Download Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô, quan liêu, lãng phí miễn phí
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
4. KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 5
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 5
CHƯƠNG I : TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THAM NHŨNG 7
1.1 Khái Niệm Về Tham Nhũng 7
1.2 Khái Niệm Về Tội Phạm Tham Nhũng 7
1.3 Các Dấu Hiệu đặc Trưng Về Tội Phạm Tham Nhũng 8
1.4 Tội Phạm Tham Nhũng và Vi Phạm Luật Của Người Có Chức Quyền 10
1.5 Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Tham Nhũng 11
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI NỀN KINH TẾ 11
2.1 Thực Trạng Tham Nhũng Ở Một Số Nước 11
2.2 Một Số Đặc Trưng Tham Nhũng hiện Nay 13
2.3 Thực Trạng Tham Nhũng Tại Việt Nam 14
CHƯƠNG III : MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH VÀ PHÒNG CHỐNG 19
3.1 Tiếp Tục Hoàn Thiện Cơ Chế Quản Lý 19
3.2 Đổi Mới Công Tác Cán Bộ 19
3.3 Tăng Cường Và Đổi Mới Sự Lãnh Đạo Của Các Cấp Ủy Đảng 20
3.4 Phối Hợp Giữa Các Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Cuộc Đấu Tranh Chống Tham Nhũng. 20
3.5 Tích Cực Vào Cuộc Đấu Tranh Chống Tham Nhũng 20
3.6 Hạch Toán Sổ Sách Chính Xác 21
3.7 Kiểm Toán Nội Bộ Hiệu Quả 21
3.8 Kiểm Toán Độc Lập 21
PHỤ LỤC 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-34995/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
viên chức chính quyền. Vậy tham nhũng là bệnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị.
Cho tới nay, tham nhũng một hiện tượng xã hội tiêu cực để trở thành một quốc nạn của toàn xã hội, nó gây tác động tiêu cực, không nhỏ đối với xã hội, gây trong lòng dân làn sóng bất bình, nó là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức, vi phạm pháp luật… khi mà những hành vi tham nhũng đó gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội đủ các dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo Bộ luật Hình sự 1999 (4) thì loại tội phậm này được quy định ở Mục A - Chương XXI, bao gồm các tội sau:
Tội tham ô tài sản (Điều 278)
Tội nhận hối lộ (Điều 279)
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản (Điều 280)
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281)
Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282)
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi (Điều 283)
Tội giả mạo trong công tác (Điều 284)
Muốn đưa ra được khái niệm về tội tham nhũng, trước hết chúng ta phải nắm được khái niệm tội phạm nói chung. Theo khoản 1 - Điều 8 - Bộ luật Hình sự quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa".
Qua khái niệm về tội phạm nói chung và phần các tội phạm về tham nhũng được ghi nhận tại Mục A - Chương XXI có thể hiểu khái niệm về tội phạm tham nhũng như sau: "Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có chức vụ, quyền hạn để lợi dụng hay lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình thực hiện trong khi thi hành công vụ một cách cố ý trực tiếp xâm phạm vào hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan Nhà nước hay tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhằm trục lợi".
1.3 Các Dấu Hiệu đặc Trưng Về Tội Phạm Tham Nhũng
Chủ thể của tội phạm tham nhũng là một loại chủ thể đặc biệt, đòi hỏi đó phải là những người có chức vụ, quyền hạn. ở đây, ngoài hai dấu hiệu thông thường là độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự, bắt buộc phải có dấu hiệu thứ ba là người có chức vụ, quyền hạn. Điều 277 - BLHS 1999 (4) quy định: " Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hay do một hình thức khác, có hưởng lương hay không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ".
Có thể thấy người có chức vụ quyền hạn có một só đặc điểm như sau:
Là người được giữ chức vụ thường xuyên hay tạm thời trong cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. Chức vụ này có thể do bổ nhiệm hay do bầu cử, hợp đồng hay hình thức khác (uỷ quyền, đại diện), có hưởng lương hay không hưởng lương của Nhà nước.
