DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kết cấu hạ tầng
Khu công nghiệp
Kinh tế - xã hội
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
KCHT
KCN
KT - XH
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ
TẦNG PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở
TỈNH BẮC NINH
1.1. Kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp
1.2. Quan niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến phát
10
10
triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh
công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
67
KẾT LUẬN
85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
87
PHỤ LỤC
93
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong
quá trình phát triển KT - XH của quốc gia, cũng như mỗi vùng lãnh thổ. Có
KCHT đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh,
ổn định và bền vững. Đối với các khu công nghiệp, KCHT là cơ sở, nền tảng
cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của KCN. Trong những năm qua, nhờ
KCHT phát triển theo hướng ngày càng đồng bộ và hiện đại nên đã làm thay
đổi diện mạo các KCN ở nước ta, góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn
cách tiếp cận khác nhau:
* Một số công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng nói chung, tiêu biểu có:
Phạm Thị Tuý (2006), Thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển kết cấu
hạ tầng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Luận án tập trung làm rõ vai trò của KCHT với quá trình phát triển KT - XH ở
Việt Nam, chỉ ra thực trạng phát triển KCHT ở Việt Nam, thực trạng thu hút và sử
dụng vốn ODA vào phát triển KCHT ở Việt Nam những năm qua. Từ đó, đề ra
quan điểm và giải pháp thu hút vốn đầu tư ODA vào phát triển KCHT ở nước ta.
Nguyễn Bá Ân (2012), Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Tuyên giáo, số 7.
Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và một số hạn chế, yếu kém của
hệ thống KCHT nước ta từ năm 2000 đến năm 2010 trên một số mặt như hạ
tầng giao thông, hạ tầng năng lương, hạ tầng thông tin và truyền thông, kết
cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng KCN, hạ tầng thương mại…, tác giả đã
đưa ra một số giải pháp để xây dựng hệ thống KCHT nước ta một cách đồng
bộ, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nguyễn Quang Vinh (2015), Phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam,
Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 217. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích
và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong phát triển KCHT ở Việt Nam
trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh phát triển
KCHT đảm bảo phát triển bền vững trong thời gian tới.
Trần Kim Chung (2015), Hoàn thiện thể chế quy hoạch phát triển kết
cấu hạ tầng ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 216. Trong nghiên
cứu này, tác giả chỉ ra rằng thể chế quy hoạch phát triển KCHT của Việt Nam
4
đã có những nền móng ban đầu để định hướng cho phát triển KCHT nhưng còn
thiếu cả về cơ sở pháp lý, cả về lực lượng triển khai và hệ thống thanh tra, kiểm
sở đánh giá thực trạng, nguyên nhân những hạn chế trong quá trình phát triển
hạ tầng KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh và vận dụng những kinh nghiệm
của một số địa phương trong phát triển hạ tầng KT - XH, tác giả đề xuất một
số giải pháp để phát triển KCHT KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh.
Trần Minh Phương (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh
tế, Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và đầu tư, Hà Nội. Ở công trình
này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về KCHT ngành giao thông vận tải đáp ứng
yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam, trong đó đã làm rõ những vấn đề lý luận về
phát triển KCHT giao thông, đánh giá thực trạng phát triển KCHT giao thông
ở Việt Nam thời gian qua. Trên cơ sở thực trạng phát triển KCHT giao thông,
tác giả đề xuất những quan điểm và giải pháp phát triển KCHT giao thông ở
Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH thời gian tới.
Đỗ Đức Tú (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng Đồng
bằng sông Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại, Luận án tiến sĩ kinh tế,
Viện Chiến lược phát triển - Bộ kế hoạch và đầu tư, Hà Nội. Luận án tập
trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển KCHT giao thông vùng
đồng bằng Sông Hồng. Đồng thời chỉ ra những yêu cầu phát triển KCHT giao
thông của vùng đến năm 2030, đề ra các giải pháp cơ bản phát triển KCHT giao
thông vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng hiện đại đến năm 2030.
