Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn quận 10 trong thời gian tới - Pdf 33

Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
1.1 Vấn đề tơn giáo ln là một vấn đề xã hội phức tạp, tế nhị và nhạy
cảm. Khi nói đến tơn giáo có nhiều ý kiến ngược chiều nhau, thậm chí đối lập
hẳn với nhau. Có người cho rằng tơn giáo gắn với mê tín dị đoan, với sự bất
ổn. Có người lại cho rằng tơn giáo, tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần của con
người, là đức tin của con người đối với các đấng chí tơn mà người ta tơn thờ.
Làm sao để các tơn giáo hoạt động một cách bình thường theo giáo lý, giáo
luật của từng tơn giáo và phù hợp với pháp luật của mỗi quốc gia; phát huy
những giá trị tích cực, hạn chế những mặt phức tạp, nhạy cảm và cũng chính
là để mọi người có cách nhìn biện chứng, khoa học, khách quan về tơn giáo
quả là cơng việc khơng ít khó khăn. Để giải quyết khó khăn này, vai trò quản
lý của Nhà nước đối với tơn giáo là vơ cùng quan trọng.
1.2 Việt Nam là quốc gia đa tơn giáo. Mỗi tơn giáo có q trình hình
thành, xuất hiện và hoạt động, có hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức khác
nhau. Hơn nữa, đặc điểm, tình hình tơn giáo cũng mỗi vùng mỗi khác. Do đó,
vấn đề đặt ra cho tất cả các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương
là phải có những giải pháp quản lý sao cho phù hợp đặc điểm tình hình tơn
giáo chung cho cả nước và cho từng vùng, từng địa phương.
1.3 Thành phố Hồ Chí Minh là Thành phố lớn nhất nước, đồng thời cũng
là địa phương có số lượng tơn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành nhiều nhất
nước. Theo số liệu thống kê của Ban Tơn giáo Chính phủ năm 2002, TP.Hồ
Chí Minh có 1.654.858 tín đồ trong tổng số 16.719.091 tín đồ trong cả nước,
chiếm gần 10%.
Trong số 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, Quận 10 là một
trong những quận trung tâm, là địa bàn có nhiều tơn giáo và tín đồ, hơn nữa là
nơi có hai trung tâm lớn của Phật giáo và Tin Lành.
Trong thời gian qua, chính quyền các cấp của Thành phố Hồ Chí Minh,
trong đó có các cấp chính quyền của Quận 10, đã có nhiều chủ trương, biện

trình nào nghiên cứu về các tơn giáo và hoạt động của các tơn giáo ở Thành
phố Hồ Chí Minh nói chung, ở Quận 10 nói riêng từ góc độ QLNN. Đây là
vừa là khó khăn, vừa là thuận lợi cho chúng tơi. Thuận lợi là có thể tìm hiểu
“khai hoang” các vấn đề tương đối thoải mái. Khó khăn bởi tình hình tơn giáo
và hoạt động của tơn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh và Quận 10 khá phức
tạp; đây cũng là lĩnh vực nhạy cảm nên trong thu thập tài liệu và tiếp xúc thực
tế khơng dễ dàng.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tình hình hoạt động các tơn giáo và cơng tác quản lý Nhà nước về tơn
giáo trên địa bàn quận 10, chủ yếu về mặt quản lý hành chính nhà nước, trong
đó chú ý mối quan hệ giữa cơ quan, cán bộ Nhà nước và tơn giáo.
4. Phạm vi nghiên cứu:
- Địa bàn: Quận 10 TP.Hồ Chí Minh;
- Thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2005.
5. Nội dung khóa luận:
Trang 2


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

Khóa luận này đề cập 3 nội dung:
- Các vấn đề chung của tơn giáo;
- Tình hình tơn giáo và cơng tác quản lý Nhà nước về tơn giáo trên địa bàn
Quận 10 trong thời gian qua;
- Một số giải pháp tăng cường cơng tác quản lý Nhà nước đối với hoạt
động tơn giáo trên địa bàn Quận 10 trong thời gian tới.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Tùy từng chương, từng phần, chúng tơi sử dụng một hay một số phương
pháp sau:
- Phương pháp thống kê;

động tơn giáo trên địa Bàn quận 10:
3.4 Một số kiến nghị cụ thể:
• Kết luận.
• Tài liệu tham khảo.
• Phụ lục.

CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TƠN GIÁO
1.1 Khái qt chung về tơn giáo:
1.1.1 Khái niệm:
Thuật ngữ “tơn giáo” theo tiếng Latinh là “relegion” có nguồn gốc xuất
phát từ tiếng Hy Lạp. “Leg” có nghĩa là nơi nương tựa, dựa dẫm vào nhau
trong cuộc sống. “Re” và “lego” là sự cầu nguyện trước đấng siêu nhiên. Như
vậy, “tơn giáo” theo nghĩa xuất xứ là sự cầu nguyện, nương tựa của con người
trước thần linh, các đấng siêu nhiên, thần bí.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tơn giáo: Duyếc Khem – Nhà xã hội
học tơn giáo và giáo dục học người Pháp cho rằng “Tơn giáo là quan hệ giữa
cái linh thiêng và cái trần tục”.
Hêghen xây dựng và phát triển khái niệm về tơn giáo dựa theo mơ hình
của Thiên Chúa giáo, tơn giáo với “nội dung tinh thần tuyệt đối”, bao chứa
một thực tế là sự mặc khải và “nguồn gốc sự mặc khải là Chúa”. (Tơn giáo Lý
luận xưa và nay, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2005, tr 144, 145). Còn
Phoiơbắc thì cho rằng “Tơn giáo là trực giác với cái tất yếu như một cái gì đó
tùy tiện, tự nguyện trong những biểu hiện ngẫu nhiên riêng biệt” (sđd, tr 168).

Trang 4


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh


1.1.2 Vai trò của tơn giáo:
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, tơn giáo có cả mặt tích cực
lẫn tiêu cực:
1.1.2.1

Những tác động tiêu cực:
Trang 5


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

- Tơn giáo mang lại cho con người niềm tin mù qng, bù đắp hư ảo
vào đầu óc con người, tin tưởng vào “bến bờ” hạnh phúc ở bên kia thế giới,
vào số mệnh và sự sắp đặt vận mệnh của mình ở các đấng siêu nhiên. Từ sự
mù qng dẫn đến hủy diệt con người, có khi hàng loạt.
- Tơn giáo mang tính bảo thủ và sức ỳ lớn, con người có niềm tin tơn
giáo muốn thay đổi cuộc sống của mình chỉ trơng chờ vào các đấng thiên
liêng, khơng nỗ lực bản thân, chờ sự thay đổi của số mệnh.
- Các tổ chức tơn giáo tham gia vào hoạt động chính trị hoặc bị lợi
dụng vào chính trị gây mất ổn định xã hội và an ninh quốc gia. Các cuộc
thánh chiến để mở rộng “đất thánh”, các tổ chức vũ trang, khủng bố mang
màu sắc tơn giáo “tử vì đạo” như của Hồi giáo hiện nay…là mối đe dọa cho
hòa bình thế giới.
1.1.2.2

Vai trò tích cực:

Bên cạnh những ảnh hưởng và tác động tiêu cực, phải thừa nhận tơn
giáo có những mặt tích cực :
- Tơn giáo góp phần xoa dịu nỗi đau, an ủi tinh thần con người trước

