TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN MINH QUÂN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
“Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh,
tỉnh Hà Tĩnh”.
Hà Nội – 2016
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
“Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh,
tỉnh Hà Tĩnh”.
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Ngọc Hồng
Họ và tên: Nguyễn Minh Quân
Lớp: LĐH4QĐ1
Hà Nội – 2016
2
Nguyễn Minh Quân
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Dự án đầu tư
Giải phóng mặt bằng
Tái định cư
Luật đất đai
Bồi thường, hỗ trợ
Ủy ban nhân dân
Chữ viết tắt
DAĐT
GPMB
TĐC
LĐĐ
BT, HT
UBND
4
DANH MỤC BẢNG
TT
án nghiên cứu
7
Bảng 3.7. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước của 2 dự án
8
Bảng 3.8 Kết quả điều tra tái định cư
9
Bảng 3.9 Kết quả điều tra tình hình công việc những
người trong độ tuổi lao động của 2 dự án
10
Bảng 3.10 Kết quả điều tra ý kiến người dân về công tác
GPMB
MỞ ĐẦU
5
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tài liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố dân cư, xây dựng các thành phần kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc
phòng. Đất đai là tài sản vô cùng quý giá vì đất đai có đầy đủ thuộc tính của
phương là một đòi hỏi mang tính cấp bách của tỉnh Hà Tĩnh nói chung, thành
phố Hà Tĩnh nói riêng. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh
còn hết sức khó khăn các vướng mắc hầu hết có liên quan đến chính sách hỗ
trợ giải quyết việc làm cho người lao động sau khi Nhà nước thu hồi đất,
khung giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, giá bồi thường công trình, vật
kiến trúc và bồi thường hoa màu trên diện tích đất thu hồi. Đòi hỏi khi thực
hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải đảm bảo đúng chính sách, pháp
luật, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, lợi ích của người sử dụng đất và những
người có quyền lợi liên quan.
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc
xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Tuy nhiên, công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất đang là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, ảnh
hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Do đó, thực tế công tác
bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư vẫn còn nhiều vướng
mắc và tồn tại gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Tình trạng tiến độ giải
phóng mặt bằng chậm là rất phổ biến làm chậm tiến độ thực hiện dự án, để
góp phần thực hiện tốt công tác này tôi thực hiện đề tài : “Đánh giá việc thực
hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
tại một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”.
2. Mục tiêu và yêu cầu
2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá về việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh,
tỉnh Hà Tĩnh.
- Đánh giá về những ưu điểm và hạn chế, bất cập còn tồn tại trong việc
thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Trong đó, giá trị
quyền sử dụng đất có thể là: giá trị bằng tiền, bằng vật chất khác do các quy định
của pháp luật điều tiết hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể đối với một diện tích
đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định.
c. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Trên thực tế, ngoài các khoản bồi thường thiệt hại nói trên thì còn một hình
thức bồi thường khác gọi là hỗ trợ, hỗ trợ tương xứng với với giá trị hoặc
công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác. Hỗ
trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm
mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới.
d. Tái định cư
TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và
làm ăn. TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu
hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển.
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền
với đất; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại sản
xuất và ổn định cuộc sống tại đó.
Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, xã
hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
9
- Bồi thường bằng giao đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở.
1.2. Các yếu tố tác động trong quá trình thực hiện công tác bồi thường,
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
10
Ba là, khả năng giải quyết các chế độ, chính sách đối với các hộ dân trong
vùng bị ảnh hưởng, thái độ và năng lực của cán bộ, công chức của cơ quan có
thẩm quyền khi tiếp xúc với dân trong quá trình giải quyết các chế độ, chính
sách triển khai công tác bồi thường. Những phức tạp này thường nảy sinh do
việc không đạt được sự đồng thuận với người dân về mức giá bồi thường, hỗ
trợ GPMB, hoặc khi đạt được sự đồng thuận thì lại không có khả năng chi trả
nên luôn gây khó khăn về sau và đòi hỏi phải thương lượng lại khi mức giá
thị trường tăng. Sự am hiểu pháp luật, cách giải quyết nhanh gọn cùng với sự
cảm thông, tôn trọng lợi ích của người dân, thấu hiểu được tâm lý và nguyện
vọng của người dân khi thực thi công vụ của cán bộ, công chức sẽ đóng vai
trò rất quan trọng trong việc tạo dựng sự hợp tác của nhân dân trong vùng dự
án nhằm tránh các phản ứng tiêu cực lây lan gây bất lợi cho tiến độ GPMB.
Bốn là khả năng xử lý những vướng mắc phát sinh của các cơ quan chức
năng. Thắc mắc của dân phần lớn tập trung ở kết quả đo đạc, nguồn gốc đất,
hạn mức đất, đơn giá bồi thường hoặc hỗ trợ, một số vấn đề phức tạp về đất
đai do quá khứ để lại và về vị trí, chất lượng, giá cả nhà hoặc đất khu tái định
cư... Thực tế hiện nay, một số địa phương vẫn sử dụng hệ thống bản đồ theo
chỉ thị 299/TTg loại bản đồ này đã lạc hậu sai lệch thực tế quá lớn so với hiện
trạng, không đáp ứng yêu cầu cho việc bồi thường, hỗ trợ, GPMB; công tác
phân hạng, loại đất do không cập nhật biến động đất đai thường xuyên và đầy
đủ dẫn đến hậu quả là xác định giá trị sinh lợi khi lập phương án bồi thường,
hỗ trợ GPMB gặp nhiều khó khăn gây bất cập trong việc xác định giá đất để
bồi thường , hỗ trợ. những hạn chế của công tác này đã làm ảnh hưởng đến
việc quản lý quỹ đất của các địa phương và xây dựng phương án bồi thường.
