịch vụ, đường giao thông đã và
đang được triển khai thực hiện và vấn đề thu hồi đất nhanh hay chậm ảnh hưởng rất
lớn đến các dự án này. Cũng như các địa phương khác trong cả nước công tác bồi
thường, GPMB để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện cũng gặp một số
khó khăn vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về thủ tục thu hồi
đất, bồi thường đã làm cho dự án chậm tiến độ. Đặc biệt ở một số dự án xây dựng
cơ sở hạ tầng xã hội như: dự án về giao thông, bệnh viện, trường học đều gặp nhiều
khó khăn trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng .
Từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự

- Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng
đất vi phạm pháp luật về đất đai (Quốc Hội, 2013).
- Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. (Quốc Hội, 2013).
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất
thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển. (Quốc Hội, 2013).
Tái định cư
Theo Từ điển Tiếng Việt: Tái định cư được hiểu là: Đến một nơi nhất định để
sinh sống lần thứ hai (lại một lần nữa). (Từ điển Tiếng Việt, 2010).
Mặc dù thuật ngữ tái định cư được pháp luật đất đai đề cập nhưng lại chưa có
quy định nào giải thích cụ thể nội hàm của khái niệm này. Luật Đất đai năm 2013 quy
định: 1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ
chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất. 2. Khu tái định cư tập
trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây
dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. 3. Việc thu
hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng
của khu tái định cư. (Quốc Hội, 2013).
Từ quy định trên của pháp luật đất đai hiện hành, chúng ta có thể tạm đưa ra quan
niệm về tái định cư như sau :
Tái định cư (TĐC) khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là việc di chuyển
người có đất bị thu hồi đến sinh sống ổn định tại một nơi mới thông qua các hoạt
động hỗ trợ của Nhà nước nhằm giúp người bị thu hồi đất ổn định đời sống, sản
xuất tại khu tái định cư.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với
đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục cuộc sống cho những người dân bị thu
hồi đất để xây dựng các dự án. Tái định cư còn bao gồm hàng loạt các hoạt động

của một số nước và các tổ chức trên thế giới.
1.1.2.1. Tại Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc
Tại Trung Quốc:
Cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc không thừa nhận tư hữu đối với đất
đai. Dưới hệ thống kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa (XHCN), quyền sở hữu tài sản
đối với tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất phần lớn đều bị quốc
hữu hóa ngay sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền lực vào năm 1949.
Quá trình này được tiến hành song song với các “phong trào”: “Bước nhảy vĩ đại”
(1957 – 1962); “Tập thể hóa đất đai ở nông thôn” (1963 – 1965); “Cách mạng văn
hóa” (1966 – 1978). Tuy nhiên, việc quốc hữu hóa toàn bộ đất đô thị của nước này
chỉ chính thức hoàn tất sau khi Hiến pháp 1982 được ban hành. Đất đô thị thuộc về
Nhà nước và được quản lý bởi nhà nước Trung Quốc – người chịu trách nhiệm
trước toàn xã hội. Quyền sở hữu đối với bộ phận đất đai này được chính thức gọi là
sở hữu toàn dân XHCN. Là người đại diện cho toàn dân, về mặt lý thuyết, Nhà
nước Trung Quốc có toàn quyền của một chủ sở hữu.
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm
bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải
phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm
nhiệm. Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn
vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức
chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một
là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai
là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi
thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân
ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông
thôn. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là
chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian
để đánh giá, xác định giá. Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những

tiền. Giá tiền bồi thường do các tổ chức tư vấn về giá đất xác định căn cứ vào giá
bất động sản tại thời điểm thu hồi. Ngược lại, việc bồi thường cho người dân ở khu
vực nông thôn lại có những đặc điểm riêng biệt. Nhà nước quan tâm tới nông dân,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

