Header Page 1 of 89.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI:
Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
GVHD : PGS.TS.Ngô Hữu Thảo
HVTH : Hà Thị Xuyên
Footer Page 1 of 89.
Header Page 2 of 89.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHG
Ban Hành giáo
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNLĐ
Công nhân lao động
Trước Công nguyên
UBĐK
Uỷ ban Đoàn kết
UBND
Uỷ ban nhân dân
UBTV
Uỷ ban Thường vụ
UBTVQH
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Footer Page 2 of 89.
Header Page 3 of 89.
MỤC LỤC
Trang
1
1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
19
1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
21
Chương 2
29
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1
SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
29
LÀM CÔNG TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác Tôn giáo
29
2.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh
2.2.6 Quản lý hoạt động truyền đạo trái pháp luật
42
Footer Page 3 of 89.
Header Page 4 of 89.
2.2.7 Quản lý các hoạt động khác
43
2.2.8 Công tác phối hợp
43
2.3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI TÔN
47
GIÁO Ở BẮC NINH
2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý
47
GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
57
QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
3.2.1 Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm
57
của HTCT về công tác tôn giáo và QLNN đối với tôn giáo
3.2.2 Công tác quản lý nhà nước cần tăng cương, tập trung hơn nữa tới
58
các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên địa
bàn
3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần
61
chúng, tín đồ, chức sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng chính
trị ở cơ sở
3.2.4 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ, công chức làm công tác
65
QLNN về tôn giáo
3.2.5 Xây dựng và hoàn thiện phương pháp công tác tôn giáo và QLNN
Footer Page 5 of 89.
Header Page 6 of 89.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực thể xã
hội, ra đời và phát triển từ cả ngàn năm nay. Từ khi ra đời, tôn giáo đã trải qua những
thăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội, nhưng chung
nhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhân loại. Trong quá trình tồn tại và
phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đến
tập quán của nhiều quốc gia, của các tộc người trong một quốc gia, theo cả các chiều:
tích cực và tiêu cực. Những năm gần đây, tôn giáo trên thế giới không chỉ phục hồi
và phát triển, đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người, mà còn làm nảy sinh không ít
cuộc xung đột giữa các dân tộc trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau.
Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta đã công nhận tư
cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội. Trong đó, các tôn giáo bản
địa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từ nước ngoài vào (ngoại sinh) đều được
tạo điều kiện bình đẳng hoạt động theo pháp luật. Tình hình đó như là sự phản ánh về
quá trình đất nước đổi mới, Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân được
cải thiện rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân.
Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lành mạnh, tuân
thủ pháp luật, thì vẫn còn có hiện tượng một số người lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình thường
đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đại bộ phận chức
sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin tưởng vào sự
nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo,
xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân “sống tốt đời, đẹp đạo”, tích cực thực hiện
thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tuy nhiên, tình hình tôn giáo trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng nổi lên một số vấn đề có tính phức tạp. Đó là, hoạt động
mê tín, dị đoan diễn ra khá phổ biến; một số cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ
các quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Di sản và của các quy định của
tỉnh. Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xin phép;
triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền. Tình hình khiếu
Footer Page 7 of 89.
Header Page 8 of 89.
3
kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũ của giáo hội còn tiềm ẩn dấu hiệu phức tạp; hoạt động
truyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địa bàn tỉnh vẫn xảy ra.
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh những năm
qua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng bên cạnh đó, công
tác này cũng còn một số hạn chế, như: Một bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức về
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hời hợt; sự phối hợp
giữa các cấp, các ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề
liên quan đến tôn giáo còn kéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho quần chúng tín đồ,
chức sắc tôn giáo. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của
chính quyền nhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc.
5
nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn công tác quản
lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Triển khai luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các
phương pháp của các khoa học cụ thể, như tổng hợp và phân tích, khái quát hoá,
thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn giáo học.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận:
Bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với tôn giáo; khái quát mang tính lý luận từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo ở Bắc Ninh.
6.2. Về mặt thực tiễn:
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây đựng chủ
trương, biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
Bắc Ninh và các tỉnh vùng đồng bằng miền Bắc có tình hình tôn giáo tương tự với
Bắc Ninh.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tại trường
Chính trị tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 7 tiết.
Footer Page 10 of 89.
Header Page 11 of 89.
Footer Page 11 of 89.
