DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Bảo đảm nhân lực
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chính trị quốc gia
Giáo dục đào tạo
Kinh tế - Xã hội
Khoa học công nghệ
Khu công nghiệp
Khu chế xuất
Lao động Thương binh và xã hội
Sức lao động
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
BĐNL
CNH, HĐH
CTQG
GDĐT
KT - XH
KH - CN
KCN
KCX
LĐTB&XH
SLĐ
XHCN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
đảm nhân lực cho các khu công nghiệp ở tỉnh Bình
Dương
51
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM BẢO ĐẢM NHÂN LỰC CHO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
61
3.1. Quan điểm cơ bản bảo đảm nhân lực cho các khu công
nghiệp ở tỉnh Bình Dương
3.2. Giải pháp chủ yếu bảo đảm nhân lực cho các khu công
nghiệp ở tỉnh Bình Dương
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
61
69
86
87
92
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân lực có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế bền vững
của mọi quốc gia. BĐNL cho phát triển kinh tế nói chung và cho các KCN
còn thấp. BĐNL tại chỗ chưa đáp ứng cả về số lượng và chất lượng cho nhu
cầu ngày càng cao của các KCN, lao động chất lượng cao, những người lao
động có khả năng tiếp thu điều hành công nghệ mới vẫn còn thiếu trầm trọng.
Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về BĐNL cho các
KCN ở tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất những quan điểm và giải pháp góp
phần phát huy những tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực trong BĐNL
cho các KCN trên địa bàn là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực
tiễn.. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Bảo đảm nhân lực cho các khu
công nghiệp ở tỉnh Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ.
3
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đế tài
Thực tiễn đã chứng minh rằng, chất lượng nhân lực có vai trò rất quan
trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế. Các mô hình phát triển kinh tế
đều khẳng định điều này khi cho rằng sự phát triển bền vững đòi hỏi phải tích
lũy vốn, phát triển kỹ thuật và công nghệ. Đây là những nhân tố gắn liền và
phụ thuộc vào chất lượng nhân lực, khi chất lượng lao động thấp hay vốn
nhân lực ít thì việc tạo ra và thực hiện tích lũy vốn và phát triển kỹ thuật công
nghệ khó mà thực hiện được. Các bằng chứng cả vi mô và vĩ mô đều cho thấy
tầm quan trọng của chất lượng của nhân tố này với sự phát triển kinh tế.
Hiện nay, vấn đề BĐNL cho phát triển KT - XH ở nước ta nói chung và
phát triển các KCN ở tỉnh Bình Dương nói riêng là vấn đề rất quan trọng và cần
thiết đối với sự phát triển KT - XH của Tỉnh. Phạm vi bảo đảm nhân lực rộng
lớn, đã được nhiều học giả nghiên cứu và đề cập ở các khía cạnh khác nhau. Có
công trình nghiên cứu phân tích dưới góc độ tổng hợp, có công trình nghiên cứu
cụ thể về nhân lực. Trong đó, đáng chú ý một số công trình tiêu biểu sau:
* Nhóm tài liệu nghiên cứu dưới dạng sách có:
Trần Nhâm (2004) “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính
công) trên thị trường sức lao động ở Việt Nam những năm qua”, Nxb Lao
động – xã hội, Hà Nội. Tác giả chỉ ra thực trạng chính sách tiền lương (những
thành công và hạn chế trong chính sách tiền lương), tiền công ở nước ta trong
thời gian qua, cả về chính sách tiền lương tối thiểu và tiền lương tối thiểu trong
doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế bất cập trong chính sách tiền lương, tiền
công. Đồng thời đề ra một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền
lương, tiền công, ý nghĩa của việc phát triển thị trường SLĐ ở nước ta hiện nay.