Trong bối cảnh đó, chỉ cần một trường hợp xử lý sai (do chưa am hiểu các
quy định, thiếu trách nhiệm, chậm giải quyết, vô cảm, thiên vị, tiêu cực hoặc
khiếu nại về chính sách và giá bồi thường giữa người được áp dụng theo thời
điểm đã ban hành chính sách cũ với người đang được thực hiện chính sách
mới. Từ đó đã nảy sinh nhiều khiếu kiện của dân về mức bồi thường, hỗ trợ,
đồng thời tạo nên tâm lý nặng nề đối với nhà đầu tư khi thực hiện bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư để GPMB. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch của
các cấp chính quyền ở một số địa phương chưa đồng bộ và bị buông lỏng,
không công khai quy hoạch là kẽ hở tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng đầu cơ
buôn bán đất. Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất mang tính ước lượng giữa
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nguồn vốn đầu tư cho các dự án, công
trình với kế hoạch sử dụng đất đai hàng năm bị sai lệch, tác động đến khả thi
của kế hoạch và tiến độ GPMB khi có dự án.
* Công tác định giá đất và giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB
hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi.
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy
định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất (Quốc Hội,
2003). Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình
thành trong các trường hợp sau đây:
12
- Do UBND các tỉnh, thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp
tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung
gia đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng
01 hàng năm.
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên
quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử
dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
Yếu tố pháp chế có tác động rất lớn trong quá trình hoạt động của pháp
luật nói chung và trực tiếp ảnh hưởng đến công tác GPMB. Các yếu tố tác
động đến gồm:
- Thứ nhất: đối với cơ chế, chính sách.
Điều kiện để được bồi thường về đất khi vận dụng vào thực tế khu đô thị,
với quy định thu tiền sử dụng đất, khi xét hợp thức hóa để cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại đô thị để áp giá bồi thường
giải tỏa có nhiều phức tạp. Việc xác định thời gian sử dụng đất để áp dụng
các chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB cụ thể đối với từng trường hợp rất
khó khăn, một phần do chính quyền các cấp không có đầy đủ hồ sơ quản lý,
không cập nhật biến động nhà đất, nguy hại hơn là việc mua bán, chuyển
nhượng đất đai trái phép mà các địa phương các cấp có thẩm quyền không
khống chế và quản lý được.
Việc giải quyết khiếu nại tố cáo và những kiến nghị của nhân dân quy
định chưa cụ thể và không thống nhất giữa các cấp, các ngành dẫn đến tình
trạng nhiều nơi, nhiều lúc việc giải quyết giữa các cơ quan có thẩm quyền
không thống nhất. Chưa có quy định và hướng dẫn việc áp dụng biện pháp
cưỡng chế đối với những hộ, cá nhân sử dụng đất lợi dụng chính sách Nhà
nước để đầu cơ, trục lợi trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
-Thứ hai: trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền chưa đồng bộ, kịp thời, thay đổi liên tục là cơ sở để người bị
thu hồi đất so sánh, khiếu kiện làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
Sự phối hợp giữa các cấp các ngành, chủ đầu tư chưa chặt chẽ, việc tổ
chức thực hiện công tác GPMB thiếu sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn kiểm
tra giám sát của các phòng ban chuyên môn và chính quyền cơ sở, bộ máy tổ
chức thực hiện công tác GPMB đa số ở các địa phương là sử dụng cán bộ
kiêm nhiệm, chưa am hiểu chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ GPMB
dẫn đến sai sót trong công tác điều tra, lập phương án, áp dụng chế độ chính
sách của nhà nước, gây khiếu kiện thắc mắc của nhân dân. Ở địa phương, các
thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất
của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể,
làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết
các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất. Trong công tác bồi thường
GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định loại đất,
diện tích đất, đối tượng tính bồi thường. Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở
nước ta vẫn còn hạn chế, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà
công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác
đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi
thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn.
15
1.3. Căn cứ pháp lý của công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất
Căn cứ pháp lý của việc bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi
đất vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng dựa
theo một số văn bản sau đây:
- Luật Đất đai năm 2003 (Sửa đổi bổ sung 2009)
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc thi
hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi
Tĩnh ban hành bộ “ Đơn giá bồi thường các loại nhà cửa, vật kiến trúc, mồ mả ;
tàu thuyền, máy móc thiết bị, nông cụ, ngư cụ ; cây cối, hoa màu và nuôi trồng
thủy hải sản” khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Các văn bản khác có liên quan.