Header Page 12 of 89.
7
Quan điểm mác - xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề bản chất, nguồn gốc,
chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ ra thái độ, nguyên
tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tôn giáo.
Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới
thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật chất đang
tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngoài những đam mê
và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ
chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại luôn tôn trọng niềm tin tôn giáo
của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo không phải là kẻ phỉ báng thần thánh
của quần chúng mà chỉ là người đồng tình với quan điểm quần chúng, người sáng tạo
ra thần thánh.
Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin mâu thuẫn tuyệt đối với đức
tin tôn giáo, do đó không có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội và tôn giáo và lập
luận này là không đúng, vì đã chủ quan đẩy mâu thuẫn, từ mâu thuẫn ở phương diện
nhận thức - không đối kháng, trở thành mâu thuẫn đối kháng.
Lý tưởng của những người cộng sản là xây dựng “Thiên đường” nơi trần thế
bằng bàn tay và khối óc của chính con người. Tuy vậy, người cộng sản không hề có
chủ trương phủ nhận tôn giáo mà thừa nhận nó như một nhu cầu tất yếu của một bộ
phận nhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử. Hơn nữa, tôn giáo và chủ nghĩa
xã hội có điểm tương đồng là đều mong muốn có một xã hội hạnh phúc, công bằng,
bác ái, lấy điều thiện thắng điều ác.
“Đối với chúng ta, sự thống nhất của cuộc đấu tranh thật sự cách mạng đó của
ngưỡng, tôn giáo.
Vậy khi giải quyết vấn đề tôn giáo, chúng ta cần phải đứng vững trên những
nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác - xít, được khái quát trên 4 nguyên
tắc sau:
Một: Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với
quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức và tác
động vào tôn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ tình trạng nô lệ về mặt kinh tế,
nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80, tr. 175]. Hay nói
cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại
xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xoá bỏ nguồn
gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực không có áp bức, bất
công, nghèo đói và thất học... cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất nhiên việc cải
Footer Page 13 of 89.
Header Page 14 of 89.
9
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải khai thác và
phát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng bào các tôn giáo.
Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
nhân dân.
Các nhà kinh điển Mác - xít quan tâm không chỉ tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng, mà còn cả quyền tự do không tín ngưỡng. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng
và không tín ngưỡng sẽ bảo đảm quan hệ tốt đẹp giữa những người vô thần và hữu
thần, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Nội dung căn bản của
quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là:
- Mọi công dân có quyền theo đạo, truyền đạo hoặc bỏ đạo; được hoàn toàn tự
tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này.
Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận dụng
sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt
Nam. Với Người, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân
chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [46, tr.268]. Nhưng,
xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc Á - Đông, Hồ Chí Minh cho rằng:
“C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân
loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc
học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa
của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)” [45, tr.465].
Cũng trên quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí
Minh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể giải
quyết được vấn đề tôn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ nhấn mạnh: Tôn giáo không hề
đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tôn giáo theo tinh
thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”.
Trong ứng xử với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể hiện nổi bật tư tưởng
hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị biệt, miễn là
không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ đó mà đạt được mục tiêu tương đồng.
Chính vì thế, đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như "Hiện thân" của vị “Bồ tát
Quán Thế Âm” vì "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau thương "trầm luân" trong nỗi
nhục mất nước ở cõi "Sha- bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn. Ngày nay, trong Phật giáo
và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ Chí Minh được gán với quả vị Phật giáo, là Bồ tát
Hồ Chí Minh. Còn đồng bào đạo Công giáo và đạo Tin lành luôn khâm phục và cảm
động về việc, Người đã nguyện hy sinh cho Việt Nam độc lập, cho thế giới hoà bình,
nên thấy Người như bóng dáng của "Đức Chúa Ki-Tô” hy sinh thân mình để cứu
chuộc nhân loại.
Footer Page 15 of 89.
Header Page 16 of 89.
nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước; là dạng quản lý xã hội
Footer Page 16 of 89.
Header Page 17 of 89.
12
mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các
quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người [38].
Vậy, chủ thể QLNN là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhà nước tác
động tới đối tượng quản lý. Còn đối tượng QLNN là toàn bộ công dân Việt Nam và
những người không phải là công dân Việt Nam đang sống, làm việc trên lãnh thổ Việt
Nam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ các khái niệm quản lý nhà nước như trên, khái niệm quản lý nhà nước đối
với tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.
Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để tác động,
điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức,
cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật
của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điều
chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân
tôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật.
Theo đó, QLNN đối với tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung, trước
hết và chủ yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo”. Cụ thể hơn, đó là các hoạt động
tôn giáo liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt
động đó là gì? Về việc này, tại khoản 5, điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã nêu:
“Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ
chức của tôn giáo”[77, tr.2].
nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo.
Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tôn
giáo”, hoặc “QLNN về tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt động
tôn giáo”.
Theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, tín đồ, đó là những người tin theo một
tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Chức sắc tôn giáo là tín đồ có chức vụ,
phẩm sắc trong tôn giáo. Còn nhà tu hành, đó là tín đồ tự nguyện thực hiện thường
xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo. [77, tr.2].
Người làm công tác QLNN đối với tôn giáo, với họ, có một đòi hỏi bắt buộc là phải
nắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắc các tôn giáo, với tư cách là khách thể
QLNN.
Ở nước ta, tín đồ tôn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nông dân, vốn có bản
chất cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù kẻ xâm lược và tầng lớp
bóc lột. Song bên cạnh đó, do cả vô thức và ý thức, một số tín đồ hoạt động tôn giáo
Footer Page 18 of 89.
Header Page 19 of 89.
14
chưa tuân thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe theo kẻ xấu
tham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tôn giáo. Một đặc điểm khác là, trong
mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng không đồng nhất) giữa mặt công dân và mặt
tín đồ. Là công dân, họ có mọi quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi công dân
khác. Là người có tín ngưỡng tôn giáo, họ có niềm tin ở Chúa, Phật..., có quyền lợi
và trách nhiệm đối với giáo hội. Đây chính là đặc điểm quan trọng cần phải nắm
vững.
Còn chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có những đặc điểm chung của một tín
đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng. Đó là: Họ là những người được tổ chức tôn
tiên quyết đối với chủ thể quản lý, giúp cho công tác QLNN về tôn giáo có hiệu lực
mạnh và hiệu quả cao.
Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân
tôn giáo. Pháp nhân tôn giáo, đó là bộ máy tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công
nhận. Còn thể nhân tôn giáo, đó là cá nhân tôn giáo (tín đồ) được tổ chức tôn giáo công
nhận.
1.1.2.2. Tính tất yếu tăng cường QLNN đối với tôn giáo
Vì sao phải tăng cường công tác QLNN đối với tôn giáo, việc này được xuất
phát từ các lý do khách quan và cơ bản.
Thứ nhất, hoạt động tôn giáo có liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, do đó, với chức năng quản lý xã hội của mình, để đảm bảo cho xã hội ổn định,
phát triển bình thường, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn
giáo.
Thứ hai, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo diễn ra trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tôn giáo, vậy để đường lối, chính sách,
pháp luật được hiện thực hoá, để đồng bào có và không có tôn giáo đoàn kết trong
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực cho sự thành công của công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn giáo.
Thứ ba, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo hống phá cách
mạng, vậy để đập tan âm mưu đó và để đồng bào lương - giáo tích cực tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, tất yếu Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn
giáo.
Thứ tư, Việt Nam mở cửa, hội nhập để phát triển, theo đó, các thế lực thù địch
cũng thông qua con đường hợp tác, liên doanh, du lịch... thâm nhập vào những vùng
nhạy cảm về tôn giáo, mua chuộc một số chức sắc, tín đồ tôn giáo, vậy để hội nhập quốc
tế có nhiều thành công, Nhà nước phải tăng cường quản lý các hoạt động tôn giáo.
Footer Page 20 of 89.
Header Page 21 of 89.
của pháp luật”.
Footer Page 21 of 89.
Header Page 22 of 89.
17
Từ đó, công tác QLNN về tôn giáo, từ mục tiêu, nguyên tắc và nội dung cho
đến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ sung cho phù hợp với quan điểm
của Đảng. Về mục tiêu, theo chúng tôi, đó là:
Thứ nhất, QLNN đối với tôn giáo trước hết phải bảo đảm được quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, để các hoạt động
tôn giáo được diễn ra bình thường, theo hướng tuân thủ pháp luật. Rằng: “Người có
tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu
nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học
tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo" [77, tr3].
Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những gia trị
văn hoá và mặt tích cực, khắc phục những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo trong sự
phát triển của đất nước theo định hướng XHCN.
Thứ ba, QLNN đối với tôn giáo phải góp phần củng cố, phát triển đồng bào có
và không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng chung
sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, QLNN về tôn giáo phải đảm bảo tăng cường được vai trò lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo.
Với mục tiêu đó, công tác QLNN đối với tôn giáo phải được dựa trên 3
nguyên tắc sau:
Một, phải đứng vững trên đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước về tôn giáo.
Tiếp theo, QLNN về tôn giáo với tính cách là giải quyết bằng quyền lực nhà
nước các hoạt động tôn giáo ở những lĩnh vực cụ thể khác nhau, thì nó bao gồm các
nội dung sau:
- Quản lý nhà nước các hoạt động tín ngưỡng;
- Quản lý việc đăng kí hoạt động của tổ chức tôn giáo và công nhận tổ chức tôn
giáo;
- Quản lý việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo trực thuộc;
- Việc đăng kí người vào tu và hoạt động của dòng tu, tu viện, hội đoàn tôn
giáo;
- Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử; cách chức,
bãi nhiệm, thuyên chuyển trong tôn giáo;
- Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;
- Về việc đăng kí hoạt động tôn giáo (thường xuyên, đột xuất, ngoài cơ sở tôn
giáo);
- Quản lý việc xây, sửa, cải tạo các công trình tôn giáo;
- Về đất đai, tài sản tôn giáo;
Footer Page 23 of 89.
Header Page 24 of 89.
19
- Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;
- Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc
đạo;
- Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động tôn
giáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;
- Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo;
- Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo;
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 807,6 km2, trong đó đất nông
nghiệp chiếm 64,7%; đất lâm nghiệp chiếm 0,7%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm
23,5% & đất chưa sử dụng còn 11,1%. Riêng đất đô thị là 1.158,9 ha chiếm 1,44%
diện tích tự nhiên.
Về đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh
Trong những năm, qua kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng kể cả
về quy mô và chất lượng. Đặc biệt hệ thống 61 làng nghề truyền thống như: đúc đồng
(Đại Bái, Gia Bình), sắt thép (Đa Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ, Phù Khê Từ Sơn),... đã và đang góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Bắc Ninh. Những
năm qua, cùng với một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ, Bắc Ninh đã đẩy mạnh việc thu hút
đầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế quốc tế. Đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 15 khu
công nghiệp, với 10 khu đã đi vào hoạt động, với 496 dự án đầu tư, trong đó 231 dự án
đầu tư nước ngoài của 8 quốc gia và các vùng lãnh thổ (Nhật Bản 37, Hàn Quốc 68,
singapore 9, Đài Loan 22, Trung quốc 13....). Tổng số CNVCLĐ tại tỉnh Bắc Ninh
hiện nay là 132.650 người, trong đó khối khu vực ngoài quốc doanh 89.508 người, khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài 18.410 người, khu vực hành chính sự nghiệp 23.583
người. Tính đến tháng 5/2011, có 241 doanh nghiệp đi vào hoạt động thu hút 62.827
lao động, trong đó người Bắc Ninh là 29.849 người chiếm 47,5%, còn lại là lao động
ngoại tỉnh. Tình hình đó đã làm biến đổi cơ bản bộ mặt của một tỉnh vốn có nền kinh
tế nông nghiệp là chính, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại.
Ở Bắc Ninh, nét tự hào về một nền văn hoá truyền thống không chỉ là những
giá trị văn hoá phi vật thể, mà còn lưu giữ được hàng loạt địa danh gắn liền với di
tích lịch sử - văn hoá và con người Kinh Bắc. Những nơi đó, bên cạnh giá trị văn hoá,
khoa học, lịch sử đáng trân trọng, thì còn là các điểm đang ngày càng hấp dẫn du
khách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch.
Nguồn nhân lực của Bắc Ninh khá dồi dào, với dân số hiện nay trên 1 triệu
người. Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính, với 126 xã, phường, thị trấn. Tình hình
chính trị xã hội của tỉnh trong những năm qua cơ bản ổn định; tốc độ tăng trưởng
kinh tế khá cao, bình quân đạt 15,1% năm; đời sống của nhân dân nói chung, đồng
bào có tôn giáo nói riêng, từng bước được cải thiện; quốc phòng an ninh được củng