1.2 Các quan điểm của Đảng về tơn giáo:
Trong suốt q trình Cách mạng, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta mà tiêu biểu là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tơn giáo là
thống nhất, có tình, có lý nên đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối
đại đồn kết tồn dân, khơng phân biệt dân tộc, tơn giáo hay khơng tơn giáo,
giới tính, tuổi tác làm nên những thắng lợi của cơng cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc trước đây, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa
ngày nay.
Trên cơ sở Chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã bổ sung cơ sở lịch sử
của Chủ nghĩa Mác – Lênin thời đó khơng có được, để sớm có được phương
pháp luận biện chứng và lịch sử cụ thể để gắn vấn đề tơn giáo trong thực tiễn
cách mạng Việt Nam. Đó là một q trình đổi mới tư duy lâu dài, phức tạp
của Đảng về tơn giáo.
Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, tác giả của tác phẩm “Tơn giáo
và xã hội lồi người” là người cộng sản Việt Nam đầu tiên trình bày hệ thống
các luận điểm về tơn giáo của Chủ nghĩa Mác – Lênin và nhắc nhở những
người cộng sản phải chú ý “cái giá trị nhân văn, đạo đức” của tơn giáo.
Ngày 03/9/1945, ngay sau Tun ngơn độc lập một ngày, trong phiên
họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh tun bố “tín
ngưỡng tự do, lương giáo đồn kết”.
Văn kiện các Đại hội của Đảng, Đại hội sau kế thừa, phát triển và đổi
mới quan điểm của Đại hội trước nhưng trước sau vẫn thống nhất tơn trọng
“tự do tín ngưỡng, tơn giáo”, đặt vấn đề đồn kết đồng bào tơn giáo trong vấn
đề đại đồn kết tồn dân. Văn kiện Đại hội II của Đảng năm 1951 khẳng định:
“Đồn kết dân tộc, lập thành Mặt trận dân tộc thống nhất gồm tất cả mọi lực
lượng chống đế quốc và phong kiến phản quốc, khơng phân biệt chủng tộc,
giai cấp, tơn giáo, khuynh hướng chính trị”.
Trang 7



về vấn đề tơn giáo, đề ra 3 quan điểm chỉ đạo, 3 nhiệm vụ, 5 ngun tắc trong
thực hiện cơng tác tơn giáo; cũng trong năm này, Đảng ta chuyển tơn giáo từ
phạm trù nội chính sang phạm trù dân vận.
Văn kiện Đại hội VII cho rằng đạo đức tơn giáo có nhiều điểm phù
hợp, tương đồng với đạo đức Xã hội Chủ nghĩa.
Văn kiện Đại hội IX tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất qn chính
sách tơn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khơng theo một
Trang 8


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

tơn giáo nào, quyền sinh hoạt tơn giáo bình thường theo đúng pháp luật; đồn
kết chăm lo phát triển kinh tế văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào. Từng
bước hồn thiện luật pháp về tín ngưỡng tơn giáo”.
Nghị quyết Trung ương 7, khóa IX là văn kiện tồn diện và cụ thể nhất,
đánh dấu sự đổi mới tư duy cao nhất từ trước đến nay của Đảng về tơn giáo:
đề ra 5 quan điểm chính sách, 6 nhiệm vụ, 4 hệ thống giải pháp trong cơng tác
tơn giáo, phát triển 3 quan điểm, 3 nhiệm vụ của Nghị quyết 24/NQ - TW của
Bộ Chính trị năm 1990. 5 quan điểm, chính sách cơ bản được đặt ra là:
1. Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Đồng bào các tơn giáo là bộ phận của khối đại đồn kết tồn dân tộc;
2. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất qn chính sách đại đồn kết dân tộc.
Đồn kết đồng bào theo các tơn giáo khác nhau; đồn kết đồng bào theo tơn
giáo và đồng bào khơng theo tơn giáo;
3. Nội dung cốt lõi của cơng tác tơn giáo là cơng tác vận động quần
chúng;
4. Cơng tác tơn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị;
5. Về vấn đề theo đạo và truyền đạo: mọi tín đồ có quyền tự do hành

nhân tư tưởng tiến bộ và hợp lý của các tơn giáo để hội nhập với những giá trị
ưu việt của hệ ý thức chủ nghĩa xã hội như quan điểm của Đảng đã khẳng
định “Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong q trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Đồng bào các tơn giáo là bộ phận của khối đại đồn kết tồn dân tộc”
(Trích Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW Đảng, khóa IX tháng 3 năm
2003).
1.3 Mối quan hệ giữa Nhà nước với tơn giáo và quản lý Nhà nước về tơn
giáo:
1.3.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về tơn giáo và Quản lý hành chính
Nhà nước về tơn giáo:
Lý luận nhiệm vụ QLNN và QLHCNN về tơn giáo cho biết:
QLNN về tơn giáo là q trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp
luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các q trình tơn giáo và hành vi hoạt
động tơn giáo của tổ chức, cá nhân tơn giáo diễn ra phù hợp pháp luật, đạt
được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý. Chức năng này quy định cho các cơ
quan nhà nước thuộc cả ba hệ thống cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
QLHCNN về tơn giáo là q trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực
hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các
cấp và các cơ quan chun mơn thuộc UBND) để điều chỉnh các q trình tơn
giáo và mọi hành vi hoạt động tơn giáo của tổ chức, cá nhân tơn giáo diễn ra
theo quy định của pháp luật.
Q trình tơn giáo là tổng thể nói chung những sự việc, hiện tượng diễn
ra nối tiếp nhau trong một thời gian, một trình tự nhất định của tơn giáo đó,
liên quan đến tổ chức và hoạt động, đến chức sắc, nhà tu hành, tín đồ của một
Trang 10


