BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
@&? ĐOÀN VĂN HUY
LẬP BẢNG TRA KẾT QUẢ TÍNH LÚN CHO CÁC
KHU VỰC ĐẤT YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
PHỤC VỤ CHO BƯỚC LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KỸ THUẬT
LẬP BẢNG TRA KẾT QUẢ TÍNH LÚN CHO CÁC
KHU VỰC ĐẤT YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
PHỤC VỤ CHO BƯỚC LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ
MÃ SỐ : 60 – 58 – 30
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG
Thành Ph
ố
H
ồ
2.2.1. Tính độ lún cố kết S
c
42
2.2.2. Dự tính độ lún tổng cộng S 42
2.2.3. Trình tự tính toán lún nền đắp trên đất yếu theo qui trình 43
2.2.4. Dự tính độ lún cố kết theo thời gian trong trường hợp thoát nước một chiều
theo phương thẳng đứng 43
2.2.5. Về độ lún cho phép của kết cấu áo đường 45
CHƯƠNG 3: LẬP BẢNG TRA TÍNH LÚN 47
3.1. THU THẬP, THỐNG KÊ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU ĐỊA CHẤT CÁC KHU VỰC
ĐẤT YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 47
3.1.1. Tổng quan về các số liệu thu thập 47
3.1.2. Phân tích số liệu 50
3.1.3. Phân chia khu vực đất yếu Đồng bằng sông Cửu Long 61
3.2. GIẢI CÁC BÀI TOÁN TÍNH LÚN CHO CÁC KHU VỰC ĐẤT YẾU ỨNG VỚI
CÁC CHIỀU CAO ĐẮP KHÁC NHAU 63
3.2.1. Số liệu đầu vào 63
3.2.2. Giải bài toán tính lún tỉnh Long An 65
3.2.3. Giải bài toán tính lún tỉnh Đồng Tháp 70
3.2.4. Giải bài toán tính lún tỉnh Cà Mau 75
3.2.5. Giải bài toán tính lún tỉnh Tiền Giang 80
3.3. THU THẬP KẾT QUẢ TÍNH TOÁN VÀ LẬP BẢNG TRA 85
3.3.1. Tỉnh Long An 85
3.3.2. Tỉnh Đồng Tháp 86
3.3.3. Tỉnh Cà Mau 87
3.3.4. Tỉnh Tiền Giang 88
3.3.5. Nhận xét 90
CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC ĐỂ ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ
91
Ơ
Ơ
N
N
Khoảng thời gian 3 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Giao Thông Vận
Tải – Cơ sở II đối với tác giả là khoảng thời gian đầy thú vị và nhiều thử thách.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Mạnh Hùng người hướng
dẫn trực tiếp, GS.TS. Vũ Đức Chính và PGS.TS. Nguyễn Hữu Trí, các thầy đã nhiệt tình
giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn gia đình, những người luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong
cuộc sống và học tập, nghiên cứu. Xin cảm ơn anh Th.S. Nguyễn Duy Liêm, những người
bạn thân, đồng nghiệp luôn động viên giúp đỡ tác giả. Và cuối cùng xin cảm ơn Công ty Cổ
Phần Tư Vấn Thiết Kế Giao Thông Vận Tải phía Nam về những số liệu đã cung cấp.
Trong khuôn khổ một luận văn Thạc sỹ khoa học kỹ thuật, chắc chắn chưa đáp ứng
được một cách đầy đủ những vấn đề đã đặt ra, mặt khác do trình độ bản thân còn nhiều hạn
chế. Tác giả xin chân thành cảm ơn và tiếp thu nghiêm túc những ý kiến đóng góp của các
nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp. TP. Hồ Chí Minh, Ngày Tháng Năm 2011
Tác giả Đoàn Văn Huy
tư xây dựng, khai thác mạng lưới giao thông vận tải đường bộ đạt hiệu quả cao, đáp ứng
được mục tiêu, nhiệm vụ quy hoạch đề ra.
2
Mở đầu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm kinh tế-xã hội và các điều kiện tự nhiên, qui hoạch mạng lưới
giao thông đường bộ các tỉnh ĐBSCL.
Nghiên cứu điều kiện địa chất các lớp đất yếu ở các tỉnh thuộc ĐBSCL.
4. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm địa chất của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và hiện trạng
thực tế lún của các công trình.