tạo điều kiện cho họ được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hoác khu
thu hồi đất. Gắn công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội
Về phương thức bồi thường thiệt hại: Nhà nước thông báo cho người sử dụng
đất biết trước việc sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa
chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới. Tại thủ đô
Bắc kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại
bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm việc của mình.
Các khoản tiền bồi thường phải được đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất
có chỗ ở bằng hoặc tốt hơn so với nơi ở cũ. Ở Bắc Kinh, phần lớn người dân bị thu
hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ. Nhưng vì vấn đề ô nhiễm ở Bắc
Kinh nên buộc thành phố phải đóng cửa nhiều nhà máy, xí nghiệp và hạn chế tối đa
việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, trường học trong thành phố. (Gia Minh,
2014).
Về giá bồi thường thiệt hại: tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng
được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều
chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều
chỉnh tại thị trường đó. Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính
chất của đất và loại đất (tốt, xấu).
Về tái định cư: các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và
kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng
khác nhau. Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều
kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước chú ý và có
chính sách xã hội riêng.
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những

quan định giá, cơ quan đăng ký đất đai phải đảm bảo được tính hiệu quả và minh bạch
trong hoạt động của mình; một chính sách đất đai cởi mở, không còn phân biệt đối xử
giữa các loại chủ thể SDĐ phù hợp hơn với quá trình hội nhập, chẳng hạn như việc áp
dụng hình thức “giao đất” cho nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc đã làm; một hệ
thống các yếu tố trung gian với quy chế pháp lý đầy đủ, rõ ràng để có thể hỗ trợ một
cách hiệu quả cho thị trường QSDĐ. ( Lưu Quốc Thái, 2008).
Tại Thái Lan
Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị
hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo
trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù.
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu một dự án mang tính
chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường. Nhìn
chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với
mức cao hơn giá thị trường.
Chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng tại Hiến Pháp năm 1982
quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát
triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công
cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do
việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ
mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó. Dựa trên quy định này, các ngành có quy
định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho việc
trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng,
phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị,
nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng. Luật quy
định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài

+ Hai là: Luật “Sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công
pháp.
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong
một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “Sung công đất” đã
được xây dựng vào năm 1962. Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng
thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên toàn quốc và đảm bảo
quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm 1975 và dựa vào hai luật
trên, Hàn Quốc đã triển khai bồi thường thiệt hại cho đến nay. Tuy nhiên dưới hai
thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “Đặc lệ” thương lượng không đạt được
thoả thuận thì luật “Sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu
như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian
có thể bị kéo dài hoặc chi phí bồi thường sẽ tăng lên. Do đó luật bồi thường thiệt hại
của Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo 3 giai đoạn:
+ Thứ nhất tiền bồi thường đất đai sẽ được giám định viên công cộng đánh
giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự
khách quan trong việc bồi thường.
+ Thứ hai pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có
quyền sử hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất. Quy trình
chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương
lượng chấp nhận thu hồi.
+ Thứ ba biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng. Chế độ này được Nhà
nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người,
cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công
cộng cần thiết của Nhà nước. Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự
nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc giải phóng mặt bằng. Theo luật bồi
thường, nếu như toà nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì

phục cuộc sống cho người bị thu hồi đất. Mặc dù Nghị định 197/2004/NĐ-CP và
Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ đã tăng thêm mức bồi thường cũng như
các chính sách hỗ trợ để ổn định đời sống và các hoạt động sản xuất của người bị thu
hồi đất, song vẫn chưa đạt được mục tiêu khôi phục mức sống như khi không có dự
án. Vì vậy các dự án do Ngân hàng Phát triển Châu á cho vay phải được các bộ chủ
quản dự án thông qua như các chương trình TĐC đặc biệt và khi tổ chức thực hiện
cũng thường gặp những khó khăn nhất định, đặc biệt trong việc gây ra sự bất bình
đẳng giữa các cá nhân và hộ gia đình trong cùng một địa phương nhưng lại hưởng các
chính sách bồi thường khác nhau của các dự án khác nhau.
Các chính sách của Nhà nước ta chỉ bồi thường cho những người có quyền sử
dụng đất hợp pháp hoặc có khả năng hợp pháp hoá quyền sử dụng đất. Tuy nhiên Nghị
định 197/2004/NĐ-CP có quy định thêm đối với những trường hợp không được bồi
thường thiệt hại về đất là: “Trong trường hợp xét thấy cần hỗ trợ thì UBND cấp tỉnh xem
xét quyết định đối với từng trường hợp cụ thể”, chính nội dung này đã là mối nối, bù đắp
sự khác biệt giữa hai chính sách của Nhà nước ta và của ADB.
Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường và TĐC bao giờ cũng phải
hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng trong khi ở Việt Nam
chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (có rất nhiều dự án vừa giải toả mặt bằng
vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phóng mặt bằng xong thì thi công trước để
chống lấn chiếm đất đai ).
Công tác TĐC đòi hỏi các chủ dự án phải quan tâm nhiều hơn nữa và giúp
đỡ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình TĐC, từ việc tìm nơi ở mới thích
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất đai phải di chuyển, phải tổ chức các
khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề
nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư.
Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ những
thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án cho các hộ