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh


Điểm qua mối quan hệ giữa các Nhà nước trước Nhà nước Xã hội
Chủ nghĩa và tơn giáo:

Từ thời cổ đại đến trung cổ ở Châu Âu, quan hệ giữa Nhà nước với tơn
giáo là đồng nhất. Tơn giáo là chính trị và ngược lại. Khi nhiệm vụ xây dựng
Nhà nước gia tăng với sự xuất hiện nhiều tơn giáo nhập thế, nhiều Quốc
vương khơng thể đồng thời là giáo chủ, buộc thế quyền và thần quyền phải
phân lập.
Trang 11


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

Sau khi đế quốc La Mã bị tách đơi, hai miền Châu Âu chia ra theo hai
ngơn ngữ: Giáo hội phía Đơng là giáo hội Chính thống và Giáo hội Rơma
phía Tây. Giáo hội Chính thống phía Đơng tuy phân biệt thần quyền và thế
quyền nhưng trong thực tế thì đều phụ thuộc vào nhà cầm quyền. Giáo hội tựa
như bộ phận hữu cơ của Nhà nước, thế quyền và thần quyền cấu kết với nhau
hết sức chặt chẽ để kìm hãm nhân dân trong cuộc sống vật chất khổ cực và
cuộc sống tinh thần mê muội. Ở đây, thời điểm này Nhà nước đứng trên Giáo
hội.
Tây Âu, Giáo hội Cơng giáo trị vì lại ln có vị trí đứng trên chính
quyền. Thế kỷ XI, giáo quyền thắng thế, nó chi phối có khi đồng nhất với thế
quyền. Đến thế kỷ XVI, canh tân tơn giáo Luther, tách Tin Lành khỏi Giáo
hội Cơng giáo Rơma, cũng là thời điểm thành lập các quốc gia Châu Âu như
Anh, Pháp, Đức. Ở những nước theo Cơng giáo Rơma tuy chưa cắt đứt quan
hệ với Vatican, các nhà vua các nước Châu Âu đã được hưởng quyền độc lập
nhất định nhưng vẫn phụ thuộc vào Giáo hội Rơma; ở các nước theo Tin
Lành, các giáo phái Tin Lành ra đời với tổ chức Giáo hội độc lập, khơng chịu

nhiều quốc gia tư bản thực hiện theo thể chế quốc gia thỏa hiệp hoặc quốc
giáo; và dù ở một quốc gia có chế độ chính trị như thế nào thì tơn giáo vẫn tồn
tại như một hiện tượng xã hội khách quan.
Bảng 1. Các quốc gia có tơn giáo làm quốc giáo:
Phật giáo

Cơng giáo

Tin Lành

- Thái Lan
(95% dân số)
- Lào (60%)
- Campuchia
(95% dân số)
- Bhutan
(Lạtma giáo)
- Mianma.


- Italia
(83,2%)
- Ireland
(95.8%)
- Monaco
(90,7%)
-Aghentina
(91.9%)
- Paragoay
(96%)

Hồi giáo

Khác

- Malaysia
- Anh (quốc
(55%)
giáo Anh)
- Pakistan

(97%)
- Gioocđani
-Apghanistan
( 99.9%)
- Angiêri
(99%)
- Arập Saudi
(100%)
- Irắc (97%)
- Thổ Nhĩ Kỳ
(99.2%)
- Iran
(97.1%)
- Inđơnêxia
(87%)
- Brunây
(64,2%)
- Oman
(98.9%)
- Baranh


