ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ VĂN SƠN Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN THANH SƠN- TỈNH PHÚ THỌ” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014 Thái Nguyên, năm 2014
Để thực hiện tốt việc học tập đi đôi với thực hành, lý thuyết gắn liền với
thực tiễn. Thực tập tốt nghiệp là một khâu không thể thiếu đối với mỗi sinh
viên chúng em nhằm tổng hợp, củng cố lại những kiến thức đã được học vận
dụng vào thực tiễn, tính sáng tạo để nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
Qua thời gian bốn năm học tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên. Được sự quan tâm của Nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo,
đến nay tập thể lớp chúng em nói chung và bản thân em nói riêng đã hoàn
thành chương trình học. Trước hết cho phép em được gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo, và tập thể các thầy cô
giáo, các lãnh đạo và các cán bộ UBND huyện Thanh Sơn đã hết sức nhiệt
tình tạo mọi điều kiện giảng dạy một cách tốt nhất để em có được những kiến
thức quý báu, tạo những bước đầu tiên trong công tác của em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Lê Văn Thơ. Thầy
đã quan tâm, trực tiếp hướng dẫn em trong thời gian thực tập, viết khóa luận
tốt nghiệp để em có những điều kiện hoàn thành đề tài một cách tốt nhất.
Do thời gian, kinh nghiệm và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên
bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các thầy cô giáo và bạn bè để bài
khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày 30 tháng 04 năm 2014
Sinh viên
Hà Văn Sơn
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
10
GPMB
Giải phóng mặt bằng
11
GCNQSD
Giấy chứng nhận quyền sử dụng
12
KT – XH
Kinh tế, xã hội
13
NĐ
Nghị định
14
NTS
Đất nuôi trồng thủy sản
15
HT
Hỗ trợ
16
HĐBT
Hội đồng bồi thường
17
QĐ
Quyết định
18
TT
Thông tư
19
TP
Thành phố
43
Bảng 4.7: Kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng
45
Bảng 4.8: Tổng hợp ý kiến nhận xét của người dân về công tác bồi
thường GPMB của dự án
46
Bảng 4.9: Tổng hợp ý kiến nhận xét của người dân về công tác hỗ
trợ của dự án
48
Bảng 4.10: Tổng hợp ý kiến người dân về công tác tái định cư
48
Bảng 4.11: Tổng hợp ý kiến nhận xét của cán bộ chuyên môn về
lĩnh vực quản lý đất đai
51
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Khái niệm về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 4
2.1.1. Bồi thường 4
2.1.2. Hỗ trợ 4
2.1.3. Tái định cư 5
2.2. Cơ sở khoa học 5
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.3. Nội dung nghiên cứu 21
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, KT- XH của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 21
3.3.2. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất để thực hiện dự án 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 22
3.4.2. Phương pháp điều tra thực tế 22
3.4.3. Phương pháp thống kê tổng hợp, phân tích số liệu và xử lý số liệu 22
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGIÊN CỨU 23
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Thanh Sơn 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
4.1.1.1. Vị trí địa lý 23
4.1.1.2. Đặc điểm khí hậu 23
4.1.1.3. Địa hình, địa mạo 24
4.1.1.4. Thủy văn 25
4.1.1.5. Các nguồn tài nguyên 25
4.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội 28
4.1.2.1. Dân số và lao động 28
4.1.2.2. Mức sống dân cư 28
4.1.2.3. Thực trạng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 28
Đơn vị tính: Tỷ đồng 29
4.1.3. Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Sơn 30
4.1.4. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai 31
4.2. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất để thực hiện dự án 32
4.2.1. Sơ lược dự án “Tưới cây vùng đồi huyện Thanh Thủy phục vụ chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển nông thôn vùng chậm lũ Tam
5.2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
1 PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản Quốc gia có giá trị lớn, có vị trí đặc việt quan trọng
đối với đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là tư liệu sản xuất đặc biệt và
là điều kiện tối thiểu đảm bảo cho quá trình tái sản xuất giúp xã hội không
ngừng phát triển. Ở nước ta, Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý: Nhà nước giao
đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu
dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc sử dụng đất đai
hợp lý và hiệu quả là nhiệm vụ của toàn xã hội.