Nghiên cứu các phương pháp tính lún nền đường trên thế giới và trong nước. Từ đó
lựa chọn phương pháp tính lún cho đề tài.
Thu thập, thống kê và xử lý số liệu đia chất, phân chia đất yếu thành các khu vực
riêng. Trên cơ sở đó, tính lún nền đường với các chiều cao đắp khác nhau để lập nên bảng
tra.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thực nghiệm, phương pháp lý thuyết và thống kê toán học để
xử lý số liệu.
Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các tác giả, các bài báo khoa học có
liên quan đến nội dung của đề tài.
6. Độ tin cậy của đề tài
Đề tài dùng số liệu địa chất của các công trình có qui mô lớn đã hoàn thành đưa vào
khai thác và sử dụng phương pháp tính lún nền đường đất yếu phổ biến hiện nay trên
thế giới, đây cũng chính là phương pháp tính theo qui trình thiết kế hiện hành. Kết quả
tính toán có so sánh với các dự án đã hoàn thành nên có thể đủ độ tin cậy.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Phục vụ cho việc triển khai theo Quyết định số 344/2005/QĐ-TTg ngày 26/12/2005
về phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển giao thông vận tải vùng ĐBSCL đến
thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam và Đông là biển Đông, phía Tây là Vịnh Thái Lan.
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 3.900.000 hecta, bao gồm 13 tỉnh và
thành phố là: Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long,
Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, và An Giang. Với diện
tích ấy, Đồng bằng sông Cửu Long đứng hàng thứ hai trên thế giới (sau đồng bằng
Amazon) nó có ý nghĩa rất lớn trong công cuộc mở mang kinh tế của đất nước.
Hình 1-1. Bản đồ 13 tỉnh và thành phố thuộc Đồng bằng sông Cửu Long
5
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
1.1.2. Địa hình, địa mạo
Vào kỷ Đệ Tứ, khu vực phía đông của Đồng bằng bị lôi cuốn vào vận động
nâng lên của miền cực Nam Trung Bộ. Cao độ tuyệt đối lên tới hơn 100m, trong khi đó
phần còn lại ở miền Tây Nam Bộ bị lún sâu xuống hình thành một vịnh biển. Đường bờ
biển khi ấy lặn sâu xuống tận Battambang đến Crachilê. Miền Tây Nam Bộ thuộc châu
thổ sông Cửu Long được hình thành rất trẻ khi toàn miền bị sụt xuống, biển tiến từ từ cho
đến nay cách 6000-7000 năm biển dâng cao nhất. Các vết tích còn lại là nguồn nước đá
vôi ở Kiên Lương cao +4m đến +5m, các hố đầm lầy ở phía đông Trí Tôn có tuổi tuyệt
đối khoảng 6000-7000 năm và rất nhiều vết vỏ sò còn lại, mà các phân tích tuổi tuyệt đối
đều cho từ 5000 – 6000 năm cách nay, như ở Cái Lậy, Chồ Vỏ Sò (Nam Long Xuyên).
Sau đó biển từ từ rút khỏi đồng bằng, lúc này các tam giác châu lấn dần ra biển, tốc độ
bồi đắp khá nhanh, 60-80m/năm. Trên mặt đồng bằng hình thành một số dạng địa hình
độc đáo như các “giồng cát” có hướng song song với bờ biển hiện nay.
ĐBSCL có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc bình quân chỉ khoảng 1cm/km,
cao độ phổ biến từ (0.3-4)m trên mực nước biển (theo hệ mốc cao độ Mũi Nại),
trừ một số ngọn núi ở tỉnh An Giang và Kiên Giang. Ngoài các khu vực có độ cao cục bộ,
có thể phân thành các vùng theo cao độ như sau:
+ Thềm phù sa cổ dọc biên giới Việt Nam–Campuchia, có cao độ từ +2.0m
900-1300mm.
d. Độ ẩm
Độ ẩm tương đối ở Đồng bằng sông Cửu Long, khoảng 80% vào mùa mưa và
khoảng 60% vào mùa khô.
Tóm lại, đặc điểm bất lợi nhất về điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến công tác
xây dựng của vùng nghiên cứu là sự phân bố mưa theo mùa. Thời gian thuận lợi để
tiến hành xây dựng công trình là từ tháng 1 – 4 vì thời gian này không có mưa hoặc mưa
ít và chưa đều.