: 61% dân số theo Tin Lành, 25% dân số theo Cơng giáo;

Đức : 47% Tin Lành, 36% Cơng giáo;
Pháp : 87% theo Cơng giáo…
Ở nhiều Nhà nước tư sản, sự tham gia của tơn giáo vào đời sống chính
trị còn biểu hiện rõ nét bằng sự xuất hiện của các Đảng chính trị mang màu
sắc tơn giáo. Cụ thể như:
Đức : Liên minh dân chủ Thiên Chúa giáo (CDU) đang đứng đầu liên
minh cầm quyền; Liên minh xã hội Thiên chúa giáo (CSU), Đảng Dân chủ
Thiên chúa giáo.
Nga : có 4 tổ chức chính trị Thiên chúa giáo; các tổ chức Đảng Hồi
giáo: Đảng Hồi giáo phục sinh, Đảng Dân chủ Hồi giáo, Phong trào Dân chủ
Hồi giáo Nga, Liên hiệp xã hội Hồi giáo tồn Nga ánh sáng, Liên minh Hồi
giáo Nga.
Inđơnêxia: Đảng Hội đồng giáo sĩ (NU) và Đảng Phong trào giáo dục
Hồi giáo hiện nay hợp nhất thành Đảng Thống nhất vì sự Phát triển (PPP) nay
gọi là Đảng Hồi giáo; Đảng Hồi giáo trăng lưỡi liềm (PBB) cũng là 1 đảng
lớn trong Quốc hội, nắm giữ một số bộ trong Chính phủ…
Trang 14


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

Đó là những quốc gia tun bố xây dựng Nhà nước thế tục nhưng thực
chất tồn tại sự thỏa hiệp, “chung sống hòa bình” giữa Nhà nước và Giáo hội.
1.3.2.2

Nhà nước xã hội Chủ nghĩa và tơn giáo:


Nhà nước XHCN và tơn giáo có mặt đối lập về ý thức hệ, nhưng những
nhà sáng lập học thuyết Mác – Lênin và cả những học trò của các ơng đều
Trang 15


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

khẳng định người cộng sản khơng chống lại tơn giáo, ngược lại Chủ nghĩa
Mác – Lênin đã nêu những quan điểm biện chứng trong mối quan hệ giữa
Nhà nước với tơn giáo và giải quyết vấn đề tơn giáo.
Lênin chỉ rõ: “…đối với người mácxít, một điều quan trọng phải biết là
tơn giáo khơng đồng nghĩa với phản động với tất cả mọi người, ở mọi nước và
mọi thời đại.” (Lênin tồn tập, tập 12, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1980, tr 274).
Và “Mọi người nhất thiết tránh mọi sự xúc phạm đến tơn giáo.” (Lênin tồn
tập, tập 52, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1980, tr 180).
Trên thực tế, ở một số thời điểm, ở một số Nhà nước XHCN, những
người cộng sản bị chi phối bởi xu hướng tả khuynh, nhận thức các luận điểm
của học thuyết macxít một cách phiến diện cực đoan nên có sự khắt khe, thậm
chí phân biệt đối xử với tơn giáo, chống tơn giáo.
Cách đối xử với tơn giáo như vậy đã bị các ơng phê phán, hơn nữa phê
phán cả hai phương thức giải quyết vấn đề tơn giáo: tun truyền thuyết phục
và đấu trang giai cấp. Lênin: “Sai lầm lớn nhất và tệ hại nhất mà một người
macxít có thể mắc phải là tưởng rằng “có thể chỉ có do con người trực tiếp
giáo dục chủ nghĩa Mác thuần túy” mà làm cho quần chúng bừng tỉnh khỏi
mê tin tơn giáo” (Những vấn đề tơn giáo hiện nay, NXB CTQG Hà Nội, 1994,
tr 107). Ănghen viết: “Ơng ta – Duyrinh – tung bọn hiến binh tương lai của
ơng ta ra truy kích tơn giáo và do đó ơng ta giúp cho tơn giáo đạt tới chỗ thực
hiện tinh thần tử vì đạo và kéo dài sự tồn tại của nó” (C.Mác, PhĂnghen tồn
tập, NXB CTQG Hà Nội, tập 20, tr 439).
Đây cũng chính là bài học khi tác động vào tơn giáo cần tơn trọng hồn