1.4. Một số những quy định về công tác bồi thường, hỗ trợ vàTĐC
1.4.1. Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ
Được quy định trong Điều 14 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày
13/08/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất,
giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:
1. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng có đủ điều kiện quy định
tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐCP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các Điều 44, 45 và 46 Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền
sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai thì được bồi thường; trường hợp
không đủ điều kiện được bồi thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét để
hỗ trợ.
2. Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng vào mục đích nào thì
được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu
không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng
17
đất tính theo giá đất tại thời điểm quyết định thu hồi đất; trường hợp bồi
thường bằng việc giao đất mới hoặc giao đất ở tái định cư hoặc nhà ở tái định
cư, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thanh toán bằng
tiền theo quy định sau:
a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ lớn hơn tiền sử dụng đất ở hoặc tiền
mua nhà ở tại khu tái định cư thì người tái định cư được nhận phần chênh
thời Cộng hoà miền nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam;
b, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c, Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản
gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d, Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với
đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã
xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ, Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo
quy định của pháp luật;
e, Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử
dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ
quy định tại khoản 3 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm
theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên
có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện
thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ
ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa
phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản,
làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo,
nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng ổn
định, không có tranh chấp.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước
ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là
đất không có tranh chấp.
7. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của
toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định
Trường hợp mức giá đất do UBND thành phố ban hành chưa phù hợp với
thực tế cụ thể tại khu vực thu hồi đất, UBND quận, huyện nghiên cứu phương
án điều chỉnh mức giá đất cụ thể làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ đất, báo
cáo Sở tài chính chủ trì cùng các Sở, Ngành liên quan thẩm định, trình UBND
thành phố quyết định trên cơ sở văn bản chấp thuận của Thường Trực Hội
Đồng Nhân Dân Thành phố.
20
-Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được thực hiện như sau:
+ Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra
mà giá đất tại thời điểm bồi thường do UBND cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất
tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả
tiền bồi thường. Nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời
điểm có quyết định thu hồi, bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định
thu hồi.
+ Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời
điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi
thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường. Nếu giá đất tại thời điểm bồi
thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì được bồi
thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.
Việc định giá đất của nhà nước phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Sát với giá chuyển nhượng QSD đất thực tế trên thị trường trong điều
kiện bình thường, khi có chênh lệch so với giá chuyển nhượng QSD đất thực
tế trên thị trường thì phải điều chỉnh sao cho phù hợp.
- Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội, kết cấu
hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng
theo quy hoạch thì mức giá như nhau.
- Đất tại khu vực giáp ranh giữa các Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW, có
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:
+ Hộ gia đình khi nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong phạm
vi tỉnh, thành phố được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 3,000,000 đồng; di chuyển
sang tỉnh khác được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 5,000,000 đồng; mức hỗ trợ cụ
thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
+ Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản khi bị
thu hồi mà phải di chuyển cơ sở, được hỗ trợ chi phí thực tế về di chuyển,
tháo dỡ và lắp đặt.
+ Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác; trong thời gian chờ tạo
lập chỗ ở mới bố trí vào khu tái định cư, được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ
trợ tiền thuê nhà ở; thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương.
- Hỗ trợ ổn định đời sống:
22
Được quy định trong điều 20 nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009
của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu
hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như sau:
+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, được hỗ trợ ổn định đời
sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời
gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 12 tháng. Mức hỗ trợ bằng tiền cho
01 nhân khẩu /01 tháng tương đương 30 kg gạo tính theo thời giá trung bình
tại địa phương.
+ Đối với tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh có đăng ký kinh doanh
mà bị ngừng sản xuất kinh doanh thì được hỗ trợ cao nhất bằng 30% một năm
1.4.5. Tái định cư
- Tái định cư: Người sử dụng đất Khi nhà nước thu hồi đất theo quy định mà
phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức
sau:
+ Bồi thường bằng nhà ở;
+ Bồi thường bằng giao đất ở mới;
+ Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới.
- Lập và thực hiện dự án tái định cư:
+ Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương; căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền
xét duyệt, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án tái định
cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở.
+ Việc lập dự án và xây dựng khu tái định cư thực hiện theo quy định hiện
hành về quản lý đầu tư và xây dựng.
- Bố trí tái định cư:
+ Cơ quan (tổ chức) được UBND cấp tỉnh giao trách nhiệm bố trí tái định
cư phải thông báo cho từng hộ gia đình bị thu hồi đất, phải di chuyển chỗ ở
về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai phương án này
tại trụ sở của đơn vị, tại trụ sở UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi và tại nơi
tái định cư trong thời gian 20 ngày trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt phương án bố trí tái định cư; nội dung thông báo gồm: địa điểm,
quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ,
giá đất, giá nhà tái định cư; Dự kiến bố trí các hộ vào tái định cư.
+ Ưu tiên tái định cư tại chỗ cho người bị thu hồi đất tại nơi có dự án tái
định cư, ưu tiên vị trí thuận lợi cho các hộ sớm thực hiện giải phóng mặt
24
bằng, hộ có vị trí thuận lợi tại nơi ở cũ, hộ gia đình chính sách.
+ Tạo điều kiện cho các hộ vào khu tái định cư được xem cụ thể khu tái
25