Nguyễn Thế Cao (2013), Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị, Hà Nội. Tác giả đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về KCHT KT - XH trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Hà Nam. Trên cơ
sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp để phát triển KCHT KT - XH
trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Nam thời gian tới.
* Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến KCN và kết cấu hạ
tầng KCN, tiêu biểu có:
nước sạch, dịch vụ xử lý chất thải, dịch vụ cho thuê kho bãi. Từ nhận định các
bên về các dịch vụ này, bài nghiên cứu đưa ra các kết luận và hướng phát
triển cho các dịch vụ này trong KCN tỉnh Bắc Ninh.
Đào Minh Nhật (2014), Phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp ở
tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà Nội. Luận
văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về KCHT nói chung và kết cấu hạ
7
tầng KCN ở tỉnh Đồng Nai nói riêng. Đồng thời trên cơ sở đánh giá thực
trạng phát triển kết cấu hạ tầng KCN trên địa bàn Tỉnh, tác giả đã đưa ra một
số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng KCN ở
tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới.
Mặc dù các công trình trên đây nghiên cứu KCHT hoặc KCHT KT - XH
được tiếp cận trên góc độ kinh tế kỹ thuật hoặc kinh tế ngành, với nhiều phạm
trù và không gian khác nhau: cả nước; vùng miền hay lĩnh vực khác, nhưng chưa
có công trình nào đi sâu nghiên cứu về kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công
nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Phát triển kết cấu hạ tầng
phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh” có ý nghĩa cả lý luận và thực
tiễn; đồng thời không trùng lắp với bất kỳ công trình nào.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KCHT phục vụ
các KCN; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KCHT
phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về phát triển KCHT phục vụ các KCN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KCHT phục vụ các KCN ở
tỉnh Bắc Ninh.
thống kê, hệ thống hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn để
thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn phát triển KCHT phục vụ
các KCN ở tỉnh Bắc Ninh.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, làm tài liệu
tham khảo để các chủ thể lãnh đạo, quản lý xây dựng chủ trương, biện pháp
phát triển KCHT phục vụ các KCN.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương (6 tiết), kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH
1.1. Kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp
1.1.1. Quan niệm về kết cấu hạ tầng
Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về kết cấu hạ tầng.
KCHT có thể được hiểu là cơ sở hạ tầng hay hạ tầng cơ sở. Có ý kiến cho
rằng: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch
vụ” [34, tr.153]. Theo quan niệm này thì cơ sở hạ tầng bao gồm: việc xây
dựng đường xá, kênh mương tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho
tàng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu
điện, cơ sở cấp thoát nước, các cơ sở giáo dục, y tế, khoa học, chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ.... Hoặc quan niệm cho rằng, cơ sở hạ tầng là: “hệ thống các
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm trên, tiếp cận dưới góc độ
kinh tế chính trị, tác giả cho rằng KCHT là tổng thể cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến
trúc với vai trò nền tảng và điều kiện chung bảo đảm cho sự phát triển KT - XH
của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định.
KCHT có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các
tiêu chí khác nhau. Cụ thể như:
Nếu căn cứ theo lĩnh vực KT - XH, thì KCHT có thể được phân chia thành:
KCHT phục vụ kinh tế, KCHT phục vụ hoạt động xã hội, và KCHT phục vụ an
ninh, quốc phòng. Song trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ
phục vụ kinh tế mà không phục vụ các hoạt động xã hội khác và ngược lại.
Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì KCHT có
thể được phân chia thành: KCHT trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao
thông vận tải, bưu chính - viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân
hàng, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội...
Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, thì KCHT có thể được
phân chia thành: KCHT đô thị, KCHT nông thôn; KCHT kinh tế biển (ở
những nước có kinh tế biển), KCHT đồng bằng, trung du, miền núi, vùng
trọng điểm phát triển, các thành phố lớn.