Nguyễn Thanh (2005), “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb CTQG, Hà Nội. Tác giả cho rằng
phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp
CNH, HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát triển nguồn nhân lực
có chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu trong phát
triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
Vũ Bá Thể (2002), “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp
hoá, hiện đại hoá”, Nxb Tài chính, Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu kinh
nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới và thực trạng
nguồn nhân lực ở nước ta, tác giả đã đưa ra những quan điểm về nguồn nhân
lực và phát triển nguồn nhân lực; vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng
5
trưởng kinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra định
hướng và những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện
nay.
Phạm Minh Hạc (2001), “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực
đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đi sâu nghiên cứu về con người, những nhân tố tác động đến sự
phát triển toàn diện của con người như: sức khỏe, hình thể, trí tuệ, sự chăm
sóc y tế, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, giáo dục và đào tạo...
Phạm Thị Bích Thu (2008), “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của
công nghiệp dệt may Việt Nam”. Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng,
Đà Nẵng.Tác giả đã hệ thống hóa, làm rõ và đưa ra một số quan điểm về đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam
đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
cho công nghiệp dệt may Việt Nam.
Bùi Thị Ngọc Lan (2001),“Phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc
đổi mới ở nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả đã phân tích có hệ thống cấu trúc, đặc
trưng và nội dung của nguồn lực trí tuệ trong tương quan với nguồn lực con người
và các nguồn lực khác. Phê phán những quan điểm sai trái về vần đề này và dự
báo xu hướng phát triển, đề xuất phương hướng giải pháp chủ yếu để phát huy
nguồn lực trí tuệ của Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Trần Thanh Bình (2003),“Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình
CNH, HĐH ở nông thôn Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học kinh tế
quốc dân, Hà Nội. Tác giả đã phân tích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực và
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ quá trình CNH, HĐH ở nông thôn Việt Nam.
Trần Du Lịch và Nguyễn Thị Cành (2005), “Phát triển và đào tạo nguồn
nhân lực”, Đề tài ứng dụng phát triển nguồn nhân lực, Hồ Chí Minh. Đề tài đã
trình bày những vấn đề chung nhất về công tác đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực, hình thức và phương pháp đào tạo, cách xác định nhu cầu đào tạo và
đề xuất những vấn đề tổ chức nhà nước cần làm để xây dựng một chương
trình đào tạo đạt hiệu quả và chất lượng.
Lê Bá Phương (2008), “Phát triển nguồn nhân lực cho các khu công
nghiệp ở tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 – 2015”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế,
Trường đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh. Luận văn đã luận
7
phân tích làm rõ tầm quan trọng của giáo dục đào tạo đối với việc phát triển nguồn
nhân lực trong giai đoạn hiện nay, không chỉ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
8
quốc mà còn đáp ứng yêu cầu mới của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của
nước ta.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã tập trung phân tích làm
rõ một số vấn đề phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và một số khía
cạnh về bảo đảm nguồn nhân lực trong phát triển KT - XH. Các quan điểm,
phương hướng và giải pháp của từng công đoạn, từng khâu bảo đảm nguồn nhân
lực ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, tìm
hiểu một cách toàn diện cả ở phương diện lý luận và phương diện thực tiễn về
BĐNL cho các KCN ở tỉnh Bình Dương nhất là thực tiễn năng động, đa dạng
phong phú ở một địa bàn có tốc độ phát triển kinh tế nhanh như ở Bình Dương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn BĐNL cho các KCN ở tỉnh Bình
Dương, đề xuất một số quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu góp phần
bảo đảm tốt nhân lực cho các KCN trên bàn Tỉnh trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về BĐNL cho các KCN ở tỉnh
Bình Dương.
- Đánh giá thực trạng BĐNL cho các KCN ở tỉnh Bình Dương thời gian qua.