1.1.4. Chế độ thuỷ văn
Chế độ thủy văn ở Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng rất lớn của
dòng chảy sông Mêkông, thủy triều biển Đông, thủy triều vịnh Thái Lan và chế độ mưa
của từng tiểu vùng.
a. Sông Mêkông
Sông Mêkông có diện tích lưu vực 795.000 km
2
, tổng lượng nước hàng năm
450 tỷ mét khối, lưu lượng bình quân khoảng 14000 m
3
/s . Khi đổ vào Việt Nam sông toả
thành hai nhánh là Tiền Giang và Hậu Giang. Dòng chảy của sông Mêkông có hai mùa rõ
rệt mùa lũ và mùa kiệt. Ở thượng lưu sông Mêkông mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc
7
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
vào tháng 11. Nhờ sự điều tiết của Biển Hồ nên Đồng bằng sông Cửu Long lũ chậm hơn
một tháng và kéo dài hơn với dạng lũ bẹt.
Nằm ở hạ lưu vực Mêkông, với diện tích tự nhiên chỉ chiếm 5% tổng diện tích
lưu vực, nhưng hàng năm Đồng bằng sông Cửu Long bị nước lũ của sông Mêkông
chảy về gây ngập lụt cho phần phía Bắc của đồng bằng. Nước lũ truyền vào đồng bằng
theo các kênh rạch nối với sông Tiền, sông Hậu và từ phía Bắc tràn vào theo biên giới
ngọt và làm cho mặn xâm nhập sâu hơn vào đồng bằng. Nhưng riêng về thời đoạn chọn
để lấn dòng, ngăn dòng vào khoảng cuối tháng 2 đến trung tuần tháng 5.
Mức độ ngập úng cũng như thời gian ngập úng tại các tiểu vùng ở ĐBSCL
không những phụ thuộc chủ yếu vào lũ sông Mêkông mà cũng chịu ảnh hưởng của mưa
nội đồng và thuỷ triều. Khi gặp triều cường thì lũ tiêu thoát ra biển rất chậm, ngập úng
kéo dài. Mưa trong đồng lớn thì mức độ ngập úng càng trầm trọng. Tình hình ngập lụt
thực tế trong thời gian qua cho thấy, mực nước trung bình tháng, đặc trưng cho mức độ
8
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
ngập lụt, ở các trạm nội đồng có xu thế gia tăng trong khoảng 10 - 15 năm gần đây
(so sánh mực nước 2 thời kỳ 1982 - 1985 và 1992 - 1995). Mức gia tăng ngập lụt vùng
Đồng Tháp Mười tăng từ 15 - 40 cm. Mực nước lớn nhất nội đồng các năm lũ lớn cũng
cao hơn trung bình nhiều năm chừng 40 – 60 cm.
b. Thuỷ triều
Gần như toàn bộ diện tích Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng mạnh của
thuỷ triều biển Đông và vịnh Thái Lan. Thuỷ triều biển Đông theo các sông Vàm Cỏ
Đông, Vàm Cỏ Tây, sông Tiền, sông Hậu, sông Mỹ Thạnh, sông Gành Hào, sông Bồ Đề
và các sông, rạch nối thông với các sông này. Thuỷ triều vịnh Thái Lan theo các sông
Ông Đốc, sông Cái Lớn và các sông, rạch khác truyền mặn vào nội đồng, làm ảnh hưởng
đến một vùng đất rộng lớn ở phía Tây Đồng bằng sông Cửu Long.
Thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều, có biên độ triều lớn. Ở khu vực
ven biển và cửa sông có biên độ từ 2-3.5m. Thuỷ triều vịnh Thái lan theo chế độ
nhật triều không đều, ở khu ven biển và cửa sông có biên độ 0.7-1.1m. Vào sâu trong
đồng biên độ triều giảm mạnh và do thuỷ triều truyền vào theo nhiều hướng khác nhau,
tạo nên các khu vực giáp triều, tại đây có biên độ triều rất nhỏ, như trung tâm
Đồng Tháp Mười, trung tâm tứ giác Long Xuyên, trung tâm bán đảo Cà Mau, ở những
vùng này vào mùa khô có biên độ từ 0.3-0.5m, trong mùa mưa dưới 0.3m.
