LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Thị Xuyên
LỜI CẢM ƠN
Sau gần 3 năm học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính thuộc
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, được sự quan tâm
giúp đỡ của các thầy, cô giáo đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của
PGS, Tiến sĩ Ngô Hữu Thảo, sự giúp đỡ của các bạn và đồng nghiệp trong cơ
quan, đến nay tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công
“Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh hiện nay”
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, chu đáo của
các giáo sư, tiến sỹ, các thầy, cô giáo, các đồng chí lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh
Bắc Ninh, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bắc Ninh và đồng nghiệp trong quá
trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này.
Tác giả
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHG Ban Hành giáo
CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNLĐ Công nhân lao động
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CSVN Cộng sản Việt Nam
GHPG Giáo hội Phật giáo
HĐND Hội đồng nhân dân
HTCT Hệ thống Chính trị
MTTQ Mặt trận Tổ quốc
QLNN Quản lý nhà nước
TCN Trước Công nguyên
2.1.1 Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo công tác Tôn giáo 39
2.1.2 Tổ chức bộ máy làm công tác QLNN về tôn giáo ở Bắc Ninh 42
2.2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
47
2.2.1 Quản lý về hoạt động xây dựng, trùng tu, sửa chữa cơ sở thờ tự 47
2.2.2 Quản lý đối với việc phong chức, phong phẩm và hoạt động
thuyên chuyển của các chức sắc
50
2.2.3 Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng chức sắc 51
2.2.4 Công tác quản lý đối với các hoạt động từ thiện, nhân đạo 52
2.2.5 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 54
2.2.6 Quản lý hoạt động truyền đạo trái pháp luật 55
2.2.7 Quản lý các hoạt động khác 57
2.2.8 Công tác phối hợp 58
2.3
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI TÔN
GIÁO Ở BẮC NINH
63
2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý 63
2.3.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý 66
Chương 3
DỰ BÁO TÌNH HÌNH, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QLNN ĐỐI VỚI TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
70
3.1
DỰ BÁO TÌNH HÌNH TÔN GIÁO VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG
TÁC QLNN VỀ TÔN GIÁO Ở BẮC NINH THỜI GIAN TỚI
3.3.1 Đối với Trung ương 89
3.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh 92
KẾT LUẬN
95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
97
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực
thể xã hội, ra đời và phát triển từ cả ngàn năm nay. Từ khi ra đời, tôn giáo đã
trải qua những thăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự biến đổi của tồn
tại xã hội, nhưng chung nhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhân
loại. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đến tập quán của nhiều quốc gia, của các
tộc người trong một quốc gia, theo cả các chiều: tích cực và tiêu cực. Những
năm gần đây, tôn giáo trên thế giới không chỉ phục hồi và phát triển, đáp ứng
nhu cầu tâm linh của con người, mà còn làm nảy sinh không ít cuộc xung đột
giữa các dân tộc trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau.
Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng,
tôn giáo đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta
đã công nhận tư cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội.
Trong đó, các tôn giáo bản địa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từ
nước ngoài vào (ngoại sinh) đều được tạo điều kiện bình đẳng hoạt động theo
pháp luật. Tình hình đó như là sự phản ánh về quá trình đất nước đổi mới,
Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân được cải thiện
rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân.
Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lành
bình thường đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Đại bộ phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm,
phấn khởi, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tích cực tham gia phát triển kinh tế -
xã hội, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, xây dựng gia đình văn hoá ở khu dân
“sống tốt đời, đẹp đạo”, tích cực thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
của địa phương. Tuy nhiên, tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cũng
nổi lên một số vấn đề có tính phức tạp. Đó là, hoạt động mê tín, dị đoan diễn
ra khá phổ biến; một số cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ các quy định
của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Di sản và của các quy định của tỉnh.
Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xin
phép; triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền.
Tình hình khiếu kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũ của giáo hội còn tiềm ẩn dấu
hiệu phức tạp; hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địa
bàn tỉnh vẫn xảy ra.
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh
những năm qua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định.
Nhưng bên cạnh đó, công tác này cũng còn một số hạn chế, như: Một bộ phận
cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với tôn giáo còn hời hợt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu
tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn
kéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo.
Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền
nhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc.
4
Từ thực tế tình hình trên, tôi chọn để tài: “Hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, để làm luận
văn thạc sỹ quản lý hành chính công.