Là người thực hiện một trong các chức năng: thay mặt quyền lực Nhà nước, tổ chức điều hành quản lý hành chính; hay chức năng tổ chức sản xuất kinh doanh theo công vụ được được giao cho họ.
Là những người thực hiện trách nhiệm nhất định theo thẩm quyền chuyên môn mà họ đảm nhận.
Trong các tội phạm tham nhũng, người có chức vụ quyền hạn đã nhận thức được tính chất nguy hiểm cho Nhà nước, cho xã hội, cho công dân của hành vi trái luật do mình gây ra và thấy trước được hậu quả xảy ra. Khi người có chức vụ quyền hạn nhận thức được hành vi của mình là trái với công vụ được giao thể hiện người đó đã vì lợi ích của riêng mình chứ không hoạt động vì lợi ích chung, chỉ biết đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể, họ có thể làm bằng nhiều cách thức, con đường khác nhau cốt sao mang lại những lợi ích mà họ mong muốn. Như vậy, đương nhiên tội phạm tham nhũng luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, nhằm động cơ vụ lợi cá nhân.
1.4 Tội Phạm Tham Nhũng và Vi Phạm Luật Của Người Có Chức Quyền
Ta có thể căn cứ vào một trong các tiêu chí sau đây để thấy rõ hơn sự khác nhau chủ yếu giữa tội phạm tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện:
Đối với các tội phạm về tham nhũng thì phạm vi khách thể thường hẹp hơn so với phạm vi khách thể bị xâm hại của các vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện.
Tính trái pháp luật của hành vi: Đây chính là đặc điểm khác nhau cơ bản, quan trọng nhất để xác định hành vi nào là tội phạm về tham nhũng và hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện. Tội phạm tham nhũng là sự vi phạm điều cấm của Luật Hình sự và người phạm tội bị đe doạ xử lý bằng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được quy định đặc thù trong ngành luật này. Còn hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện chỉ là sự vi phạm các quy định của từng ngành luật tương ứng khác và có thể không bị coi là tội phạm.
Hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi: chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về tham nhũng nếu bị kết án và bị áp dụng hình phạt thì bị coi là có án tích. Còn chủ thể chịu trách nhiệm pháp luật của hành vi vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện được quy định trong từng ngành luật tương ứng và không bao giờ bị coi là án tích.
Như vậy, không phải tất cả những vi phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện đều là các tội phạm về chức vụ nói chung, và tội phạm về tham nhũng nói riêng.
1.5 Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Tham Nhũng
Trách nhiệm và trình độ quản lý của thủ trưởng đơn vị quá kém; cơ chế kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng, quản lý, luân chuyển tài sản có nhiều sơ hở;.giao tài sản cho nhân viên quản lý nhưng không có biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ; gian lận trong công tác để chiếm đoạt tài sản; các quy định về nhà đất, thủ tục đền bù giải tỏa không được công khai, rõ ràng khiến người dân có suy nghĩ phải "đút lót, trà nước" mới xong và cũng là cơ hội cho cán bộ sách nhiễu. Có sự cấu kết của nhiều người trong nhiều cơ quan khác nhau. Thủ đoạn này rất tinh vi, nguy hiểm, vì tài sản thất thoát khó phát hiện, kiểm tra và khó phục hồi.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG THAM NHŨNG VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI NỀN KINH TẾ
2.1 Thực Trạng Tham Nhũng Ở Một Số Nước
Tham nhũng đã trở thành một mối lo ngại lớn mang tính toàn cầu. Năm 2008, chỉ số nhận biết tham nhũng (viết tắt là CPI), được Tổ chức minh bạch quốc tế thực hiện sau khi nghiên cứu 85 quốc gia, đã cho thấy, tham nhũng không chỉ là mối lo của các nước đang phát triển mà còn là của các nước đang phát triển. Có đến 50 quốc gia không đạt điểm 5 trong thang điểm từ cấp độ...