X¢Y DùNG NGUåN NH¢N LùC CHÊT L¦îNG CAO
ë TØNH QU¶NG NINH HIÖN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 08
HÀ NỘI - 2015
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ
XÂY DỰNG
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO Ở TỈNH QUẢNG NINH HIỆN
1.1.
NAY
Một số vấn đề lý luận về nguồn nhân lực chất lượng
12
cao và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh
PHỤ LỤC
62
86
88
93
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người, phát triển toàn diện con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực cơ bản quyết định thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi
thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm xây
dựng, phát triển con người, nguồn lực con người.
Quảng Ninh là tỉnh có vị trí địa lý đặc thù, với các tiềm năng thế mạnh
cần được khai thác phát triển mạnh trong bối cảnh quốc tế hội nhập ngày càng
cao. Để phát triển kinh tế theo mô hình mở, tạo điều kiện cho việc giao lưu,
hội nhập và tự do hóa các hoạt động kinh tế, Quảng Ninh phải tạo được sự an
toàn đầu tư để thu hút các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất công nghiệp,
xuất nhập khẩu, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, vận tải biển, kinh tế biên mậu
và du lịch. Quảng Ninh cũng cần hình thành và phát triển các khu hành chính
- kinh tế đặc biệt, KKT thương mại tự do về dịch vụ hiện đại, kinh tế biên
mậu, kinh tế biển kết hợp với công nghiệp giải trí, tạo sức thu hút cao đầu tư
nước ngoài. Với các khu đó, Quảng Ninh sẽ nhanh chóng phát huy được tiềm
năng của mình và trở thành cực tăng trưởng mạnh tương xứng với Trung
Quốc trong hợp tác hình thành hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam Trung Quốc; cầu nối ASEAN - Trung Quốc; trung chuyển Đông Bắc Á và
Đông Nam Á.
của quá trình phát triển KT-XH đang là những vấn đề bức xúc cả về lý luận
và thực tiễn hiện nay cần phải được nhận thức và giải quyết tốt.
Những năm qua, việc nghiên cứu nguồn nhân lực, xây dựng nguồn
nhân lực CLC đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và hội nhập quốc tế đã được quan tâm đáng kể. Song, hiện nay cả trong
pham vi cả nước và ở Quảng Ninh vẫn còn không ít vấn đề mới và phức tạp
cần thiết có những nghiên cứu xác đáng.
Từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: Xây dựng nguồn nguồn nhân
lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nguồn
nhân lực. Marquardt M và Engl D trong sách Global Human Resourse
Development, Prentice Hall, Englewood Cliff, 1993 đã nghiên cứu về sự phát
triển nguồn nhân lực toàn cầu, phân tích tác động của toàn cầu hoá đến sự
phát triển nguồn lực con người, đề ra yêu cầu mới về tổ chức, quản lý và sử
dụng nguồn lực con người trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân
tộc. Tuy nhiên ông mới chỉ dừng lại ở cách tiếp cận dưới góc độ khoa học tổ
chức, quản lý, và cho rằng phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển năng
lực kỹ thuật, năng lực thực hiện công việc, năng lực trí tuệ.
Các tác giả: Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith trong
sách Human resourses in the 21st century đã nhận định vai trò trung tâm của
nguồn lực con người trong sự phát triển KT-XH của thế kỷ XXI. Nội dung
cuốn sách tập trung trình bày những đóng góp tư tưởng của các nhà lãnh đạo:
David Ulrich, Rosabelth Moss Kanter… về chiến lược phát triển nguồn lực
con người, về khoa học quản lý và sử dụng nguồn lực con người đạt hiệu quả
cao trong hoạt động sản xuất vật chất. Các tác giả cho rằng: ngày nay, mọi
quốc gia trên thế giới đều nhận thức rõ nguồn lực con người là quan trọng,
chính sách việc làm, con người và môi trường.
Cuốn sách: Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,
do Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, đã đưa ra cơ sở
lý luận và thực tiễn để thực hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân
tố con người, sự phát triển nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối với
việc sáng tạo vật chất và tinh thần, coi con người là trung tâm sự phát triển.
