HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI:
Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
GVHD : PGS.TS.Ngô Hữu Thảo
HVTH : Hà Thị Xuyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHG
CNHHĐH
CNLĐ
CNXH
CSVN
GHPG
HĐND
HTCT
MTTQ
QLNN
TCN
UBĐK
UBND
UBTV
UBTVQH
XHCN
Ban Hành giáo
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ QLNN ĐỐI VỚI TÔN
6
GIÁO
1.1.1 Nhận thức chung về tôn giáo
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo
1.2
TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 2
6
11
19
19
21
29
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO
Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1
SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
2.2.7
2.2.8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI TÔN
2.3
GIÁO Ở BẮC NINH
2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý
2.3.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý
35
37
38
39
41
42
43
43
47
47
50
Chương 3
53
DỰ BÁO TÌNH HÌNH, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN
3.1
58
tới các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên
địa bàn
3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần
61
chúng, tín đồ, chức sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng
chính trị ở cơ sở
3.2.4 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ, công chức làm công tác
65
QLNN về tôn giáo
3.2.5 Xây dựng và hoàn thiện phương pháp công tác tôn giáo và
68
QLNN về tôn giáo
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3
3.3.1 Đối với Trung ương
3.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
69
69
71
đại đoàn kết toàn dân tộc... Trước tình hình đó, công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo càng cần phải được tăng cường, không chỉ trên bình diện vĩ mô
mà còn ở các khu vực, các địa phương trong cả nước.
2
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và
có ý nghĩa quyết định sự thành bại của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Các
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của
công tác này và việc: “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” là một trong
những giải pháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiện nay.
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ
đô Hà Nội. Tỉnh Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn, nhưng dân số lại đông
và có vị trí địa lý chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng
bằng Châu thổ Sông Hồng, có nguồn nhân lực dồi dào và là tỉnh vốn có truyền
thống ngàn năm văn hiến và cách mạng.
Số lượng và quy mô tôn giáo ở Bắc Ninh cũng không lớn, song lại là vị trí
“địa tôn giáo” rất quan trọng. Đó là, về đạo Công giáo, Bắc Ninh có Toà Giám
mục, là trung tâm, đầu não của Giáo phận Bắc Ninh, gồm 12 tỉnh khác nhau. Còn
Phật giáo, Bắc Ninh từng có trung tâm Luy Lâu mà gần hai nghìn năm trước đã
được xem là một trung tâm Phật giáo lớn, bằng hoặc hơn cả trung tâm Phật giáo
Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc, còn đến nay, tên chùa Dâu, Keo, Phật
Tích vẫn nức tiếng toàn cõi Việt Nam. Hiện nay bên cạnh 2 tôn giáo chính là Phật
giáo và Công giáo, trên địa bàn Bắc Ninh đã xuất hiện cả đạo Tin Lành, một tôn
giáo được xem là tôn giáo của thời CNH, HĐH.
Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình
thường đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đại bộ
phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin
tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu phát triển kinh tế xã
nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua.
5
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu, về không gian, là địa bàn tỉnh Bắc
Ninh; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), đến nay.
5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn công
tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Triển khai luận văn này, tác giả sử dụng những nguyên tắc phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử
dụng các phương pháp của các khoa học cụ thể, như tổng hợp và phân tích, khái
quát hoá, thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn giáo học.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận:
Theo quan điểm mácxít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà
còn là một thực thể xã hội. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo
phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ
tư tưởng tôn giáo. Còn với tính cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội,
tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ tầng cơ sở xã
hội. Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế xã hội, nhận thức và
tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả yếu tố vật
chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức (giáo lý), nghi lễ, luật lệ
và tổ chức.
Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị đoan. Tôn giáo và
tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới để phân biệt
chỉ là rất tương đối. Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau, nghĩa rộng, đó
là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng,
một điều gì đó, thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo; nghĩa hẹp là các hình
thức khác với tôn giáo, như người Việt Nam thường gọi “tín ngưỡng dân gian”.
Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý
8
trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả sinh mạng, vậy nên
“Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ”. [13]
Quan điểm mác xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề bản chất, nguồn
gốc, chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ ra thái độ,
nguyên tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tôn giáo.
Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới
thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật chất đang
tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngoài những đam
mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác Lênin không bao
giờ chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại luôn tôn trọng niềm tin tôn
giáo của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo không phải là kẻ phỉ báng thần
nghĩa”. [81, tr.511.]
Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác xít, Nhà nước của giai cấp vô
sản nên xem tôn giáo là việc tư nhân, nghĩa là không nên phê phán những vấn đề
thuộc thế giới bên kia. Chuyện có thiên đường địa ngục, thần này thánh khác là
vấn đề của thần học, của tôn giáo. Nhưng với tư cách là chủ thể quản lý xã hội,
trong đó có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề liên
quan đến tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị.
Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta chưa bao
giờ có chủ trương tiêu diệt tôn giáo, phủ nhận thượng đế của người có đạo, mà
luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự đối xử vì lý do
tín ngưỡng, tôn giáo.
Vậy khi giải quyết vấn đề tôn giáo, chúng ta cần phải đứng vững trên
những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác xít, được khái quát trên
4 nguyên tắc sau:
Một: Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền
với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức và tác
động vào tôn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ tình trạng nô lệ về mặt kinh
10
tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80, tr. 175]. Hay
nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân
tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xoá
bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực không
có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học... cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất
nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi
phải khai thác và phát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng
bào các tôn giáo.
Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như tuyệt đối hoá một loại giải pháp nào đó đều
là tai hại cho cả tôn giáo và cho chính trị cầm quyền.
Kế thừa và vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin về tôn giáo,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này.
Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận
dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể
của Việt Nam. Với Người, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng
chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
[46, tr.268]. Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc Á Đông,
Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý
nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó
chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của
nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô
viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi
tham gia công tác này)” [45, tr.465].
Cũng trên quan điểm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa MácLênin, Hồ Chí
Minh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể
giải quyết được vấn đề tôn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ nhấn mạnh: Tôn giáo
12
không hề đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tôn giáo
theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”.
Trong ứng xử với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể hiện nổi bật tư
tưởng hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị biệt,
miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ đó mà đạt được mục tiêu
tương đồng. Chính vì thế, đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như "Hiện thân"
của vị “Bồ tát Quán Thế Âm” vì "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau thương
"trầm luân" trong nỗi nhục mất nước ở cõi "Sha bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn.
Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ Chí Minh được gán
giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[77, tr.2].
Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền
những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo,
niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ của tôn giáo được các tín đồ
thực hiện. Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin
và theo tôn giáo. Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố và phát triển tín
đồ. Tất nhiên, việc truyền đạo phải tuân thủ các quy định của pháp luật và nội
dung, phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tôn giáo đó.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ,
chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thể hiện sự tuân thủ nghiêm ngặt những quy định,
phép tắc, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tôn giáo là các tổ chức, giáo hội tôn giáo thực hiện các
quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm
bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo
với hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt
động hành đạo có hoạt động truyền đạo.
Từ đó chúng ta thấy, chủ thể QLNN về tôn giáo nếu theo nghĩa rộng của
khái niệm, thì đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và
tư pháp; còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống
hành pháp các cấp.
15
Còn khách thể QLNN đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn giáo của các tổ
chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Là công dân Việt Nam, tín đồ,
chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt
Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo.
Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tôn
giáo”, hoặc “QLNN về tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt
Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải nắm
vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo. Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành các hoạt
động tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với các tổ chức
khác có liên quan. Mỗi tôn giáo có bộ máy tổ chức riêng, hoạt động theo hiến
chương, điều lệ của mình. Các tôn giáo có tư cách pháp nhân đều thể hiện đường
hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đa số các tổ chức tôn giáo có
liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài.