KCHT trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công
trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình
11
liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống. Trong nhiều công
trình nghiên cứu về KCHT, các tác giả thường phân chia KCHT thành hai loại
cơ bản, gồm: KCHT kinh tế và KCHT xã hội. Trong đó:
KCHT kinh tế bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng
(điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận
tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường
1.1.2. Quan niệm về kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp
Với các cách tiếp cận đã nêu ở trên, có thể hiểu KCHT phục vụ các
KCN là tổng hợp các cơ sở vật chất - kỹ thuật và xã hội đóng vai trò nền tảng
cho phát triển và hoạt động của các KCN. KCHT phục vụ các KCN được
chia thành 2 nhóm chính: KCHT kỹ thuật và KCHT xã hội.
KCHT kỹ thuật: là các công trình và phương tiện của hệ thống giao
thông, đường sá; cung cấp điện; hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường, bưu
chính viễn thông, phòng cháy chữa cháy…
Hệ thống giao thông trong các KCN cũng như hệ thống đường giao
thông dân sinh được đấu nối với các KCN có vai trò quyết định đến việc mở
rộng quy mô sản xuất, tăng năng lực sản xuất, giảm chi phí vận chuyển hàng
hóa của các KCN hoặc liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong và ngoài địa
phương, từ đó sẽ góp phần làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ đến tay người
tiêu dùng giảm đi nhiều, nâng cao tính cạnh tranh, mở rộng thị trường. Các
KCN phát triển tốt đều có hệ thống đường giao thông nội bộ và hệ thống
đường giao thông dân sinh đấu nối vào KCN tương đối hoàn chỉnh và thuận
tiện. Đây là điều kiện quan trọng vì nếu giao thông không thuận tiện thì KCN
khó tồn tại lâu dài và bền vững. Thực tế cho thấy, hệ thống giao thông yếu
kém là một khó khăn, trở ngại to lớn đối với sự phát triển của các KCN.
Hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường. Vấn đề môi trường đang là một
trong những vấn đề bức xúc hiện nay. Giải quyết tốt vấn đề môi trường sẽ góp
phần tích cực vào việc phát triển bền vững các KCN. Chính vì vậy hạ tầng xử
lý và bảo vệ môi trường ở các KCN hiện nay là một vấn đề cần phải được
quan tâm đúng mức. Hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường bao gồm: hệ thống
thu gom nước thải, nhà máy xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước
13
thải, khu vực lưu giữ chất thải rắn (nếu có), hệ thống quan trắc nước thải tự
phát triển KCN diễn ra một cách thuận lợi hơn. Ngược lại, ở những nơi có tốc
độ phát triển KCN chậm thường do KCHT không tốt, kém đồng bộ. Chính
mối quan hệ qua lại chặt chẽ này mà phát triển KCHT vừa được coi là điều
kiện, vừa được coi là một nội dung cấu thành không thể tách rời của toàn bộ
quá trình hình thành và phát triển các KCN.
Đặc điểm của KCHT phục vụ các KCN
Thứ nhất, KCHT phục vụ các KCN là một loại hàng hoá khác với các
loại sản phẩm vật chất khác, nó là một loại hàng hoá công cộng. Nó được các
chủ thể sản xuất - kinh doanh trong KCN cùng sử dụng, việc sử dụng của cơ sở
này không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng của các cơ sở khác.
Thứ hai, KCHT phục vụ các KCN mang tính hệ thống, đồng bộ, hiện
đại, kết nối với hệ thống KCHT chung của Tỉnh và quốc gia. KCHT phục vụ
các KCN có nhiều yếu tố hợp thành, bao gồm các yếu tố vật chất (nhà xưởng,
đường giao thông, công trình xử lý môi trường, mạng lưới điện…) và các yếu
tố phi vật chất (đào tạo, y tế, hành chính công, nhà ở, an ninh, văn hoá…). Yêu
cầu và đặc điểm của KCHT phục vụ các KCN là phải đồng bộ. Cụ thể là: đồng
bộ giữa trong và ngoài KCN; đồng bộ giữa KCHT kỹ thuật và KCHT xã hội;
đồng bộ giữa các yếu tố cấu thành của KCHT; đồng bộ về thời gian huy động
các yếu tố cấu thành KCHT vào sử dụng.