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm góp phần
BĐNL cho các KCN ở tỉnh Bình Dương thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Bảo đảm nhân lực cho các doanh nghiệp công nghiệp trong các KCN dưới
việc giảng dạy, nghiên cứu môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương (7 tiết), kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM NHÂN LỰC
CHO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
1.1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp và bảo đảm nhân lực
cho các khu công nghiệp
10
1.1.1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp
* Quan niệm về khu công nghiệp.
KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển
vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ở các nước Châu Á, và
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, KCN ra đời vào giữa sau của thế kỷ XX
(Singapor năm 1951, Đài Loan 1966, Hàn Quốc 1970, Thái Lan 1972…).
Đối với nước ta, KCN ra đời cùng với đường lối đổi mới, mở cửa do Đại
hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 khởi xướng. Từ đó
đến nay, phát triển KCN được xem là động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, vấn đề phát triển các
KCN đã được đầu tư, quan tâm thỏa đáng cả về lý luận và thực tiễn.
Hình thức đầu tư vào KCN còn gọi là KCN tập trung xuất hiện tại Việt
Nam sau khi Chính phủ cho phép thực hiện đầu tư theo hình thức KCX. Đây
là khu vực tập trung những nhà đầu tư vào các ngành công nghiệp mà Nhà
nước cần khuyến khích, ưu đãi. Tại đây, Chính phủ nước sở tại sẽ dành cho
các nhà đầu tư những ưu đãi cao về thuế, về các biện pháp đối xử phi thuế
Từ khái niệm trên có thể hiểu, KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ
công nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng
và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý.
* Đặc điểm của KCN
Một là, KCN có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi, nhằm thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn cho phép các nhà
đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu để
thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi
về thủ tục xin phép và thuê đất (giảm hoặc miễn thuế).
Hai là, KCN có vị trí địa lý xác định nhưng không hoàn toàn là một
vương quốc nhỏ trong một vương quốc như KCX. Các chế độ quản lý hành
chính, các quy định liên quan đến việc ra, vào KCN và quan hệ với doanh
nghiêp bên ngoài sẽ rộng rãi hơn. Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp
nhân, các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
Ba là, KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành
phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song; doanh
nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh
doanh, doanh nghiêp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiêp liên doanh và cả
doanh nghiêp 100% vốn trong nước.
12
Bốn là, có Ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí, đồng thời
có sự phân cấp rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp, khả
năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng doanh
nghiệp. Còn việc quản lí Nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước chỉ quy định
những ngành (hay loại xí nghiệp) được khuyến khích phát triển và những ngành
(hoặc loại xí nghiệp) không được phép đặt trong KCN vì các lí do nhất định (như
môi trường sinh thái, hay an ninh quốc phòng).
giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh... cho lao động các KCN, đến năm
2020, hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng trong các KCN”.
1.1.2. Quan niệm về nhân lực và bảo đảm nhân lực cho các khu
công nghiệp
* Quan niệm về nhân lực
Quan niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền
kinh tế phát triển từ những năm 50 của thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn
lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong
quá trình phát triển. Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nhân lực,
các quan niệm xem xét nhân lực chủ yếu dưới góc độ là một nguồn lực trong
tổng thể các nguồn lực cho phát triển KT - XH. Theo đó, các quan điểm
thường đưa ra khái niệm nguồn nhân lực mà ít đề cập khái niệm nhân lực.
Theo Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức
và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng
để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Theo giáo trình kinh tế
nguồn nhân lực của Nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân: “Nguồn nhân lực
được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là
nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có
khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra
là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [16, tr. 6].
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ những gì vốn có của
con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”
[60]. Theo lý luận của kinh tế học phát triển, con người được xem xét, đề cập
với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất hàng hoá
và dịch vụ, được xem như là lực lượng lao động cơ bản nhất trong xã hội; nó là
yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng sản xuất, dịch vụ
nhanh và bền vững.
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã
hội: “Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một
ra, người lao động cũng cần phải có kinh nghiệm, những kĩ năng, kĩ xảo trong
lao động. C.Mác viết: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là
toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong
15
một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản
xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [34, tr.266].