1.1.5. Chất lượng nước
Tổng cục địa chất cũng cho rằng cấu trúc ĐBSCL có dạng bồn trũng theo hướng
Đông Bắc – Tây Nam mà trung tâm bồn trũng có thể là vùng kẹp giữa sông Tiền và
sông Hậu, Theo tài liệu hố khoan của Tổng cục Dầu khí cho thấy khu vực này, móng đá ở
10
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
độ sâu tới 900m, vây quanh vùng trung tâm là các vùng cánh của bồn trũng và xa hơn là
các đới nâng cao của móng đá lộ ra ở Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh (miền Đông
Nam Bộ) bên kia là núi đá ở Hà Tiên, An Giang, vịnh Thái Lan Các tài liệu nghiên cứu
phần lộ đều cho thấy tuổi của móng đá trước Kanozoi (khoảng trên 65 triệu năm). Phủ
lên trên móng đá là tập hợp các thành tạo bở rời, có tuổi từ Neogen đến Đệ tứ, trên mặt là
tầng trầm tích trẻ (trầm tích Holoxen) có tuổi khoảng 15.000 năm có chiều sâu lên tới
110m, đây cũng chính là tầng đất yếu trên mặt, được tạo thành bởi các trầm tích hạt mịn
có nguồn gốc biển, sông – biển hỗn hợp, sông – biển, đầm lầy, sông hồ hỗn hợp và sinh
vật gồm sét, bùn sét hữu cơ, bùn sét pha chứa nhiều mùn thực vật, á sét chảy, bùn á sét;
móng của các công trình chủ yếu được đặt trên tầng đất yếu này.
b. Lịch sử phát triển địa chất
Theo các tài liệu đo vẽ lập bản đồ địa chất, thăm dò địa vật lý trọng lực hiện có
thì vùng trũng Nam Bộ được hình thành có lẽ theo đứt gãy dạng địa hào (graben) vào thời
kỳ Oligen (35 triệu năm trước đây). Đến Mioxen và Plioxen (25 triệu năm và 7 triệu năm
trước đây) quá trình lún sụt mở rộng dần và toàn bộ miền Tây và một phần miền
Đông Nam Bộ ngày nay.
Để phục vụ trực tiếp cho mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu, trong mục
này chỉ mô tả tương đối chi tiết trầm tích Đệ Tứ.
Trong kỷ Đệ Tứ, dao động mực nước biển chi phối rất lớn đến các yếu tố cổ
địa lý của các đồng bằng ven biển nói chung cũng như Đồng bằng sông Cửu Long
nói riêng. Các đợt biển tiến, biển thoái gắn liền với lịch sử phát triển địa chất khu vực.
Trong các mặt cắt trầm tích Đệ tứ ở các đồng bằng ven biển Việt Nam đó xác lập được
những trầm tích có nguồn gốc biển ở các tuổi khác nhau, điều đó cho phép nói trong kỷ
Đệ Tứ ở Việt Nam có chịu ảnh hưởng trực tiếp của các đợt biển tiến biển thoái xen kẽ
1
, amI
1
mang tính chất cục bộ, bao gồm các vật liệu hạt thô
như cuội, sỏi, cát hạt thô chuyển dần lên là cát hạt trung, bột và các thấu kính kaolin.
Song song với quá trình bóc mòn là quá trình xâm thực sâu và phong hoá
nhiệt đới ( feralit hoá). Các dấu ấn của các lớp phong hóa thuộc giai đoạn này không chỉ
ghi nhận được trong mặt cắt lỗ khoan ở đồng bằng hiện tại mà còn có một bề mặt laterit ở
ngoài khơi vịnh Thái Lan đã được E.Saurin (1962) ghi nhận và coi như là bề mặt địa hình
của giai đoạn đầu Pleistoxen sớm.
* Sau một thời gian dài gián đoạn trầm tích, đến thời kỳ giữa - muộn của
Pleistoxen sớm (Q
I
2-3
) và cả trong đầu pleistoxen giữa, khu vực từ từ sụt lún, biển từ biển
Đông lại tiến vào đồng bằng hiện tại. chuyển động sụt lún vỏ quả đất ở đây có lẽ là do
ảnh hưởng của tân kiến tạo lẫn dao động mức nước đaị dương (tan băng) của thế giới.