Tính hệ thống thể hiện trong sự phát triển đồng thời, cân đối các loại
KCHT phục vụ các KCN và sự phối hợp, kết hợp tốt giữa các loại KCHT đó.
Tính đồng bộ thể hiện sự phù hợp, thích ứng về trình độ kỹ thuật của các yếu
tố cấu thành KCHT đó. Tính hệ thống, đồng bộ mang lại ý nghĩa KT - XH,
nhân văn rất lớn bởi đây là một trong những yêu cầu của sự phát triển KCHT.
Vì vậy, nếu KCHT phục vụ các KCN thiếu tính hệ thống và đồng bộ thì hiệu
quả khai thác, sử dụng sẽ không cao.
Thứ ba, KCHT phục vụ các KCN đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, vượt
quá khả năng của một cơ sở sản xuất - kinh doanh trong KCN, thời hạn thu
xuất, dịch vụ của nhiều ngành như: xây dựng, giao thông, điện lực, viễn
thông, đào tạo, thương mại… Do đó cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ
giữa các ngành này trong xây dựng và phát triển KCHT.
Vai trò của KCHT đối với KCN
KCHT có vai trò quan trọng đối với việc phát triển KCN, cụ thể:
16
Một là, KCHT quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh các ngành
sản xuất, các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và dịch vụ trong KCN. Sở dĩ như
vậy là vì KCHT là yếu tố để cung cấp các dịch vụ, các yếu tố đầu vào, đầu ra,
đảm bảo cho quy trình sản xuất tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với
quy mô ngày càng mở rộng. Đây là yếu tố cơ bản để KCN có cơ hội phát
triển trong quá trình hội nhập.
Hai là, KCHT sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản trong cơ cấu sản xuất và
ngành nghề trong KCN. Với một KCHT hiện đại là điều kiện cơ bản cho phát
triển nhiều ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao trong KCN, có thể làm thay
đổi cấu trúc ngành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của địa phương.
Ba là, KCHT là cơ sở vật chất và điều kiện quan trọng để phát triển
KCN. Nếu xem KCN như một cơ thể con người, thì hệ thống KCHT được ví
như các phân hệ hợp thành của cơ thể con người đó: giao thông và điện lực là
hệ thống mạch máu; thông tin liên lạc là hệ thống thần kinh; cấp, thoát nước là
hệ thống tiêu hóa và bài tiết của con người... Những hệ thống này không thể
thiếu. Vì nếu thiếu và yếu một phân hệ nào đó sẽ dẫn đến không cân bằng đối
với cơ thể con người. Như vậy, nếu hệ thống KCHT kỹ thuật bị trục trặc sẽ
làm cho sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, thậm chí lâm vào tình trạng rối loạn.
KCHT tạo điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất, thúc đẩy các hoạt động sản
xuất - kinh doanh của KCN.
Bốn là, KCHT tốt sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên
vai trò nền tảng để phục vụ cho quá trình hoạt động và phát triển của mỗi
quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định.
Khái niệm trên đây về phát triển KCHT phản ánh những vấn đề cơ bản sau:
Một là, phát triển KCHT là sự vận động, biến đổi cả về cơ cấu, số
lượng, chất lượng của hệ thống KCHT kinh tế và KCHT xã hội. Hệ thống
KCHT đó đóng vai trò nền tảng để phục vụ cho quá trình hoạt động và phát
triển của quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định.