Cuốn sách cũng bước đầu khái quát và đưa ra khái niệm nguồn lực con người
được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh
thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất; đồng thời đã trình bày khá rõ
quan niệm phát triển nguồn lực con người, mối quan hệ đào tạo, sử dụng và
việc làm với sự phát triển nguồn nhân lực; từ đó xác định trách nhiệm quản lý
của Nhà nước, ngành giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lực
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Cuốn sách: Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát
triển nguồn nhân lực, của Viện Phát triển giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia,
H.2002, đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các nhà quản
lý ở nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau với mục tiêu thống nhất quan điểm và
chính sách về phát triển nguồn nhân lực; đồng thời đề xuất một khung chính
sách phát triển nguồn nhân lực nhằm triển khai thành công các mục tiêu đề ra
trong chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng chủ biên cuốn sách Sử dụng hiệu quả nguồn
lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội, H.2003. Tác giả đã trình
bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát
triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta; đồng thời đề xuất các chính sách và giải
pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con
người trong phát triển KT-XH ở nước ta.
Tiến sĩ Đoàn Văn Khái có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề nguồn
xuất các giải pháp… phát triển nguồn nhân lực nói chung của nước ta hiện
nay, nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng trong các doanh nghiệp nhà
nước, vấn đề đào tạo theo nhu cầu, chất lượng giáo dục đại học, đổi mới cơ
chế tài chính, đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn…
Phó tiến sĩ Mai Quốc Chánh chủ biên cuốn sách: Nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb.Chính trị quốc
gia, H.1999; TS Vũ Bá Thể viết cuốn sách: Phát huy nguồn lực con người để
công nghiệp hoá, hiện đại hoá - kinh nghiệp quốc tế và thực tiễn Việt Nam,
Nxb Lao động - xã hội, H.2005. Hai cuốn sách này đều phân tích vai trò, chất
lượng của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực; đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước
ta đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tiến sĩ Bùi Ngọc Lan viết cuốn sách: Nguồn lực trí tuệ trong sự
nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, đã tập trung vào
những vấn đề như: Trí tuệ và nguồn lực trí tuệ, vai trò của nguồn lực trí tuệ và
những điều kiện chủ yếu để phát triển nguồn lực trí tuệ trong sự phát triển của
xã hội nói chung; đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển của
nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong thời gian qua; đề xuất phương hướng và giải
pháp chủ yếu của việc phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc
đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN.
Một số công trình khoa học được công bố dưới dạng đề tài luận án, tạp
chí nghiên cứu có các tác giả Hoàng Chí Bảo: Ảnh hưởng của văn hoá đối với
việc phát huy nguồn lực con người, Tạp chí Triết học, số 1-1993; Nguyễn
Trọng Chuẩn: Nguồn nhân lực và phát triển, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 41995; Nguyễn Thị Tú Oanh: Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học,
H.1999; Nguyễn Thị Thuỷ: Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người
trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, H.2000;
Nguyễn Văn Sơn: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
mình về thực chất, tính quy luật, xu hướng vận động của nguồn lực con người ở
các đối tượng cụ thể trong quân đội; trên cơ sở khảo cứu thực trạng, đề xuất giải
pháp phát huy vai trò, nâng cao chất lượng của các nguồn lực này.
Tóm lại, cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
nguồn lực con người dưới nhiều góc độ khác nhau, song chưa có công trình
nào nghiên cứu xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh. Vì thế đề
tài luận văn: Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh
hiện nay là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, không trùng với các
công trình khoa học, đề tài luận án đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng nguồn nhân lực
CLC, đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản xây dựng nguồn nhân lực CLC ở
tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận giải làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng
nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh.
- Đánh giá thực trạng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh
Quảng Ninh thời gian qua và chỉ ra nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó.
- Xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp cơ bản xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Xây dựng nguồn nhân lực chất
lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh.
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Xây dựng nguồn nhân lực chất
lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 2006 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn
* Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
ngoài; nguồn lực con người, ; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, ; nguồn lực
vị trí địa lý, nguồn lực khoa học kỹ thuật, công nghệ...
* Con người và nguồn nhân lực
Trong lịch sử nhân loại, đã có nhiều quan niệm khác nhau về con
người, trong đó quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người mới thực
sự khoa học, cách mạng. Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, là chủ
thể cải tạo hoàn cảnh và là sản phẩm tiến hóa lâu dài của tự nhiên. Trong tính
hiện thực, bản chất của con người là tổng hòa của những quan hệ xã hội. Con
người không thể tồn tại khi tách ra khỏi xã hội. Thông qua xã hội, con người
có những hoạt động trao đổi, lao động và thoả mãn những nhu cầu của cuộc
sống. Thông qua xã hội, con người có quan hệ qua lại với nhau. Từ đó, con
người nhận thức đầy đủ hơn về bản thân mình, để trên cơ sở đó rèn luyện,
phấn đấu hoàn thiện về nhân cách. Xã hội càng phát triển thì quan hệ giữa
người với người càng sâu sắc và bền chặt, mối quan hệ được mở rộng và vai
trò của con người trong xã hội ngày càng tăng; tạo điều kiện tăng năng suất
lao động, tạo ra của cải vật chất dồi dào. Đây là cơ sở để phát triển con người
toàn diện. Ngược lại, con người phát triển sẽ hoạt động thưc tiễn hiệu quả hơn
trong cải tạo tự nhiên, xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển không ngững. Vì thế,
để xây dựng CNXH thành công, cần phải có những con người mới XHCN.