Trong môi trường dạng vũng vịnh, cửa sông đã lắng đọng trầm tích loại sét khá dầy có
nguồn gốc sông biển hỗn hợp xen nhịp với trầm tích sông biển hạt thô amI
2
- II
1
,
trầm tích biển mI
2
-II
1
(Theo tài liệu khác: đường bờ biển trong giai đoạn này xấp xỉ hoặc
sâu hơn đường bờ biển hiện tại một chút. Giai đoạn này phía Đông và phía Tây của
ĐBSCL được phân biệt với hai chế độ lắng đọng trầm tích khác nhau: trầm tích lục địa ở
1
.
Địa hình thời kỳ Pleistoxen giữa hoàn toàn kế thừa địa hình của thời kỳ trước
nhưng độ chênh cao giữa dạng địa hình dương và địa hình âm được giảm đi bởi cả hai
quá trình bóc mòn và trầm tích (hình 1-4).
13
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
Hình 1-4. Sơ đồ cổ địa lý thời điểm biển tiến Pleistocen giữa
vùng đồng bằng Nam Bộ
Thời kỳ Pleistoxen muộn
Bắt đầu từ giữa Pleistoxen muộn (Q
2
III
) lại bắt đầu đợt biển tiến, kết quả
nghiên cứu thạch học và cổ sinh của hàng loạt mặt cắt khoan trong vùng đã xác định
được đường bờ biển của giai đoạn này đã vượt qua đường bờ biển hiện tại vào sâu trong
đồng bằng. Sản phẩm của đợt biển tiến này là sự thành tạo trầm tích sông - biển (amIII
2
)
và trầm tích biển mIII
2
. tạo thành các bậc thềm tích tụ – xâm thực cao 30m – 40m phân
bố rộng rãi và ổn định. Trên cơ sở khảo sát các trầm tích gồm hai lớp: Lớp dưới là cát sạn
sỏi màu vàng, xen kẹp các lớp sét bột, nguồn gốc sông biển. Lớp trên là cát sét, sạn màu
đỏ nguồn gốc sông, cát có độ chọn lọc kém, càng lên trên kích thước hạt càng giảm.
14
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
đồng bằng bắt đầu chịu ảnh hưởng của biển. Đây là đợt biển tiến có quy mô nhất trong kỷ
Đệ Tứ ở ĐBSCL. Nó phủ hầu hết toàn bộ đồng bằng phía Tây và phần Tây Nam của
đồng bằng phía đông.
Vào khoảng nửa sau của Holoxen sớm biển bắt đầu tiến vào đồng bằng và đến
Holoxen giữa (cách nay 4.000 – 6.000 năm) thì đạt đến cực đại, với tốc độ 9mm/năm tạo
nên các lớp trầm tích biển có chiều dày đạt tới trên dưới 30m của hệ tầng sông Hậu và
san bằng các địa hình phân cắt của lục địa cuối Pleistoxen đầu Holoxen. Tại vùng
Hà Tiên các ngấn nước cao 4.5m đến 5.5 trên các vách đá vôi là dấu vết khá rõ ràng cho
đợt biển tiến này.
Biển đầu Holoxen sớm–giữa (Q
IV
1-2
) ở ĐBSCL thuộc loại biển nông. Các di tích
sinh vật biển khá phong phú và cho thấy đáy biển không sâu quá 40-50m. Biển thời kỳ
này tràn ngập cả vùng Kiên Lương – Hà Tiên nên các núi đá vôi ở đây một lần nữa lại
trở thành các những hòn đảo bị sóng vỗ gậm mòn và hiện còn để lại các dấu vết rất rõ.
Ở Tây Nam sông Hậu, thời kỳ này đã tạo nên mỏ sét bentonit. Biển tiến vào tận Tây Bắc
Thành phố Hồ Chí Minh (Hóc Môn) và tới Đông Nam thành phố là vùng Cát Lái.
Giai đoạn biển tiến này đã phân hóa đồng bằng thành nhiều vùng có đặc điểm
khác nhau như: biển nông gần bờ, cửa sông và bãi triều ven biển, đầm lầy ven biển và
lục địa bóc mòn. Kiểu địa hình lục địa bóc mòn phát triển chủ yếu ở phần đông bắc của
đồng bằng phía Đông. Đặc biệt thời kỳ này hình thành và phát triển nhanh chóng và
phong phú thực vật nhiệt đới, tạo điều kiện hình thành các vùng chứa than bùn rộng lớn ở
thời kỳ tiếp theo cho vùng Tháp Mười, thượng và trung thung lũng Vàm Cỏ Đông, Bắc
và Đông Bắc Kiên Lương. Địa hình ở đồng bằng phía Đông có độ cao trên 5m, hầu như
chỉ chịu tác động của các quá trình phong hóa bóc mòn là chính (hình 1-6).