Hai là, phát triển KCHT cần phải đi trước một bước, thể hiện tính tiên
phong, mở đường cho sự phát triển KT - XH của quốc gia, vùng lãnh thổ.
Điều này xuất phát từ vai trò nền tảng quan trọng của KCHT đối với quá trình
phát triển KT - XH và đòi hỏi thực tế của yêu cầu khai thác có hiệu quả
những tiềm năng của đất nước. Tiếp đó, sự phát triển của KCHT sẽ có tác
18
động tích cực đến sự phát triển của các ngành, lĩnh vực và các khu vực của
nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao mức sống của người dân nói riêng và của toàn xã hội nói chung,
đồng thời sẽ góp phần giảm bớt nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế.
Ba là, phát triển KCHT phải đảm bảo nâng cao cả hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội và môi trường. Đây là xu hướng khách quan nhưng tất yếu
nhằm tạo việc làm mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh
tế, đảm bảo môi trường bền vững, thực hiện công bằng xã hội. Do nguồn lực
cho phát triển KCHT không phải lúc nào cũng dồi dào, sẵn có mà việc đầu tư
xây dựng KCHT phục vụ các KCN cũng không phải là các hoạt động đầu tư
kinh doanh đơn thuần, nó đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Do vậy khi đầu tư phát triển
KCHT phải hết sức cân nhắc, tính toán giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội, tránh tình trạng quá tập trung, quá tính toán lợi ích kinh tế mà lãng quên
đến lợi ích xã hội mà hạ tầng mang lại. Cần thiết phải tính toán, cân nhắc để
lập hệ thống cơ sở vật chất để bảo đảm cho sự hoạt động và phát triển của
các KCN. Trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và đẩy mạnh quá trình
CNH, HĐH đất nước. Hệ thống cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt động và
phát triển của các KCN bao gồm các công trình KCHT cả bên trong và bên
ngoài các KCN.
Hai là, chủ thể quản lý, lãnh đạo quá trình phát triển KCHT phục vụ
các KCN là cấp ủy, chính quyền các địa phương có KCN, mà trực tiếp là
Ban Quản lý các KCN Tỉnh. Với vai trò là chủ thể, cấp ủy, chính quyền địa
phương thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý nhà nước thông qua các cơ
chế, chính sách để định hướng và quản lý quá trình phát triển KCHT phục
vụ các KCN.
Ba là, lực lượng tham gia phát triển KCHT phục vụ các KCN bao
gồm cả Nhà nước cùng hệ thống chính trị và các cá nhân, doanh nghiệp
kinh doanh KCHT thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong và ngoài
nước, trong đó Nhà nước và hệ thống chính trị là lực lượng đóng vai trò
quan trọng.
20
* Quan niệm về phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công
nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về KCHT và phát triển KCHT
phục vụ các KCN, vận dụng vào điều kiện phát triển KCHT phục vụ các KCN
cụ thể ở tỉnh Bắc Ninh, tác giả khái quát quan niệm về phát triển KCHT phục
vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh như sau:
Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh là tổng thể cơ chế,
chính sách của các chủ thể lãnh đạo, quản lý nhằm gia tăng về quy mô, chất
lượng, cơ cấu của các bộ phận cấu thành KCHT phục vụ các KCN, đáp ứng
trực tiếp đối với phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh. Ban
Quản lý các KCN Tỉnh thông qua Phòng Quản lý Quy hoạch và Xây dựng
thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với KCN về quản lý quy hoạch,
phát triển KCN, quản lý xây dựng đối với các doanh nghiệp trong KCN, quản
lý chất lượng công trình xây dựng trong các KCN.
Thứ ba, về lực lượng tham gia vào quá trình phát triển KCHT phục vụ
các KCN ở tỉnh Bắc Ninh
Lực lượng tham gia vào quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở
tỉnh Bắc Ninh bao gồm các chủ thể trong hệ thống chính trị, các cá nhân, doanh
nghiệp trong và ngoài nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đầu tư kinh
doanh trong lĩnh vực KCHT phục vụ các KCN, trong đó trong đó cấp ủy, chính
quyền tỉnh Bắc Ninh là lực lượng đóng vai trò quan trọng.