Nhân lực của một quốc gia bao giờ cũng được biểu hiện ra là số lượng
và chất lượng tại một thời điểm nhất định.
Số lượng nhân lực chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp
sức lao động cho xã hội. Các chỉ số về số lượng nhân lực của một quốc gia,
một địa phương được xác định trên qui mô dân số thông qua số lượng dân cư,
tốc độ tăng dân số, cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động trong các ngành, các khu
vực kinh tế… Trong đó, số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một
cách rõ nhất về số lượng nhân lực. Số lượng nhân lực đóng vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sự phát triển của các KCN nói
riêng. Nếu số lượng không tương xứng với tốc độ phát triển đều tác động xấu
tới sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như KCN.
Chất lượng nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc
trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống
và tinh thần của nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức
khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã
hội… của nhân lực, trong đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu
chí quan trọng để đánh giá phân loại chất lượng nhân lực. Theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi tham gia vào quá trình sản xuất, trước hết
con người đem nhập vào các yếu tố của lực lượng sản xuất sức mạnh cơ
bắp của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ tiến hành sản xuất bằng các khí quan vật
chất thuần túy của cơ thể thì con người sẽ không bao giờ tiến xa hơn động
Vai trò của nhân lực đối với sự phát triển của các KCN
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đề cao nhân tố con người nhất là người lao
động, bởi họ chính là chủ thể của quá trình sản xuất. Theo C.Mác, sản xuất
vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản của con người. Đó là quá trình con
người sử dụng những công cụ lao động tác động vào tự nhiên, tạo ra những
của cải vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân mình và phát triển xã hội.
Để tiến hành sản xuất, con người phải sử dụng những tư liệu sản xuất như đối
tượng lao động, công cụ lao động và những điều kiện vật chất khác. Ngoài
việc nhấn mạnh đến vai trò của tư liệu sản xuất - yếu tố cần thiết của mỗi quá
trình sản xuất, C.Mác đã khẳng định, để quá trình sản xuất được tiến hành
17
không thể thiếu vai trò của người lao động. Lênin khẳng định sự vượt trội của
con người so với các yếu tố khác của quá trình sản xuất “Trong khi vật chất
có thể bị phá hủy hoàn toàn thì các kĩ năng của con người như công nghệ, bí
quyết tổ chức và nghị lực làm việc sẽ còn mãi” [30, tr.30].
Khẳng định trên của các nhà triết học mácxít là đúng đắn vì suy cho
cùng, hầu hết các tư liệu sản xuất chủ yếu (trừ những đối tượng sẵn có trong
tự nhiên) là sản phẩm lao động của con người, do con người tạo ra và không
ngừng đổi mới, cải tiến. Về thực chất, tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao
động là sự phản ánh trình độ của con người trong quá trình chinh phục tự
nhiên. Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thường có những giai cấp nhất
định đóng vai trò là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội, là bộ phận chính
cấu thành lực lượng sản xuất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định vai trò quyết định của con
người đối với sự phát triển của một xã hội. Muốn có chủ nghĩa xã hội trước
hết phải có con người xã hội chủ nghĩa.
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
người. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh, máy móc dù hiện đại đến đâu
cũng do con người chế tạo, và vận hành nó.
Nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong các KCN, nhân lực chất lượng cao là yếu tố
quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm và giá thành sản phẩm, chất
lượng nhân lực ở đây thể hiện ra là trình độ, kĩ năng làm việc, và sử dụng nhân
lực đúng chuyên môn. Đồng thời, số lượng và chất lượng nhân lực giữ vai trò
quan trọng trong thu hút đầu tư vào các KCN, mục đích đầu tư của các doanh
nghiệp khi đầu tư vào các KCN, yếu tố đầu tiên họ mong muốn là có được lực
lượng lao động đáp ứng được công nghệ mà doanh nghiệp đưa vào sản xuất.