Hiện nay có nhiều thuật ngữ chỉ nguồn nhân lực như: nguồn lực con
người, tài nguyên con người, nguồn nhân lực.
Khái niệm “nguồn lực con người” được sử dụng từ những năm 60 của
thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây và một số nước châu Á; ở Việt Nam,
khái niệm này được sử dụng rộng rãi từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Hiện nay, từ cách tiếp cận khác nhau đã có nhiều quan niệm khác nhau về
nguồn lực con người. Từ lý luận về lực lượng sản xuất, con người được xác
định là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự
vận động và phát triển của lực lượng sản xuất và quyết định quá trình sản
* Nguồn nhân lực chất lượng cao
Quan niệm: Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận quan trọng của
nguồn nhân lực được đào tạo bồi dưỡng có trình độ học vấn, chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng làm chủ, giải quyết
sáng tạo những vấn đề thuộc lĩnh vực, ngành, nghề nghiệp được phân công
đảm nhiệm; có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có tinh thần và ý thức trách
nhiệm cao đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong nước và hội
nhập quốc tế.
* Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực là vốn quý nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, giữ
vai trò quan trọng nhất, quyết định sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, các
nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng của nó phải thông qua nguồn lực con
người. Con người tồn tại và phát triển với tính cách là một nguồn lực đặc biệt,
khác căn bản với các nguồn lực khác, nhưng không biệt lập với các nguồn lực
đó. Trong hệ thống các nguồn lực, con người bao giờ cũng là nguồn lực quý
nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, giữ vai trò quyết định trong sự phát
triển xã hội. Có thể xem xét vai trò của nguồn nhân lực CLC ở các phương
diện sau đây:
Nguồn nhân lực CLC là nhân tố nòng cốt trong liên kết, tích hợp, tổng
hợp các nguồn lực thành động lực thúc đẩy phát triển KT-XH, nâng cao đời
sống về vật chất và tinh thần , giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Để
phát triển KT-XH ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Chúng ta cần rất
nhiều nguồn lực: Nguồn lực khoa học công nghệ; nguồn lực tài chính; nguồn lực
tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực lao động (nguồn nhân lực). Trong các nguồn
lực ấy, nguồn nhân lực CLC có vai trò quyết định. Trong thời đại của khoa học
và công nghệ, tin học, con người nhận thức, cải tạo tự nhiên, xã hội không chỉ
bằng sức mạnh của cơ bắp mà bằng trí tuệ của mình là chủ yếu. Người lao động
có tri thức nghề nghiệp, kỹ năng lao động, có lương tâm, trách nhiệm nghề
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Phát triển, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực CLC là một trong những yếu tố
quyết định sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”[14, tr.41]; nâng cao dân
trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Con người là trung tâm của
chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”[14, tr.76]. Con người
thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là
nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp xây
dựng nước ta hiện nay.
* Nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh
Nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh là một bộ phận quan trọng của
nguồn nhân lực Tỉnh nhà, được đào tạo bồi dưỡng có trình độ học vấn, chuyên
môn nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp, khả năng làm chủ, giải quyết
sáng tạo những vấn đề thuộc lĩnh vực, ngành, nghề nghiệp được phân công đảm
nhiệm; có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao
trực tiếp đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ninh, góp phần phát
triển KT-XH đất nước và hội nhập quốc tế. Nguồn nhân lực CLC là một bộ
phận trọng yếu của nguồn nhân lực (nguồn lực lao động), là lực lượng lao
động đã qua đào tạo, có kỹ năng, kinh nghiệm, thạo nghề.
Tiêu chuẩn của nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh có nội dung
toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, sức khỏe như: có bản lĩnh,
lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển
đất nước theo con đường XHCN; có bản chất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, có
sức khỏe, lao động sáng tạo, có kỷ luật...Có thể nhận biết nguồn nhân lực
CLC ở tỉnh Quảng Ninh theo các dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Về trình độ học vấn: Có trình độ học vấn thường từ đại học, sau đại học.