Thứ tư, về phương thức tiến hành
Quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh được
tiến hành bằng phương thức kế hoạch hóa và phương thức thị trường. Phương
thức kế hoạch hóa được sử dụng chủ yếu đối với các công trình KCHT mà
vốn đầu tư chủ yếu là từ ngân sách nhà nước và được xác định trong kế hoạch
phát triển KT - XH của Tỉnh. Phương thức thị trường là sử dụng cơ chế, chính
sách mời gọi các thành phần kinh tế khác nhau tham gia phát triển KCHT
phục vụ các KCN thông qua các hình thức đầu tư như: hợp tác công tư (PPP),
xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT).
1.2.2. Nội dung phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công
nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
Phát triển KCHT phục vụ các KCN là một trong những hướng chủ đạo
22
góp phần thực hiện những mục tiêu then chốt của quá trình CNH, HĐH đất
nước, tạo ra một hệ thống KCHT đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện
KCN cũng như giữa các KCN với nhau. Hạ tầng giao thông bao gồm giao
thông bên ngoài KCN và giao thông nội bộ của KCN. Mạng lưới hạ tầng
giao thông phục vụ các KCN là hệ thống các tuyến đường nằm trong các
KCN và các tuyến đường được đấu nối vào các KCN phục vụ cho việc giao
lưu trong KCN và giữa các KCN với nhau. Nó được thể hiện ở các chỉ tiêu: độ
rộng của lòng đường, vỉa hè theo thiết kế; sự thuận tiện và dễ dàng trong di
chuyển, vận chuyển hàng hóa; chất lượng đường; sự thuận tiện trong kết nối
vào các trục đường chính; mức độ ùn tắc; thời gian di chuyển; tải trọng theo
thiết kế. Đây chính là cơ sở để đánh giá mức độ thuận lợi về hạ tầng giao thông
phục vụ các KCN, điều này ảnh hưởng rất lớn khả năng vận chuyển hàng hóa
và hoạt động sản xuất kinh - doanh của các cơ sở trong KCN.
Hai là, phát triển hệ thống cung cấp điện
Nội dung này phản ánh mức độ thuận lợi trong cung cấp năng lượng để
phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở trong KCN, như:
khả năng cung cấp điện, công suất và sản lượng điện, hệ thống đèn chiếu sáng
công cộng, trạm biến áp phân phối, đường dây cấp trung áp, đường dây cấp hạ
áp, khoảng cách an toàn và hành lang bảo vệ, chất lượng điện áp theo các chỉ
tiêu thông số kỹ thuật theo qui định.
Ba là, phát triển hệ thống xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
Phát triển hệ thống xử lý nước thải và bảo vệ môi trường trong các
KCN phải vừa đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm
được các yêu cầu bảo vệ môi trường xung quanh trong quá trình hoạt động
của KCN. Nội dung này phản ánh mức độ xử lý môi trường như: hệ thống
thoát nước; khả năng xử lý chất thải rắn; khả năng thoát nước thải (kích thước
của ống thoát); công suất thoát nước thải (m3/ngày); diện tích và tỷ lệ đất
trồng cây xanh so với tổng diện tích KCN (m2 và %)... Ngoài ra còn có các
tiêu chí phản ánh môi trường như khả năng tiết kiệm tài nguyên; chống ô
nhiễm môi trường...
Bốn là, phát triển hệ thống thông tin liên lạc
bộ, liên kết giữa trong và ngoài KCN. Xu hướng hiện nay của Bắc Ninh cũng
như một số tỉnh thành khác trên cả nước có nhiều KCN tập trung là xây dựng
quần thể KCN - dân cư - thương mại nhằm giải quyết các yêu cầu trên; bảo
25