- xã hội ln gắn liền với mục đích của sự nghiệp Cách mạng XHCN. “Phê
phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tơn giáo biến thành
phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị.”
(C.Mác, Ph.Anghen tồn tập, tập 1, NXB CTQG, 1995, tr 571).
- Hơn nữa, Lênin còn khẳng định sẵn sàng kết nạp vào hàng ngũ người
cộng sản những người đang có niềm tin tơn giáo. “Chúng ta khơng những
phải sẳn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thu hút vào Đảng Dân chủ – xã hội
tất cả những cơng nhân nào còn tin ở Thượng Đế; chúng ta nhất định phản đối
bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đối với tín ngưỡng tơn giáo.” (V.I.Lênin
tồn tập, NXB Tiến Bộ Matxcơva, 1974, tập 17, tr 520).
Như vậy, những người sáng lập Chủ nghĩa Mac – Lênin hồn tồn
khơng phủ nhận sự tồn tại của tơn giáo trong Chủ nghĩa xã hội nhưng khẳng
định ngun tắc Nhà nước phải tách khỏi Giáo hội và ngược lại.
1.3.2.3

Nhà nước Việt Nam và tơn giáo:

a, Các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và tơn giáo:
Lịch sử Việt Nam chưa có một tơn giáo nào thật sự là quốc giáo, kể cả
trường hợp Phật giáo ở thế kỷ XI – XII, Nho giáo sau này là rường cột tư
tưởng chính trị cho chế độ phong kiến nhưng nó hồn tồn khơng là một tơn
giáo.
Nhà nước phong kiến Việt Nam giống như đa số các nước phong kiến
phương Đơng: Nhà nước đứng trên tơn giáo. Nhà vua, triều đình có đủ mọi
Trang 17


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

quyền lực cơng nhận, cất nhắc, trả lương, bảo hộ mọi cơ sở tơn giáo, thậm chí

tơn giáo và các hoạt động tơn giáo.

Trang 18


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và đặc biệt là từ
sau Đổi mới, xu hướng tơn giáo đồng hành cùng với dân tộc, đi liền với
CNXH trở thành xu thế cơ bản, chi phối hoạt động của tơn giáo.
Từ đó cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có chính sách đổi mới,
tồn diện, khách quan hơn đối với tơn giáo. Nghị quyết Hội nghị BCH TW
lần thứ bảy khóa IX đã nêu rõ hệ thống quan điểm của Đảng về vấn đề tơn
giáo trong tình hình mới, Pháp lệnh tín ngưỡng, tơn giáo là một bước tiến dài
của chế định luật pháp đối với tơn giáo.
Từ q trình lịch sử dân tộc và lịch sử Cách mạng Việt Nam, lịch sử
hình thành và hoạt động của các tơn giáo, có thể rút ra cơ sở lý luận và thực
tiễn khẳng định tơn giáo có thể hòa nhịp, thích ứng và đồng hành cùng Chủ
nghĩa Xã hội, dưới sự quản lý của Nhà nước XHCN.
Cơ sở lý luận và thực tiễn tơn giáo có thể hòa nhịp, thích ứng và đồng
hành cùng Chủ nghĩa Xã hội, dưới sự quản lý của Nhà nước XHCN:
- Những nhà sáng lập học thuyết Mác – Lênin và các học trò kế tục tiêu
biểu như Hồ Chí Minh hồn tồn khơng phủ nhận sự tồn tại của tơn giáo
trong CNXH với những luận điểm quan trọng đã trình bày ở trên.
- Mâu thuẫn giữa tơn giáo và Nhà nước XHCN là mâu thuẫn giữa ý
thức hệ biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa các con đường và
phương thức đưa con người đến cuộc sống hạnh phúc, nó khơng phải là mâu
thuẫn lợi ích, mâu thuẫn đối kháng dẫn đến đấu tranh giai cấp. Chỉ có mâu
thuẫn giữa các thế lực lợi dụng và đội lốt tơn giáo để chống phá Nhà nước
XHCN, đó là mâu thuẫn địch – ta nhưng khơng phải là mâu thuẫn giữa Nhà