Họ là những nhà nghiên cứu, đổi mới công nghệ, các nhà kỹ thuật và công nghệ,
những nghệ nhân, những công nhân bậc cao, các nhà quản lý, kinh doanh ở các
biển. Tài nguyên nước khá phong phú và đặc sắc, nước mặt ước tính 8.776 tỷ
m3 (2.500 đến 3000 ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thuỷ
sản). Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong
hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các
triền sông và bờ biển là những vùng dân cư trù phú và còn nhiều tiềm năng
phát triển.
Tài nguyên rừng có 316.578 ha rừng, 388.000 ha đất rừng với độ che
phủ đạt 51,0%, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80%. Rừng trồng, rừng
đặc sản khoảng 100 ngàn ha, đất chưa thành rừng khoảng 230 ngàn ha. Rừng
ngập mặn với hệ sinh thái phong phú ở vùng Vân Đồn có thể khai thác phục
vụ du lịch sinh thái. Tổng trữ lượng rừng các loại khoảng 6-7 triệu m 3 gỗ và
gần 30-35 triệu cây tre nứa các loại, trong đó rừng tự nhiên có tổng trữ lượng
khoảng 4-5 ngàn m3 gỗ và 2-2,5 triệu cây tre nứa, còn lại là rừng trồng.
Quảng Ninh có 6,1 ngàn km2 ngư trường khai thác hải sản. Hầu hết các
bãi cá chính có sản lượng cao phân bố gần bờ và quanh các đảo. 20.000 ha eo
vịnh, nhiều khu vực nước sâu, kín gió thuận lợi cho việc xây dựng, phát triển
cảng biển: Hạ Long, Cẩm Phả, Tiên Yên, Móng Cái, Hải Hà.
Quảng Ninh có tài nguyên khoáng sản phong phú, trữ lượng lớn, than
đá ở mức 3,2 tỷ tấn (hơn 90% trữ lượng cả nước); khoáng sản ven bờ biển
(cát, ti tan…); các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… trữ lượng tương đối lớn,
phân bố khắp các địa phương trong Tỉnh. Nhiều mỏ nước khoáng có thể sử
dụng vào nghỉ dưỡng, chữa bệnh. Tài nguyên cảnh quan thiên nhiên có Vịnh
Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận Di sản thiên nhiên của thế giới;
vịnh Bái Tử Long, vừa có đảo đất, đảo đá tạo nguồn tài nguyên du lịch nổi
trội; trên đất liền và dưới biển có hệ động thực vật đa dạng có tới 415 loài
(vùng Yên Tử, Vân Đồn, Cô Tô,…), và các bãi biển đẹp như Trà Cổ và hoang
sơ như Quan Lạn,...
Quảng Ninh có 2077 hòn đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km,
tiền sử kế tiếp nhau, cách ngày nay từ 18.000 đến 3.500 năm là: văn hóa
Soi Nhụ, văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long với những tôn giáo, tín
ngưỡng cũng rất đa dạng và phong phú. Quảng Ninh là vùng đất có nhiều
di tích lịch sử có giá trị, nhiều công trình văn hoá đặc sắc, nhiều lễ hội
phong tục tập quán hấp dẫn du lịch. Tỉnh có những di tích nổi tiếng như
chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, đình Trà Cổ, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa
Long Tiên, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu - Thiền viện Trúc Lâm Giác
Tâm, di tích thương cảng Vân Đồn và có nhiều lễ hội truyền thống như
Yên Tử, Bạch Đằng, đền Cửa Ông, Trà Cổ, khu di tích nhà Trần ở Đông
Triều. Với những đặc điểm về văn hóa như trên, Quảng Ninh có một tài
nguyên văn hóa rất đặc sắc cho phát triển du lịch, nhưng phải được phát
triển có tổ chức, có khoa học, tạo được các sản phẩm du lịch hấp dẫn có
một không hai.
Ba là, nguồn nhân lực ở tỉnh Quảng Ninh đa dạng, có chất lượng,
nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Theo Niên giám thông kê tỉnh
Quảng Ninh 2011, dân số của tỉnh năm 2011 là 1.172,5 ngàn người, trong đó
dân thành thị chiếm khoảng 52%, dân nông thôn chiếm khoảng 48%; mật độ
dân số là 190 người/km2, có 4 thành phố trực thuộc Tỉnh và 10 huyện. Năm
2011 số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 633,3 ngàn
người, trong đó hoạt động KH&CN là 1,8 ngàn người. Số lao động đang làm
việc trong khu vực nhà nước năm 2010 là 156,7 ngàn người, trong đó 106,3
ngàn người làm việc của cấp Trung ương và 50,4 ngàn người làm việc trong
khu vực nhà nước địa phương [3, tr.15].