* Bảo đảm nhân lực cho các khu công nghiệp.
Bảo đảm nhân lực: Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì bảo đảm là
làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì
cần thiết [52, tr.211]. Nghiên cứu vấn đề bảo đảm nhân lực chính là nghiên
cứu cả quá trình thu hút, phân bổ và sử dụng nhân lực.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể quan niệm: Bảo đảm nhân lực là
tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và người lao
19
động về tạo dựng, phân bổ và sử dụng nhân lực thông qua việc tạo dựng đủ
nhân lực về số lượng, chất lượng, phân bổ đúng kế hoạch, sử dụng đúng
chuyên môn, diễn ra trong những khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng
nhu cầu nhân lực của nền kinh tế.
Bảo đảm nhân lực cho các khu công nghiệp.
Bảo đảm nhân lực cho các KCN là tổng thể các hoạt động của Đảng,
Nhà nước, cơ quan quản lí các khu công nghiệp, doanh nghiệp, các cơ sở đào
tạo và người lao động về tạo dựng, phân bổ và sử dụng nhân lực thông qua
việc tạo dựng đủ nhân lực về số lượng, chất lượng, phân bổ đúng kế hoạch,
Số lượng ở đây bao gồm cả lực lượng lao động phổ thông, lao động qua đào
tạo và cả lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, lao động quản lý… Bảo
đảm về chất lượng nhân lực là vấn đề quan trọng trong nội dung BĐNL. Chất
lượng bao gồm chất lượng của mọi đối tượng lao động chứ không chỉ là lực
lượng lao động chuyên môn kỹ thuật, ngay cả lao động phổ thông cũng cần
bảo đảm về chất lượng, đó là thể lực, trí lực và tác phong lao động công
nghiệp. Bảo đảm về cơ cấu lao động phù hợp với mức độ cân đối nhu cầu
cũng như mức độ cân đối về ngành nghề và cả cơ cấu ưu đãi nếu cần thiết.
Phương thức BĐNL, là tổng hợp các cách thức, phương pháp nhằm tạo
dựng, phân bổ và sử dụng nhân lực một cách hiệu quả bao gồm các phương
thức: bảo đảm thông qua đào tạo và phân bổ trực tiếp; thông qua thị trường
lao động; các KCN tự bảo đảm thông qua tuyển dụng trực tiếp, thông tin
tuyển dụng trên các phương tiện truyền thông.
1.2. Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến bảo đảm
nhân lực cho các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
1.2.1. Quan niệm bảo đảm nhân lực cho các khu công nghiệp ở
tỉnh Bình Dương.
Từ quan niệm về BĐNL nói chung, có thể hiểu BĐNL cho các KCN ở
Bình Dương là tổng thể các hoạt động của Đảng bộ, chính quyền, các cơ
quan chức năng, các KCN tỉnh Bình Dương, các doanh nghiệp, các cơ sở
đào tạo và người lao động về tạo dựng, phân bổ và sử dụng nhân lực có
hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các KCN ở tỉnh
Bình Dương.
Quan niệm trên đây cho thấy:
Mục đích BĐNL là nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các KCN ở tỉnh Bình
Dương, bảo đảm sử dụng tối đa và phân bổ nhân lực hợp lí. Thực hiện mục tiêu
21
22
Ban quản lý các KCN trên địa bàn Bình Dương là chủ thể phối hợp với
chính quyền Tỉnh về BĐNL thông qua báo cáo hoạt động sản xuất kinh
doanh, về nhu cầu lao động; đồng thời tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào
quá trình đào tạo và đào tạo lại lao động. Nơi trực tiếp sử dụng lao động, kiểm
nghiệm kết quả quá trình BĐNL ở các công đoạn bảo đảm trước đó. Cùng với
Đảng bộ và chính quyền Tỉnh nắm bắt thực tiễn và đề ra biện pháp, phương
hướng cho quá trình BĐNL trong giai đoạn tiếp theo.