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta đề xướng, trong các năm gần
đây kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ ổn định, các lĩnh vực văn hóa, giáo
dục, khoa học, xã hội,… ngày càng được cải thiện. Sự phát triển chung của
nền kinh tế xã hội cũng như của đất nước, trước hết đặt ra phải xây dựng hệ
thống hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao thông đường bộ, hệ thống
thủy lợi, hệ thống lưới điện quốc gia… là điều kiện rất cơ bản để phát triển nông
nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Để xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế, Nhà nước phải thu hồi đất của người sử
dụng đất và phải bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người bị thu hồi.
Trong thời gian qua Đảng và nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong
việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
Tuy nhiên đất đai và công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết những tồn
tại, khó khăn, trong quá trình thực hiện nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các
dự án đầu tư trên địa bàn, giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày
càng hiệu quả.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững chính sách pháp luật đất đai; chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các vản bản có liên quan.
- Nắm chắc khung giá bồi thường của Chính phủ, địa phương và các
quyết định có liên quan.
- Các số liệu, tài liệu điều tra, khảo sát phải đầy đủ, đảm bảo tính trung
thực, chính xác và khách quan.
- Tổ chức trao đổi, tọa đàm về tình hình thực hiện công tác bồi thường,
hỗ trợ giải phóng mặt bằng với một số cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện.
3 - Đưa ra các giải pháp cụ thể trong việc tổ chức thực hiện các dự án
nghiên cứu.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp sinh viên củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã học, học hỏi
kiến thức, kinh nghiệm thực tế, nắm chắc các chính sách pháp luật về đất đai;
những chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và các văn bản có liên quan.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ quá trình nghiên cứu đề tài, giúp tìm ra những thuận lợi và khó khăn
của công tác bồi thường GPMB để từ đó rút ra những giải pháp khắc phục,
góp phần thúc đẩy nhanh tiến độ bồi thường GPMB.
4
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [10].
2.1.2. Hỗ trợ
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu
5 hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di
dời đến địa điểm mới [10].
2.1.3. Tái định cư
Tái định cư là người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất theo quy định
mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình
thức sau: Bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường
bằng tiền để tự lo chỗ ở mới [6].
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường GPMB
Công tác GPMB góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các
nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển, các sơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở
nước ta thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư hầu khắp
các vùng miền trên cả nước, đặc biệt tại các thành phố lớn đã đóng góp vào sự
thành công bước đầu của công cuộc “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”, thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của
nhân dân. Đạt được kết quả nêu trên công tác bồi thường, GPMB đóng vai trò
không nhỏ để các dự án phát huy hiệu quả.
Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp. Nó thể hiện
khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các
bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất
khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và có trình độ dân trí nhất
định. Đối với mỗi khu vực nội thành, khu vực ven đô, ngoại thành… mật độ
dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một
14, 15 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009. Việc bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư phải thực hiện công khai, dân chủ và đúng pháp
luật. Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được xác định thành một mục
riêng trong tổng vốn đầu tư của dự án.
Theo Điều 42 của Luật đất đai quy định:
1. Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất
có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Điều 50 của Luật này thì người bị
thu hồi đất được bồi thường, trừ các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12
Điều 38 và các Điểm b, c, d, đ và g Khoản 1 Điều 43 của Luật này.
2. Người bị thu hồi đất loại nào thì được bồi thường bằng việc giao đất
mới có cùng mục đích sử dụng đất, nếu không có đất để bồi thường thì bồi
thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
7 3. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự
án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất cho người
bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch
chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn phải có điều kiện phát triển
bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
4. Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được
bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của
Nhà nước đối với khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông
thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi
thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với diện tích
chênh lệch.