2.Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo trong thời
nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian
qua, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu, về không gian, là địa bàn tỉnh
6
Bắc Ninh; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm
2004), đến nay.
5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ thực
tiễn công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Triển khai luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
đồng thời sử dụng các phương pháp của các khoa học cụ thể, như tổng hợp và
phân tích, khái quát hoá, thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn
giáo học.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1.Về mặt lý luận:
Bước đầu luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà
xã hội, nhận thức và tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo
bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức
(giáo lý), nghi lễ, luật lệ và tổ chức.
Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan. Tôn giáo
và tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới để
phân biệt chỉ là rất tương đối. Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau,
nghĩa rộng, đó là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện
tượng, một lực lượng, một điều gì đó, thông thường để chỉ một niềm tin tôn
giáo; nghĩa hẹp là các hình thức khác với tôn giáo, như người Việt Nam
9
thường gọi “tín ngưỡng dân gian”. Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người
ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại
sức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng, vậy nên “Hoạt động mê tín phải bị phê phán
và loại bỏ”. [13]
Quan điểm mác - xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề bản chất,
nguồn gốc, chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ
ra thái độ, nguyên tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn
đề tôn giáo.
Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế
giới thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật
chất đang tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại
ngoài những đam mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa
Mác - Lênin không bao giờ chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại
luôn tôn trọng niềm tin tôn giáo của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo
không phải là kẻ phỉ báng thần thánh của quần chúng mà chỉ là người đồng
tình với quan điểm quần chúng, người sáng tạo ra thần thánh.
Có một số người cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin mâu thuẫn tuyệt đối
với đức tin tôn giáo, do đó không có thể dung hợp giữa chủ nghĩa xã hội và
tôn giáo và lập luận này là không đúng, vì đã chủ quan đẩy mâu thuẫn, từ mâu
thuẫn ở phương diện nhận thức - không đối kháng, trở thành mâu thuẫn đối
thể quản lý xã hội, trong đó có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và
quyền hạn trên 2 vấn đề liên quan đến tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị.
11
Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta
chưa bao giờ có chủ trương tiêu diệt tôn giáo, phủ nhận thượng đế của người
có đạo, mà luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự
đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Vậy khi giải quyết vấn đề tôn giáo, chúng ta cần phải đứng vững trên
những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác - xít, được khái quát
trên 4 nguyên tắc sau:
Một: Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn
liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức
và tác động vào tôn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ tình trạng nô lệ về
mặt kinh tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80,
tr. 175]. Hay nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải
thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư
tưởng con người, phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập
được một xã hội hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học...
cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải khai thác và phát huy tiềm
năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng bào các tôn giáo.
Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân.
Các nhà kinh điển Mác - xít quan tâm không chỉ tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng, mà còn cả quyền tự do không tín ngưỡng. Tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng và không tín ngưỡng sẽ bảo đảm quan hệ tốt đẹp giữa những
12
người vô thần và hữu thần, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác
nhau. Nội dung căn bản của quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng là:
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ
nghĩa Lênin” [46, tr.268]. Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của
dân tộc Á - Đông, Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyết
của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử
châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại
chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương
Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của
chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)” [45,
tr.465] .
Cũng trên quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ
Chí Minh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới
có thể giải quyết được vấn đề tôn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ nhấn mạnh:
Tôn giáo không hề đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng
bào có tôn giáo theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”.
Trong ứng xử với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể hiện nổi bật tư
tưởng hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị
biệt, miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ đó mà đạt được mục
tiêu tương đồng. Chính vì thế, đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như "Hiện
thân" của vị “Bồ tát Quán Thế Âm” vì "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau
thương "trầm luân" trong nỗi nhục mất nước ở cõi "Sha- bà" mà xuống cứu
14
khổ cứu nạn. Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ Chí
Minh được gán với quả vị Phật giáo, là Bồ tát Hồ Chí Minh. Còn đồng bào
đạo Công giáo và đạo Tin lành luôn khâm phục và cảm động về việc, Người
đã nguyện hy sinh cho Việt Nam độc lập, cho thế giới hoà bình, nên thấy
Người như bóng dáng của "Đức Chúa Ki-Tô” hy sinh thân mình để cứu chuộc
nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo với tính cách là những quan điểm,
nguyên tắc, tác giả khái quát như sau :
Thứ nhất, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, tôn
người [38].