bài tự do tơn giáo, nhân quyền. Chính những người tơn giáo đã nhận thấy:
“Người Kitơ giáo khơng cảm thấy bị đe dọa bởi cộng sản … có lẽ vì người ta
cho rằng cuộc đấu tranh giữa vơ thần và hữu thần tại đây khơng có lợi ích gì”
(D.Marr, Giáo hội và Nhà nước tại Việt Nam, bản dịch của Viện nghiên cứu
tơn giáo).
Trong Thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
khẳng định: “Đường lối của Chính phủ gồm 3 mục tiêu sau đây:
1. Giải phóng nhân dân khỏi đói rét (khổ sở) và khỏi dốt;
2. Đem lại cho nhân dân tự do, tự do sống, tự do tín ngưỡng;
3. Bảo vệ độc lập của Tổ quốc.
Nếu cộng sản mà thực hiện những việc trên đây thì tơi tin chắc mọi
người sẽ chấp nhận thứ cộng sản ấy.” (Hồ Chí Minh về vấn đề tơn giáo, tín
ngưỡng, NXB Khoa học xã hội, 1998, tr 189, 190).
Như vậy, CNXH và tơn giáo khơng mâu thuẫn, khơng ngăn cách mà
còn có điểm tương đồng.
Vấn đề có ý nghĩa quan trọng còn lại là Nhà nước XHCN phải làm cho
tín đồ, cho các tơn giáo hiểu rằng, đức tin tơn giáo chân chính khơng đối lập
với Chủ nghĩa Mácxit mà hơn thế nữa chính CNXH hiện thực hóa những lý
tưởng của Chủ nghĩa nhân đạo tơn giáo.
“Xã hội xã hội chủ nghĩa khơng chỉ giành riêng cho những người cộng
sản … từ trước tới nay và cả sau này, Đảng ta khơng bao giờ đòi hỏi những
Trang 20


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

người tán thành CNXH đồng thời phải là người duy vật vơ thần triệt để”
(Phạm Quang Hiệu, Tự do tín ngưỡng, Tạp chí Học tập, số 12, 1961, tr 57).
1.3.3 Tăng cường cơng tác quản lý Nhà nước đối với tơn giáo là một u
cầu khách quan:

Trang 21


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

trình lên để trị tội thì đều bị xử tội biếm. Những bồ tát, bà đồng ấy đều bị xử
tội đồ, tội nặng hơn thì bị xử thêm 1 bậc.”
c, Như nhiều thực thể và lĩnh vực xã hội khác, ngồi những mặt tiến bộ,
tích cực bao giờ cũng kéo theo đằng sau nó là những hạn chế, tiêu cực và
những mặt trái, vi phạm pháp luật mà tơn giáo khơng ngoại lệ. Quan trọng
hơn, đây còn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp mà các thế lực phản động, thù
địch thường xun lợi dụng với âm mưu chính trị hóa tơn giáo, với chiêu bài
tự do tín ngưỡng, tơn giáo, nhân quyền để chống phá Nhà nước XHCN, gây
mất ổn định xã hội, đe dọa an ninh quốc gia. Chính vì vậy Nhà nước phải tăng
cường quản lý để một mặt bảo đảm chính sách tự do, tín ngưỡng, tơn giáo của
mọi cơng dân đã được khẳng định trong Hiến pháp và pháp luật Nhà nước;
mặt khác ngăn chặn âm mưu và hoạt động chống phá, bảo đảm ổn định trật
tự, an tồn xã hội và an ninh quốc gia.
d, Trong cơng cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, khi quan điểm, chính
sách của Đảng có nhiều đổi mới để phù hợp với tình hình mới thì cơng tác
QLNN về tơn giáo cũng phải đổi mới cho phù hợp. Đảng xác định “cốt lõi
của cơng tác tơn giáo là cơng tác vận động quần chúng” và “nhiệm vụ thực
hiện cơng tác tơn giáo là của cả hệ thống chính trị” (Nghị quyết TW 7 khóa
IX), trong đó vai trò quản lý của Nhà nước đối với tơn giáo là rất quan trọng.
e, u cầu cải cách hành chính Nhà nước nói chung và quản lý hành
chính Nhà nước về các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tơn giáo đặt ra nhiều
vấn đề đổi mới về hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tơn giáo, về bộ máy
quản lý, đội ngũ cán bộ...cho phù hợp, đáp ứng u cầu cải cách hành chính
Nhà nước nói chung, đồng thời đảm bảo hiệu lực, hiệu quả cơng tác QLNN,
trong đó có QLNN về tơn giáo.