5. Trường hợp thu hồi của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà
không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc bồi
thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định
dụng đất của người sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất;
Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 07 năm 2007 của Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường hướng dẫn thi hành nghị định 84/2007/NĐ-CP của
Chính phủ;
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/4/2010 của Bộ Tài chính quy
định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
2.2.3. Một số yếu tố tác động đến công tác bồi thường, GPMB
Trong quá trình thực hiện bồi thường, GPMB có rất nhiều yếu tố tác
động, nó có thể thúc đẩy quá trình diễn ra nhanh chóng, nhưng cũng có thể
làm chậm tiến độ thực hiện, điều đó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như:
- Yếu tố quản lý Nhà nước về đất đai; những cơ chế, chính sách của
Nhà nước trong vấn đề bồi thường GPMB.
- Tác động của công tác quy hoạch, kế hoạch hóa việc sử dụng đất.
- Nhiệm vụ ban hành và quản lý thực hiện các văn bản pháp luật về
quản lý, sử dụng đất tác động đến công tác bồi thường GPMB.
9 - Tác động của công tác giao đất, cho thuê đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý hợp đồng sử
dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý Nhà nước về đất đai và quản lý
trang nhân dân, tổ chức đoàn thể của Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước
thanh lý, hóa giá nhà ở, bán nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữu Nhà nước
trước ngày 05 tháng 07 năm 1994 hoặc giấy tờ bán nhà ở do tổ chức chuyên
quản nhà ở bán theo quy định tại Nghị định số 61/1994/NĐ-CP ngày 5 tháng
7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.
Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người đang
sử dụng đất quy định tại điểm e Khoản 3 Điều 8.
Các loại giấy từ khác chứng minh việc tạo lập nhà ở, đất ở nay được
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND
cấp tỉnh) nơi có đất ở công nhận.
Về giá để tính bồi thường là giá theo mục đích đang sử dụng tại thời
điểm có quyết định do UBND tỉnh công bố hàng năm theo quy định của
Chính phủ.
2.2.4.2. Giá đất để tính bồi thường
Giá đất để tính bồi thường quy định tại Điều 9 của Nghị định số
197/2004/NĐ-CP là giá đất theo mục đích đang sử dụng các loại đất bị thu
hồi, được UBND tỉnh quy định và công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.
Trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh công bố chưa sát với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường
thì UBND cấp tỉnh giao cho cơ quan chức năng xác định lại giá đất cụ thể để
quyết định giá đất tính bồi thường cho phù hợp và không bị giới hạn bởi
khung giá các loại đất [8].
2.2.4.3. Bồi thường đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Bồi thường đối với đất nông ghiệp của hộ gia đình, cá nhân thực hiện
theo quy định tại Điều 16 Nghị dịnh số 69/2009/NĐ-CP như sau:
Đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm: Đất trồng cây hàng năm,
đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thủy
sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Đối với đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy
ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình
xây dựng và quy định thời hạn bồi thường tái định cư hoàn thành trước một
tháng khi dự án triển khai thực hiện.
Khôi phục thu nhập là một yếu tố quan trọng của tái định cư khi những
người bị ảnh hưởng bị mất cơ sở sản xuất, công việc kinh doanh, làm việc
thay thế những nguồn thu nhập khác, bất kể là họ có mất nơi ở hay không.
WB và ADB quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi
thường tái định cư của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham
12 khảo ý kiến, hợp tác và tìm mọi cách để thỏa mãn nhu cầu chính đáng của
người bị thu hồi trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường tái định cư cho
tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch.
Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường tái định cư được WB và
ADB coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án. Mức độ chi tiết
của kế hoạch phụ thuộc và số người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự
án. Kế hoạch bồi thường tái định cư được coi là một phần của chương trình
phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị ảnh
hưởng. Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển
hòa nhập được với cộng đồng mới. Để thực hiện các biện pháp này, nguồn tài
chính và vật chất cho việc di dân luôn được chuẩn bị sẵn.