Người lao động vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình BĐNL, là
lực lượng trực tiếp tham gia quá trình lao động trong các doanh nghiệp trong
các KCN của tỉnh Bình Dương. Lực lượng quyết định đến kết quả của quá trình
BĐNL cho các KCN; tham gia học tập, đào tạo, tiếp nhận tri thức; rèn luyện cả
thể lực, trí lực, về quan điểm, tư duy, tác phong làm việc để phục vụ quá trình
lao động, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong các KCN.
Phương thức bảo đảm nhân lực cho các KCN ở tỉnh Bình Dương được
thực hiện thông qua đào tạo tại các cơ sở đào tạo, các trung tâm dạy nghề của
Tỉnh, thông qua hoạt động của thị trường lao động, thông qua việc liên kết
tuyển dụng của trung tâm giới thiệu việc làm, các KCN tự bảo đảm thông
qua tuyển dụng trực tiếp, thông tin tuyển dụng trên các phương tiện truyền
thông, mạng internet.
1.2.2. Nội dung bảo đảm nhân lực cho các khu công nghiệp ở tỉnh
Bình Dương.
Nội dung BĐNL cho các KCN ở tỉnh Bình Dương bao gồm cả về số
lượng, chất lượng và cơ cấu nhân lực.
Thứ nhất, bảo đảm về số lượng nhân lực.
Bảo đảm về số lượng nhân lực là bảo đảm số lượng lao động cho các
KCN hoạt động trên địa bàn Tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh
doanh nghiệp đầu tư vào Bình Dương tăng cao, trong đó có các doanh nghiệp
nước ngoài sản xuất bằng công nghệ hiện đại, làm cho năng suất lao động
tăng lên và chất lượng sản phẩm tốt hơn, số lượng lao động trong và ngoài
nước vào làm việc (Giám đốc, quản lý, chuyên gia kỹ thuật…) trên địa bàn
Tỉnh tăng nhanh. Các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương luôn luôn vận động,
thay đổi và có những chiến lược phát triển để nhằm hoàn thiện hơn quá trình
hoạt động kinh doanh của mình, trong đó chiến lược phát triển về máy móc
thiết bị mà đặc biệt là công nghệ không thể thiếu. Tuy nhiên, dù máy móc,
24
thiết bị hay công nghệ có tiên tiến, có hiện đại đến đâu mà thiếu đi sự vận
hành của con người thì tất cả cũng đều trở nên vô nghĩa. Vì vậy, mọi doanh
nghiệp đều quan tâm đến chất lượng của đội ngũ lao động, đòi hỏi bảo đảm
chất lượng nhân lực ở đây là nâng cao trình độ về chuyên môn, kỹ thuật, khả
năng tiếp thu và sử dụng công nghệ mới và năng lực tổ chức; cập nhật thông
tin, làm chủ khoa học cả về sản xuất và quản lý; nâng cao đạo đức nghề
nghiệp và tác phong công nghiệp. Bảo đảm chất lượng cả đội ngũ lao động
phổ thông, lao động qua đào tạo, chất lượng sức khỏe, tính năng động, sáng
tạo trong lao động, kỷ luật lao động và ý thức xã hội của người lao động.
Thứ ba, bảo đảm về cơ cấu nhân lực.
Bàn về cơ cấu lao động, theo C.Mác có nghĩa là bàn về cấu trúc bên
trong của quá trình phân công lao động xã hội. Đó là các quan hệ tỷ lệ cũng
như xu hướng vận động, phát triển nguồn lao động giữa các ngành kinh tế
(công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...). Ở đây, bảo đảm cơ cấu nhân lực là bảo
đảm sự hợp lý về số lượng, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực phù
hợp với nhu cầu về các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Xu thế phát triển chung là sự chuyển dịch cơ cấu
của ba nhóm ngành lớn theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng của nông