Tất cả những đặc điểm đó trực tiếp ảnh hưởng đến xây dựng nguồn
nhân lực, nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh.
* Quan niệm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng
Ninh
Theo nghĩa chung nhất, xây dựng là hoạt động có mục đích, có kế hoạch
Cơ quan chính quyền các cấp ban hành và tổ chức thực hiện các chính
sách đề hình thành, phát triển thị trường lao động, công nghệ, quản lý, sử
dụng mọi tiềm năng lao động; nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống
giáo dục, đào tạo. Xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện luật
pháp về giáo dục - đào tạo, dân số, lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏe
nhân dân; tăng cường đầu tư ngân sách cho xây dựng nguồn nhân lực CLC ở
tỉnh Quảng Ninh.
Mọi lực lượng xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các
tổ chức xã hội, nghề nghiệp sử dụng lao động trên địa bàn có trách nhiệm thực
hiện các nghị quyết của Đảng, các chính sách, luật pháp của Nhà nước, quyết
định của địa phương về xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh.
Đối tượng của xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh bao
gồm những người ở độ tuổi lao động, người sẵn sàng tham gia lao động (học
sinh, sinh viên), đang được sử dụng vào lao động (trí thức, công nhân, nông
dân, thợ thủ công…)
Nội dung xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh mang tính
toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu. Số lượng nguồn nhân lực CLC phải
hợp lý trong tổng số nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh. Cơ cấu nguồn
nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh phải phù hợp với cơ cấu ngành nghề, độ
tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, trình độ học vấn đáp ứng
mục tiêu phát triển KT-XH. Chất lượng nguồn nhân lực CLC phải toàn diện:
Có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, trình độ học vấn, năng lực chuyên
môn, nghề nghiệp, phong cách làm việc; có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề
nghiệp, say mê nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm cao, có kỷ luật, trung thực,
khiêm tốn giản dị, gần gũi, tôn trọng con người. Có kiến thức sâu sắc, có trình
độ học vấn từ đại học và tương đương trở lên; có khả năng làm chủ chuyên
môn mình phụ trách.
Tóm lại, nguồn nhân lực CLC phải hội đủ phẩm chất, năng lực nghề
nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh. Cùng phát huy vai trò của chủ thể
quản lý là phát huy nội lực của mỗi người trong việc tự học tập, tự tu dưỡng
trèn luyện theo tiêu chuẩn. Bởi lẽ chỉ có tự giác tiếp nhận sự giúp đỡ của tổ
chức, của tập thể với đề cao ý thức tự rèn, tự học tập, tự đánh giá thì các tiêu
chuẩn về phẩm chất, năng lực, phong cách làm việc vốn là yêu cầu khách
quan mới trở thành phẩm chất bền vững của nguồn nhân lực CLC ở tỉnh
Quảng Ninh.
Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách tạo động lực để xây
dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh. Đó là những chính sách về
giáo dục, đào tạo, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, dân số việc làm, sử
dụng lao động, y tế, chăm sóc sức khỏe, thi đua, khen thưởng... Thực tiễn
cho thấy quan tâm chăm lo thực hiện tốt chính sách xã hội thì việc xây
dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh sẽ đạt kết quả mong muốn.
* Tiêu chí đánh giá xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Một là, mức độ nhận thức, trách nhiệm, năng lực của các chủ thể trong
xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh. Các chủ thể lãnh đạo, chỉ
đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhận thức về xây dựng nguồn nhân lực
CLC ở tỉnh Quảng Ninh có sâu sắc không; Cấp uỷ, chính quyền, các ban,
ngành, đoàn thể, đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức kinh tế Nhà nước…
mỗi tổ chức, lực lượng có coi xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng
Ninh là một nhiệm vụ của mình hay chưa. Ý thức, trách nhiệm đối với thực
hiện nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh ở mức độ
nào? Những tri thức chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan và kinh nghiệm xây
dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh của mỗi chủ thể. Mức độ, chất
lượng thực hiện xây dựng nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh theo chức
năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, lực lượng ra sao? Đó là những nội dung để
đánh giá chính xác nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng
nguồn nhân lực CLC ở tỉnh Quảng Ninh. Đối với cấp uỷ, tổ chức đảng cần