2.3.1.2. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, có thể nói mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt
bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện
dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn
bị cần thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà
nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho người bị thu hồi đất có thể khôi phục
lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.
tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư.
Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh.
Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương
trình bồi thường hỗ trợ tái định cư.
Thứ ba, quyền sở hữu đất đai tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường
hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn. Tiền đền bù cho
đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để
tìm kiếm, phát triển đất đai mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng
để phát triển kết cấu hạ tầng. Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân
chia cho các hộ bị ảnh hưởng.
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là
vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB
trước khi xây xong nhà tái định cư,
2.3.1.3. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng như nhiều nước khác trong khu vực Châu Á, quá
trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế
thị trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án cho Chính Phủ quản lý, việc
14 đền bù được tiến hành theo trình tự: Tổ chức nghe ý kiến người dân; Định giá
đền bù. Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án. Nếu dự án mang
tính chiến lược quốc gia thì Nhà nước đền bù với giá rất cao so với thị trường.
Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, Nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều
đền bù với mức cao hơn giá thị trường.
2.3.2. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
2.3.2.1. Thực trạng công tác bồi thường GPMB ở nước ta
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy
2.3.2.2. Nguyên nhân gây khó khăn cho công tác bồi thường GPMB ở nước ta
Có thể nói công tác bồi thường GPMB thật sự là “nút thắt” trong việc
triển khai các dự án đầu tư nếu chúng ta tháo gỡ được những rào cản trong
công việc bồi thường GPMB thì sẽ mang lại hiệu quả cho đời sống người dân,
tuy nhiên vấn đề GPMB còn rất nhiều bất cập bởi một số nguyên nhân sau:
- Chính sách giữa các địa phương trong các tỉnh, giữa các tỉnh với nhau
còn chưa đồng bộ nhất là trong lĩnh vực đền bù giải tỏa, tái định cư khi người
dân bị thu hồi đất. Mỗi dự án, mỗi công trình có mức bồi thường và hỗ trợ
khác nhau, từ đó làm nảy sinh so sánh quyền lợi từ phía người dân.
- Công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền còn nhiều hạn chế,
tình hình lấn chiếm đất đai, giao cấp đất trái thẩm quyền còn diễn ra.
- Công tác thanh tra, kiểm tra và khắc phục tồn tại sau thanh tra, kiểm
tra giải quyết đơn thư khiếu nại về đất đai đôi lúc có nơi chưa được coi trọng.
- Công tác điều tra, khảo sát, xác minh nguồn gốc sử dụng đất, nguồn
gốc nhà ở của cán bộ và chính quyền cấp phường, xã có nơi thiếu chính xác,
thiếu công bằng và nảy sinh tiêu cực.
- Để việc xây dựng bảng giá đất sát với thực tế ở từng địa phương khác
nhau, tại Thông tư liên tịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08 tháng
01 năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính hướng dẫn
xây dựng, thẩm định và ban hành bảng giá đất, điều chỉnh bảng giá đất thuộc
thẩm quyền UBND cấp tỉnh, TP trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, giá đất do
UBND cấp tỉnh đưa ra so với giá thị trường còn chênh lệch quá lớn, giá thực
tế ở nhiều khu vực cao hơn nhiều so với giá quy định của Nhà nước. Cho nên,
nhiều người dân không chấp nhận mức giá đền bù đó.
- Khía cạnh không nhỏ có thể nói là tình hình quản lý Nhà nước về đất
đai tại các cấp cơ sở vẫn còn một số tiêu cực, năng lực thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư của các ban, ngành địa phương và ở các đơn vị tư vấn còn
hạn chế. Tinh thần trách nhiệm, sự tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật, cán bộ thực thi việc kiểm kê, kiểm đếm, lập phương án đền bù còn
chưa cao.
quy định, đơn giá bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thưc hiện
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh.
Tất cả các dự án thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
trong những năm gần đây đều được thực hiện theo đúng quy trình: Các dự án
phải được các cấp chính quyền quán triệt thống nhất và thông báo công khai