16
Chương 1 : Tổng quan về điều kiện tự nhiên và địa chất công trình ở ĐBSCL
2 aIV
3
Trầm tích sông Holoxen sớm
3 abIV
3
Trầm tích sông - đầm lầy Holoxen sớm
4 lbIV
3
Trầm tích hồ - đầm lầy Holoxen sớm, hệ tầng Đồng Tháp
5 bmIV
3
Trầm tích đầm lầy ven biển Holoxen sớm, hệ tầng U Minh và
hệ tầng Duyên Hải
6 bIV
3
Trầm tích đầm lầy Holoxen sớm
7 mvIV
3
Trầm tích biển gió Holoxen sớm
8 mabIV
3
Trầm tích hỗn hợp biển sông – đầm lầy Holoxen sớm, hệ tầng
Cửu Long
9 mvIV
2-3
Trầm tích biển gió Holoxen sớm – giữa không chia
10 aIV
2-3
các tài liệu khoan địa chất thực tế thu được. GS-TS Nguyễn Thanh đưa ra cột địa tầng
tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm các tầng chính sau:
Tầng bồi tích trẻ hay gọi là trầm tích Holoxen được phân thành 3 bậc:
* Bậc Holoxen muộn Q
IV
1-2
gồm cát vàng và xám tro, chứa sỏi nhỏ cũng kết
vón sắt, phủ lên tầng đất sét loang lổ Pleixtoxen, chiều dày đạt tới 12m.
* Bậc Holoxen giữa Q
IV
2
gồm bùn sét màu xám, sét xám xanh và xám vàng,
chiều dày từ 10m đến 70m.
* Bậc Holoxen sớm Q
IV
3
gồm tầng trầm tích khác nhau về điều kiện tạo thành,
thành phần vật chất, tuổi và điều kiện phân bố:
+ Tầng trầm tích biển, sông biển hỗn hợp và sinh vật mQ
IV
3
, mabQ
IV
3
gồm cát hạt mịn và bùn sét hữu cơ.
+ Tầng trầm tích sinh vật, đầm lầy ven biển bamQIV3 gồm bùn sét hữu cơ
than bùn.
+ Tầng trầm tích sông hồ hỗn hợp và sinh vật ambQIV3 gồm bùn sét hữu cơ.
+ Tầng bồi tích aQIV3 gồm sét, á sét chảy, bùn á sét hoặc bùn sét hữu cơ.
(bị FERALIC hoá) đôi chỗ có sét nâu xám
(gần sông lớn)
2
Bùn sét xám đen xen các lớp cát bụi xám tro
chứa sò hến vũng vịnh (ch a xác định)
Bùn sét, than bùn (phần trên) chứa mảnh
3
vụn thực vật RHZOPHORA
MELALAENCA, LENCAĐENON
Bùn sét hữu cơ
4
4500
HOLOXEN
trên
1 3
4
2
1
3
42
0.2-3.5
90-200
>2 >2
a,amQ 3
IV
3
IV
bmQ 3
3
4
sắt. Có nơi gặp sò hến
trắng) đôi chỗ bị đá ong hoá. D ới sét
là cát lẫn sỏi sạn.
0.5 - 12
d ới
HOLOXEN
PLEITOXEN
6
6
(ch a xác định)
8000
11000
2
Hỡnh 1-7. Ct a tng tng hp khu vc ng bng sụng Cu Long
1.2.2. c im a cht thy vn
Trong cỏc trm tớch Kainozoi khu vc nghiờn cu cú 4 phõn v cha nc
ch yu: tng cha nc l hng cỏc trm tớch Holoxen (Q
IV
), tng cha nc hng cỏc
trm tớch Pleistoxen (Q
I-III
), tng cha nc l hng cỏc trm tớch Plioxen sm (N
2
2
),
tng cha nc cỏc trm tớch Plioxen mun (N
2
1
).