Ngoài ra, khách thể QLNN về tôn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụ các
sinh hoạt tôn giáo. Trong đó, cơ sở thờ tự không đơn giản chỉ là một thực thể vật
chất, mà còn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa... Còn đồ dùng việc
đạo như kinh sách, tượng thờ, tranh ảnh, hoành phi, câu đối, lư hương, chuông mõ,
nhạc cụ,…mỗi thứ có chức năng, công dụng riêng trong sinh hoạt tôn giáo, nhưng
đều có đặc điểm là có giá trị vật chất và có ý nghĩa biểu đạt. Ngoài ra, phục vụ
cho sinh hoạt tôn giáo cộng đồng còn có vườn hoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ
thiện, nhà trẻ, bệnh xá,… Nó là tài sản của giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt
động tôn giáo, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho
tổ chức tôn giáo quản lý.
Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là một yêu
cầu tiên quyết đối với chủ thể quản lý, giúp cho công tác QLNN về tôn giáo có
hiệu lực mạnh và hiệu quả cao.
Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân
tôn giáo. Pháp nhân tôn giáo, đó là bộ máy tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước
17
công nhận. Còn thể nhân tôn giáo, đó là cá nhân tôn giáo (tín đồ) được tổ chức tôn giáo
công nhận.
1.1.2.2. Tính tất yếu tăng cường QLNN đối với tôn giáo
Vì sao phải tăng cường công tác QLNN đối với tôn giáo, việc này được xuất
phát từ các lý do khách quan và cơ bản.
Vì thế vừa qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ở nội
dung tôn giáo, Báo cáo chính trị đã nêu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật
về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức
sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo
sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước
công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên
quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia
rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc” [33, tr.245].
Còn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước bổ sung, phát triển, năm 2011,
khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử lý
nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín
ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [33, tr.81].
Theo đó, quan điểm về vấn đề tôn giáo tại đây có những điểm mới là “Tiếp
tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan
điểm của Đảng”; “quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh
hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được nhà nước công
nhận, đúng quy định của pháp luật”.
Từ đó, công tác QLNN về tôn giáo, từ mục tiêu, nguyên tắc và nội dung cho
đến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ sung cho phù hợp với quan
điểm của Đảng. Về mục tiêu, theo chúng tôi, đó là:
19
Thứ nhất, QLNN đối với tôn giáo trước hết phải bảo đảm được quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, để các
hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường, theo hướng tuân thủ pháp luật.
Rằng: “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi
Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;
Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ dùng
việc đạo;
Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động
tôn giáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;
Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ thiện nhân đạo của các tôn giáo;
Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo;
Quản lý về việc đình chỉ hoạt động tôn giáo.
Những nội dung quản lý như trên được quy định tại Pháp lệnh tín ngưỡng,
tôn giáo và trong Nghị định số 22/2005/NĐCP. Tuy nhiên cho đến nay, nó đã và
đang có nhu cầu phải bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Về vấn đề này, chúng tôi
sẽ đề cập ở các chương sau.
QLNN đối với tôn giáo có một số phương pháp chủ yếu được áp dụng như:
Phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh
tế, phương pháp cưỡng chế và phương pháp tổng hợp.
Như vậy, QLNN đối với tôn giáo là tất yếu, không chỉ ở nước ta mà còn đối
với các nước khác. Tuy nhiên, về mục đích, nội dung cụ thể của QLNN về tôn
giáo cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn. Vậy, chủ thể quản lý cần nắm vững quan
điểm lịch sử cụ thể để công tác này có hiệu quả, hiệu lực cao nhất.
1.2. TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH
1.2.1. Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ
sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Phía Bắc Bắc Ninh giáp tỉnh Bắc Giang,
phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải
Dương và phía Tây giáp thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát
triển toàn diện trên các lĩnh vực xã hội và cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua