Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới tại 03 xã điểm trên địa bàn huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI 03 XÃ ĐIỂM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


PHẠM VĂN NINH

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI 03 XÃ ĐIỂM
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Đình Hòa


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận 3văn này là trung thực và
chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2015 Tác
giả

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn bè, đồng nghiệp trong quá trình xây
dựng và thực hiện bản luận văn này.
4
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình
giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn.
Thái nguyên, ngày 01 tháng 10 năm 2015
Tác giả

Phạm Văn Ninh


5
MỤC LỤC

PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT


6
BCĐ
CC

: Ban chỉ đạo
: Cơ cấu

CNH
CN-XD

: Công nghiệp hóa
: Công nghiệp xây dựng


NTM

: Nông thôn mới

PTNT

: Phát triển nông thôn

SD

: Độ lệch chuẩn

SE
TDTT

: Sai số chuẩn của số trung bình
: Thể dục thể thao

TĐTTK

: Tốc độ tăng trưởng kinh tế

TM-DV
TT-BGDĐ

: Thương mại dịch vụ
: Thông tư Bộ giáo dục đào tạo

TT-BNNPTNT



9
MỞ ĐẦU

I

r
r
rp/__!_ _ Ạ________i!_ »Ại_?________»Ạ


!_ • Ạ.

r_

i \

. Tính câp thiết của việc nghiên cứu đe tài
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Sau hơn
20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Nông thôn nước ta đã đạt được thành tựu khá toàn
diện và to lớn, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, xoá đói giảm
nghèo, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương
xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Nông
nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho
phát triển sản xuất, chuyển giao khoa học- công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn
chế, sản xuất nhỏ phân tán, năng suất chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp. Xuất
phát từ những khó khăn hạn chế nêu trên, chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa
rất to lớn.
Để


hành Đảng bộ tỉnh (Khoá XV)

đã ban hành Nghị

quyết số 27-

NQ/TU ngày 23/11/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến
năm

2020 và Ban

Chỉ đạo tỉnh, Ủy ban nhân dân

tỉnh và một số

ngành đã ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cần thiết để triển khai thực hiện Chương
trình.
Tại Tuyên Quang, Tỉnh đã chọn 9 xã làm điểm trong đó có 02 xã (Hoàng Khai, Mỹ
Bằng) thuộc huyện Yên Sơn và huyện chọn 01 xã Nhữ Hán thực hiện điểm xây dựng nông
thôn mới của huyện. Trong năm 2011, đã lồng ghép một số chương trình vào thực hiện xây
dựng nông thôn mới ở 7 xã như: chương trình bê tông hoá giao thông nông thôn, xây dựng
công trình thuỷ lợi, điện, trường học, hỗ trợ cơ sở vật chất cho nhà văn hoá thôn, xây dựng
các mô hình khuyến nông, tổ chức các lớp đào tạo nghề cho lao động; giữ vững an ninh trật
tự xã hội. Thí điểm hỗ trợ 3 công trình vệ sinh theo Quyết định 272/QĐ-UBND ngày
21/8/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, việc thực hiện chương trình
nông thôn mới đang gặp nhiều khó khăn: Xuất phát điểm thấp còn nhiều tiêu chí NTM chưa
đạt được, nguồn lực hạn chế, tổ chức thực hiện còn gặp nhiều lúng túng, sự tham gia của
người dân còn hạn chế .... Do đó, chương trình xây dựng NTM ở địa phương diễn ra chậm


2.2.
-

Mục tiêu cụ thể

Đánh giá được thực trạng xây dựng nông thôn mới tại các xã điểm huyện Yên Sơn theo 19
tiêu chí trong bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

-

Phân tích được những khó khăn, thuận lợi, cơ hội thách thức trong xây dựng nông thôn mới
tại các xã điểm ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

-

Đề xuất được một số giải pháp nhằm thực hiện nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Sơn
được hiệu quả hơn.

3. Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
3.1.

Đối tượng nghiên cứu

-

Các xã điểm xây dựng NTM trên địa bàn huyện Yên Sơn.

-




1
thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện
chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông thôn là quá trình
thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn
giá trị

truyền thống

bảo

thông qua

tồn được những
việc ứng

dụng

khoa học và công nghệ. PTNT là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên
hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội,
thể chế và môi trường. Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong
khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng
nông thôn sẽ đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển
chung của đất nước (Mai Thanh Cúc, 2005) [4], (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1997)
[8].

1.1.2.

Nông thôn mới


1) Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;
2) Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;
3) Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao;
4) Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển;
5) Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [14].
* Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng Nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng
dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp;
phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi
trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người
dân được nâng cao.
Xây dựng Nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả
hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế
- chính trị tổng hợp.
Xây dựng Nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ,
đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Từ Quyết định số 491 và Quyết định 800/Q Đ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ thì:
Xây dựng Nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về
Nông thôn mới.

* Đơn vị nông thôn mới
Khoản 3 điều 23 Thông tư 54/2009/TT - BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về
Nông thôn mới quy định: Ban chỉ đạo Nông thôn mới Trung ương kiểm tra việc công nhận
xã Nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn Nông thôn mới cho các
huyện có 75% số xã trong huyện đạt Nông thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt
Nông thôn mới.
Như vậy đơn vị Nông thôn mới có 3 cấp:


đựng yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể của
tạo

việc

từng làng quê Việt

Nam, vừa

làm, tăng thu nhập cho cư dân

nông thôn... [15]
Chính vì vậy, xây dựng Nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành
thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn
phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở
giữ vững bản sắc riêng nông thôn.

-

Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc
Bản sắc văn hóa làng quê cũng đồng nghĩa với bản sắc từng dân tộc, giữ gìn nó là
giữ gìn văn hóa truyền thống đa dạng của các dân tộc, của từng quốc gia. Làng quê nông
thôn Việt Nam khác so với các nước xung quanh, ngay cả ở Việt Nam, làng quê dân tộc
Thái khác với các dân tộc Mông, Ê-đê, Ba-na, Kinh.... Nếu quá trình xây dựng Nông thôn
mới làm phá vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống
văn hóa muôn đời của người Việt.[15]
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc xây
dựng Nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực đã được
hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm
mất đi bản sắc làng quê nông thôn. Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng

* Chủ thể xây dựng nông thôn mới
Có người cho rằng chủ thể xây dựng nông thôn phải là chính quyền. Tuy nhiên, trên
thực tế, người nông dân mới thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn. Đó không phải là do
nhà nước không có đủ tiềm lực kinh tế để đóng vai trò chủ thể này, mà cho dù tiềm lực kinh
tế của nhà nước có mạnh đi chăng nữa thì cũng không thể thiếu sự tham gia đóng góp tích
cực của chính tầng lớp nông dân. Hiển nhiên nói người nông dân ở đây không phải chỉ đơn
thuần là cá thể nông dân, mà phải được hiểu là các tổ chức nông dân.
Trong công cuộc xây dựng Nông thôn mới, người nông dân phải tham gia từ khâu
quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá
trình làm ra của cải vật chất, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời cũng là người
hưởng lợi từ thành quả của Nông thôn mới. Chính vì vậy, nông dân là chủ thể xây dựng
Nông thôn mới là yếu tố vừa đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng Nông thôn mới thành công,
vừa đảm bảo phát huy được vai trò tích cực của nông dân.

* Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới


1
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13
tháng 4 năm 2011 (liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài
chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6
năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng Nông thôn mới
như sau:

1) . Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng Nông thôn mới phải hướng tới mục
tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới ban hành tại Quyết
định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.

2) . Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò

* Tiêu chí xây dựng nông thôn mới


1
Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.
Căn cứ Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới.
Căn cứ vào Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng chính phủ
về việc sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới.
Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm.

-

Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí).

-

Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí).

-

Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí).

-

Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí).

-


Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án.
- Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình

1.2.
1.2.1.

Một số kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới
Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới từ các nước trên thế giới
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, từ

các góc cạnh khác nhau đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Mỹ với phát


1
triển ngành “kinh doanh nông nghiệp” đã phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh
nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. sự ra đời của kinh doanh nông nghiệp
vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô trang trại thì lớn hơn rất nhiều
và các trang trại này dử dụng máy móc nhiều hơn bàn tay của nông dân. Vào những năm
1940 Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến
cuối
thập niên 90 của thế kỷ XX số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có
diện

tích 190 ha.

Cũng chính trong khoảng

giai đoạn này số lao

động nông nghiệp giảm đi rất mạnh từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người

Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Ỉ.2.2.Ỉ. Lịch sử phát triển các mô hình tổ chức sản xuất ở Việt Nam

-

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 nước ta chỉ có 3% dân số là địa chủ chiếm 41,4%
ruộng đất; Nông dân lao động chiếm 97% dân số nhưng chỉ có 36% diện tích đất (Mai
Thanh Cúc, 2005) [4], (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung,1997) [8].

-

Từ năm 1954 - 1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu "người cày có
ruộng". Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủ phong kiến sang quan hệ sản xuất
mới, nông dân làm chủ ruộng đất và sản xuất độc lập trên ruộng đất của mình (Mai Thanh
Cúc, 2005) [4].

-

Từ 1960 - 1985: Chia làm 2 giai đoạn nhỏ là mô hình tổ chức sản xuất dưới dạng hợp tác
xã nông nghiệp (Mai Thanh Cúc, 2005) [4], (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung,1997) [8].
+ Từ 1960 - 1975: Mô hình hợp tác hoá nông nghiệp được triển khai trên toàn miền
Bắc. Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nông thôn về cơ sở hạ tầng kỹ
thuật chủ yếu để phát triển HTX: Phát triển các công trình kỹ thuật (nhà kho, sân phơi, các
trại giống...) đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi. đã có
những tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp.
+ Từ 1976 - 1980: Mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khai trên
phạm vi cả nước. Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấp quản lý kinh tế chủ
yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn. Hình ảnh
của người nông dân lúc này là hình ảnh của người xã viên HTX.

Năm 1988-1991, khoán cho nhóm và người lao động.
+ Nghị quyết 10 NQ/TW (5/4/1988) của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp. Nghị quyết khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông
thôn có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của kinh tế nông hộ.
+ Đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”
“Một chủ” xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ. Đây là bước đột phá rất quan trọng
trong nghị quyết 10.
“Bốn tự” là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; tự
xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm,
đảm bảo xã viên được tự ra và vào hợp tác xã.
+ Nghị quyết tạm giao trong 5 năm (1988-1993) chủ trương trao quyền sử dụng
ruộng đất cho hộ; Xóa bỏ chính sách thu mua lương thực theo nghĩa vụ cho nông hộ phát
triển sản xuất, làm cho người lao động quan tâm đến sản phẩm cuối cùng..
+ Các thành phần kinh tế và kinh tế hộ nông dân phát triển dẫn đến hiệu quả cao
trong sản xuất và không ngừng nâng cao mức sống của nông dân.
- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:
+ Từ năm 1993 đến nay, đất đai được giao quyền sử dụng lâu dài cho các nông hộ,
người nông dân được chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao.
+ Từ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, VII và VIII đã đưa ra những chủ trương


2
về phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương trình kinh tế lớn của nhà nước; Hộ nông dân
là chủ thể sản xuất ban hành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mở rộng vay
vốn, tín dụng, thực hiện xóa đói giảm nghèo... mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho nông
hộ, kinh tế nông hộ thay đổi lớn.
Giai đoạn này, nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản. Người nông dân đã chú trọng đầu
tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất và đóng góp nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng, làm
cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể.
Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch mạnh theo

ven biển của tỉnh Hà Tĩnh... Đến nay, đã có 889 xã và 5 huyện trong cả nước được công
nhận đạt chuẩn nông thôn mới, gồm: Xuân Lộc, Xuân Long (tỉnh Đồng Nai), Đông Triều
(tỉnh Quảng Ninh), Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh), Hải Hậu (tỉnh Nam Định). Bình quân
mỗi xã đạt 11,56 tiêu chí, tăng 6,7 tiêu chí so với năm 2011.
Sau 4 năm triển khai xây dựng nông thôn mới, chương trình xây dựng nông thôn
mới đã xây dựng được gần 5.000 mô hình sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất lên
từ 20 đến 30%. Thành quả rõ nét trong việc triển khai các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
ở các địa phương là việc dồn điền đổi thửa gắn với quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa ở hầu
hết các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và xây dựng cánh đồng mẫu lớn, cơ giới hóa sản
xuất nông nghiệp ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đến nay tại 11 xã được TW chọn
làm thí điểm đã đạt được từ 15 đến 18 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới, trong những
địa phương có số xã đạt tiêu chí cao là Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Bắc
Giang, Lào Cai, Yên Bái và Hưng Yên. Đồng thời cũng có 950 xã của các tỉnh Đồng bằng
sông Hồng, vùng Bắc trung bộ đạt từ 10 tiêu chí trở lên chiếm khoảng 18%. Có thể nói từ
những kết quả đạt được cho thấy chương trình đã trở thành phong trào sâu rộng trong cả
nước, huy động cả hệ thống chính trị từ Trung Ương đến địa phương vào cuộc và nhận được
sự hưởng ứng nhiệt tình của nông dân trong cả nước. Chương trình bước đầu đã hình thành
một số mô hình nông thôn mới với những cách làm sáng tạo, rút ra được một số bài học
kinh nghiệm hay, chẳng hạn như nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tình nguyện hiến hàng chục nghìn
ha đất để làm đường và các công trình hạ tầng ở nông thôn; người dân xã Thanh Tân huyện
Kiến Xương tỉnh Thái Bình nhiệt tình tham gia phong trào hiến đất làm đường xây dựng
nông thôn mới với khẩu hiệu “đường thẳng, ngõ thẳng” mang lại diện mạo mới cho vùng
quê này..., rất nhiều những ví dụ sinh động như vậy cho thấy công tác tuyên truyền để người
dân hiểu đúng về xây dựng nông thôn mới là rất quan trọng. Ông Hồ Xuân Hùng cố vấn ban
chỉ đạo Quốc gia về xây dựng nông thôn mới cho rằng “chủ trương đúng bao nhiêu mà
không làm cho dân hiểu, không biến cái sự nghiệp đó là của họ và họ cứ tưởng như làm cho
ai hay ai làm cho họ thì không thành công và tuy là thời gian chưa dài nhưng kinh nghiệm
ban đầu cho thấy một nguyên tắc trước hết là phải thực hiện đúng, thứ hai là phải làm việc



Hệ thống tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ vận hành chương trình từ Trung Ương xuống
xã được hoàn thiện và ngày càng chuyên nghiệp hơn.

-

Một số kết quả ban đầu đạt được trong XDNTM như công tác tuyên truyền, vận động, quy
hoạch lại nông thôn.

* Những tồn tại lớn nhất hiện nay
-

Kết quả đạt được về xây dựng NTM ở một số nơi còn thiếu bền vững do thu nhập, đời sống
của người dân ở một số vùng còn khó khăn. Sự chênh lệch giữa các vùng về xây dựng nông


2
thôn mới có chiều hướng gia tăng. Một số địa phương chưa chủ động triển khai thực hiện cơ
chế chính sách; kiện toàn tổ chức bộ máy và có biểu hiện chạy theo thành tích. Đặc biệt vẫn
còn 5 tỉnh (Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn, Đắk Nông) “trắng” xã nông thôn mới.

-

Công tác tuyên truyền về Chương trình MTQG XDNTM đang nặng về hình thức, chưa phù
hợp với đối tượng chủ yếu là cư dân nông thôn, chưa làm rõ vai trò chủ thể của người dân.

-

Nhận thức trong cán bộ, đảng viên còn chưa thống nhất.

-


Tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.

-

Tổ chức lại sản xuất gắn với xác lập các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong nông nghiệp
nông thôn.

*

Những khuynh hướng không lành mạnh đang xuất hiện.

-

Tư tưởng nóng vội.

-

Trông chờ, ỷ lại vào nguồn lực từ trên xuống, nhất là các địa phương thu ngân sách chưa đủ
chi.

-

Coi XDNTM là một dự án, tập chung chủ yếu vào xây dựng kết cấu hạ tầng là chính.

*

Cần thống nhất nhận thức về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

-


-

Xây dựng làng, xã văn minh sạch đẹp.

-

Phát triển giáo dục và y tế.

-

Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Củng cố nâng cao hệ thống chính trị cơ sở cấp xã.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status