Vậy, chủ thể QLNN là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhà
nước tác động tới đối tượng quản lý. Còn đối tượng QLNN là toàn bộ công
dân Việt Nam và những người không phải là công dân Việt Nam đang sống,
làm việc trên lãnh thổ Việt Nam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
16
Từ các khái niệm quản lý nhà nước như trên, khái niệm quản lý nhà
nước đối với tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.
Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để
tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn
giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được
mục tiêu cụ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND
các cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn
giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật.
Theo đó, QLNN đối với tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp, đều tập trung,
trước hết và chủ yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo”. Cụ thể hơn, đó là
các hoạt động tôn giáo liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Hoạt động đó là gì ? Về việc này, tại khoản 5, điều 3 Pháp lệnh
tín ngưỡng, tôn giáo đã nêu: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành
giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[77, tr.2].
Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền
những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo,
niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ của tôn giáo được các tín đồ
thực hiện. Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu,
tin và theo tôn giáo. Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố và phát
triển tín đồ. Tất nhiên, việc truyền đạo phải tuân thủ các quy định của pháp
mình tin theo. [77, tr.2]. Người làm công tác QLNN đối với tôn giáo, với họ,
có một đòi hỏi bắt buộc là phải nắm vững về đặc điểm của tín đồ, chức sắc
các tôn giáo, với tư cách là khách thể QLNN.
Ở nước ta, tín đồ tôn giáo có đặc điểm là: Đa số họ là nông dân, vốn có
bản chất cần cù lao động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù kẻ xâm lược và
tầng lớp bóc lột. Song bên cạnh đó, do cả vô thức và ý thức, một số tín đồ
hoạt động tôn giáo chưa tuân thủ pháp luật, tai hại hơn, bị các thế lực thù địch
lợi dụng, nghe theo kẻ xấu tham gia vào các vụ việc phức tạp, điểm nóng tôn
giáo. Một đặc điểm khác là, trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng
không đồng nhất) giữa mặt công dân và mặt tín đồ. Là công dân, họ có mọi
quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi công dân khác. Là người có tín
ngưỡng tôn giáo, họ có niềm tin ở Chúa, Phật..., có quyền lợi và trách nhiệm
đối với giáo hội. Đây chính là đặc điểm quan trọng cần phải nắm vững.
Còn chức sắc, nhà tu hành tôn giáo cũng có những đặc điểm chung của
một tín đồ, song họ còn có các đặc điểm riêng. Đó là: Họ là những người
được tổ chức tôn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, nên có năng lực quản đạo và
trình độ thần học cao; được tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm. Họ đại
diện ở những mức độ khác nhau cho các tổ chức tôn giáo. Họ vừa chăn dắt tín
đồ, vừa quản lý nền hành chính đạo theo thẩm quyền. Trong quan hệ với tín
đồ, họ là những người rất gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tự, nguyện vọng của
tín đồ. Như thế, họ có vị trí, vai trò và ảnh hưởng rất lớn, rất sâu sắc trong tín
đồ, được tín đồ yêu quí, trân trọng và bảo vệ.
19
Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải
nắm vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo. Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành
các hoạt động tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với
các tổ chức khác có liên quan. Mỗi tôn giáo có bộ máy tổ chức riêng, hoạt
động theo hiến chương, điều lệ của mình. Các tôn giáo có tư cách pháp nhân
đều thể hiện đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đa số
các tổ chức tôn giáo có liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài.
quản lý các hoạt động tôn giáo.
Thứ ba, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng tôn giáo hống
phá cách mạng, vậy để đập tan âm mưu đó và để đồng bào lương - giáo tích
cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tất yếu Nhà nước phải tăng cường
quản lý các hoạt động tôn giáo.
Thứ tư, Việt Nam mở cửa, hội nhập để phát triển, theo đó, các thế lực thù
địch cũng thông qua con đường hợp tác, liên doanh, du lịch... thâm nhập vào
những vùng nhạy cảm về tôn giáo, mua chuộc một số chức sắc, tín đồ tôn giáo,
vậy để hội nhập quốc tế có nhiều thành công, Nhà nước phải tăng cường quản
lý các hoạt động tôn giáo.