84/2007/NĐ-CP, Nghị định Nghị định số 69/2009/NĐ-CP đã mở rộng hơn khái
niệm hợp pháp, đồng thời có quy định rõ ràng các trường hợp không được bồi
thường về đất nếu xét thấy cần được hỗ trợ thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương ra quyết định đối với từng trường hợp cụ thể.
- Theo chính sách của ADB thì việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao
giờ cũng phải hoàn thành xong trước khi tiến hành công trình xây dựng, trong khi
ở Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về thời hạn này (rất nhiều dự án vừa giải tỏa
mặt bằng vừa triển khai thi công, chỗ nào giải phóng mặt bằng xong thì thi công
trước tránh lấn chiếm đất đai), do vậy, nhiều gia đình còn chưa kịp thời sửa chữa,
xây dựng lại hoặc xây dựng nhà ở mới ổn định trước khi giải tỏa.
- Quy định của ngân hàng ADB là không những phải thông báo đầy đủ các
thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án cho các hộ
dân mà còn tham khảo ý kiến và tìm mọi cách thỏa mãn các yêu cầu chính đáng của
họ trong suốt quá trình kế hoạch hóa cũng như thực hiện công tác tái định cư. Ở
Việt Nam, thực tế cho thấy việc thực hiện đầy đủ nội dung này là rất khó khăn, vì
việc thu hồi đất là quyền của Nhà nước, nhưng việc di chuyển theo kế hoạch như
thế nào, tái định cư ra sao hầu như không trả lời ngay được.
- Theo quy định của Ngân hàng ADB, ngoài giám sát nội bộ, cơ quan thực
hiện dự án phải thuê một tổ chức bên ngoài giám sát độc lập để đảm bảo những
thông tin là khách quan. Nhiệm vụ của cơ quan giám sát độc lập phải kiểm tra xem
các hoạt động tái định cư có được triển khai đúng không? Từ đó có những kiến nghị
biện pháp giải quyết, sao cho công tác tái định cư đạt được mục tiêu cuối cùng là
giải quyết những vướng mắc nảy sinh. (ADB, 2012).
Các chính sách hiện hành tại Việt Nam chưa có quy định về giám sát độc lập
về tái định cư. Cho nên việc giám sát độc lập công tác tái định cư là công tác khá
mới mẻ ở Việt Nam và ít cá nhân quen với công việc này.
- Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng còn theo
chính sách hiện hành của Việt Nam thì vẫn còn hạn chế.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

- Về việc bồi thường thiệt hại do lấy đất gây nên phải bồi thường hai khoản: Về
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trung thu.
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức.
- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và cac công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ
xây dựng cái khác.
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa
phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển.
Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị
định này là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Cách
bồi thường như vậy được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời.
1.2.2. Thời kỳ từ 1987 đến năm 1993
Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực
hiện bồi thường về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện bồi thường những tài
sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên.
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thường cũng cơ bản
dựa trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980.
Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về
việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào
mục đích khác thì phải bồi thường. Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông
nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất. Mỗi
hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu. UBND các tỉnh, thành phố quy
định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa
phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức. Tổ chức, cá nhân
được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì
phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước. Khoản tiền này được
nộp vào ngân sách Nhà nước và sử dụng vào việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải
tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status