Cả 4 bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 là những văn bản pháp lý
cao nhất của hệ thống pháp luật nước ta trong từng thời kỳ lịch sử, đều khẳng
định ngun tắc nói trên.
Hiến pháp 1992 có giá trị hiện nay, Điều 70 đã quy định cụ thể: “Cơng
dân có quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo, theo hoặc khơng theo một tơn giáo
nào. Các tơn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín
ngưỡng, tơn giáo được pháp luật bảo hộ, khơng ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tơn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tơn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước.”
Văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh tồn diện, cụ thể riêng vấn đề tơn
giáo và hoạt động tơn giáo là Sắc lệnh 234/SL năm 1955 do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký ban hành đã quy định chi tiết quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo của
cơng dân, đặc biệt lần đầu tiên Nhà nước ta chính thức tun bố ngun tắc
“chính quyền khơng can thiệp vào cơng việc nội bộ các tơn giáo”.
Hơn hai mươi năm sau, Chính phủ ban hành Nghị quyết 297/CP tháng
11/1977 tạo khung pháp lý thống nhất điều chỉnh vấn đề tơn giáo trong cả
nước sau ngày miền Nam giải phóng. Nghị quyết 297 đã đề ra 5 ngun tắc
trong quản lý vấn đề tơn giáo:
1. Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và khơng tín ngưỡng của cơng
dân;
Trang 23


Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

2. Đảm bảo bình đẳng trước pháp luật giữa người có tín ngưỡng và
người khơng có tín ngưỡng;
3. Bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của cơng dân của người theo đạo và
khơng theo đạo;
4. Định chế các hoạt động tơn giáo trong khn khổ của pháp luật;



Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo trên đòa bàn Quận 10, TP.Hồ Chí Minh

Các tơn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.
Cơng dân có tín ngưỡng tơn giáo hoặc khơng có tín ngưỡng tơn giáo
cũng như cơng dân có tín ngưỡng tơn giáo khác nhau phải tơn trọng lẫn
nhau”. (Điều 1, Pháp lệnh tín ngưỡng tơn giáo).
Pháp lệnh và Nghị định hướng dẫn quy định rõ quyền tự do tín ngưỡng,
tơn giáo, quyền và nghĩa vụ của người có tín ngưỡng và hoạt động tơn giáo
của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc, các quy định về tổ chức tơn giáo và hoạt
động của các tổ chức tơn giáo; quy định thẩm quyền và trách nhiệm của các
cơ quan quản lý Nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt
động của các tổ chức tơn giáo như cơng nhận tổ chức tơn giáo, thành lập,
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất các tổ chức trực thuộc; tổ chức đại hội, hội
nghị, đăng ký hoạt động; cơng nhận việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử chức sắc tơn giáo, việc mở trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng
những người chun hoạt động tơn giáo…
* Những điểm mới của Pháp lệnh và Nghị định 22/2005/NĐ – CP của
Chính phủ điều chỉnh vấn đề tơn giáo so với các quy định trước đây:
1. Văn bản pháp luật điều chỉnh có giá trị pháp lý cao hơn (Pháp lệnh
so với các Nghị định trước đây).
2. Nội dung điều chỉnh khá rõ ràng và thơng thống, một số quy định
về hoạt động của tổ chức tơn giáo trước đây phải xin phép các cơ quan Nhà
nước thì hiện nay chỉ phải đăng ký hoặc thơng báo cho cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền được biết như chương trình hoạt động hằng năm, đăng ký việc
phong phẩm, phong chức, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc tơn giáo khơng
có yếu tố nước ngồi, mà việc này trước đây phải xin phép đến Thủ tướng
Chính phủ (Nghị định 69 năm 1991, Nghị định 26 năm 1999)…
3. Quy định cụ thể thẩm quyền của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status