Luận văn Thạc sỹ: Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay - Pdf 59

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ ­ HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI:
Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa 
bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

GVHD : PGS.TS.Ngô Hữu Thảo
HVTH : Hà Thị Xuyên


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHG
CNH­HĐH
CNLĐ
CNXH
CSVN
GHPG
HĐND
HTCT
MTTQ
QLNN
TCN
UBĐK
UBND
UBTV
UBTVQH
XHCN

Ban Hành giáo


NHẬN  THỨC   CHUNG  VỀ   TÔN   GIÁO  VÀ  QLNN   ĐỐI  VỚI  TÔN 

6

GIÁO

1.1.1 Nhận thức chung về tôn giáo
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo
1.2

TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

1.2.1 Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 2

6
11
19
19
21
29

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO 
Ở BẮC NINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1

SỰ  CHỈ ĐẠO CỦA TỈNH UỶ, UBND TỈNH VÀ TỔ  CHỨC BỘ MÁY 

2.2.7
2.2.8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO CÔNG TÁC QLNN ĐỐI VỚI TÔN 
2.3
GIÁO Ở BẮC NINH

2.3.1 Vấn đề đặt ra từ phương diện khách thể quản lý
2.3.2 Vấn đề đặt ra từ phương diện chủ thể quản lý

35
37
38
39
41
42
43
43
47
47
50


Chương 3

53

DỰ BÁO TÌNH HÌNH, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 
NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN 

3.1

58

tới các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên 
địa bàn
3.2.3 Công tác QLNN cần quan tâm hơn đến công tác vận động quần 

61

chúng, tín đồ, chức  sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng  
chính trị ở cơ sở
3.2.4 Tăng cường công tác tổ  chức cán bộ, công chức làm công tác 

65

QLNN về tôn giáo
3.2.5 Xây   dựng   và   hoàn   thiện   phương   pháp   công   tác   tôn   giáo   và 

68

QLNN về tôn giáo
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3
3.3.1 Đối với Trung ương
3.3.2 Đối với tỉnh Bắc Ninh
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

69
69
71

đại đoàn kết toàn dân tộc... Trước tình hình đó, công tác quản lý nhà nước đối với 
hoạt động tôn giáo càng cần phải được tăng cường, không chỉ trên bình diện vĩ mô  
mà còn ở các khu vực, các địa phương trong cả nước.


2
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng và 
có ý nghĩa quyết định sự  thành bại của công tác tôn giáo trong tình hình mới. Các  
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác tôn giáo đều nhấn mạnh đến vai trò của  
công tác này và việc: “Tăng cường quản lý nhà nước về  tôn giáo” là một trong  
những giải pháp chủ yếu của công tác tôn giáo hiện nay. 
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước ta, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ 
đô Hà Nội. Tỉnh Bắc Ninh mặc dù có diện tích không lớn, nhưng dân số  lại đông 
và có vị trí địa lý chính trị quan trọng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của đồng 
bằng Châu thổ  Sông Hồng, có nguồn nhân lực dồi dào và là tỉnh vốn có truyền  
thống ngàn năm văn hiến và cách mạng.
Số  lượng và quy mô tôn giáo  ở  Bắc Ninh cũng không lớn, song lại là vị  trí  
“địa tôn giáo” rất quan trọng. Đó là, về  đạo Công giáo, Bắc Ninh có Toà Giám  
mục, là trung tâm, đầu não của Giáo phận Bắc Ninh, gồm 12 tỉnh khác nhau. Còn 
Phật giáo, Bắc Ninh từng có trung tâm Luy Lâu mà gần hai nghìn năm trước đã 
được xem là một trung tâm Phật giáo lớn, bằng hoặc hơn cả trung tâm Phật giáo  
Lạc Dương và Bành Thành của Trung Quốc, còn đến nay, tên chùa Dâu, Keo, Phật 
Tích vẫn nức tiếng toàn cõi Việt Nam. Hiện nay bên cạnh 2 tôn giáo chính là Phật 
giáo và Công giáo, trên địa bàn Bắc Ninh đã xuất hiện cả  đạo Tin Lành, một tôn  
giáo được xem là tôn giáo của thời CNH, HĐH.
 Trong những năm qua tình hình tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc  
Ninh  ổn định, sinh hoạt tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình  
thường đúng với chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Đại bộ 
phận chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo trong tỉnh an tâm, phấn khởi, tin  
tưởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, về những thành tựu phát triển kinh tế ­ xã 

nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
­ Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
­ Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn  
giáo ở Bắc Ninh trong thời gian qua.


5
­ Đề  xuất một số  giải pháp, kiến nghị  nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả 
quản lý nhà nước về tôn giáo ở Bắc Ninh trong tình hình mới. 
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn 
giáo  ở  tỉnh Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu,  về  không gian, là địa bàn tỉnh Bắc 
Ninh; về thời gian là từ khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), đến nay.
5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được triển khai dựa trên quan điểm của chủ  nghĩa Mác­Lênin, tư 
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về  tôn giáo và quản lý  
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ  thực tiễn công 
tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh thời gian qua. 
5.2. Phương pháp nghiên cứu: 
 

Triển khai luận văn này, tác giả  sử  dụng những nguyên tắc phương pháp 

luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời sử 
dụng các phương pháp của các khoa học cụ  thể, như tổng hợp và phân tích, khái  
quát hoá, thống kê, so sánh, lịch sử và lôgic, xã hội học, tôn giáo học. 
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận:

Theo quan điểm mác­xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà 
còn là một thực thể  xã hội. Với tư  cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo 
phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm, niềm tin và hệ 
tư  tưởng tôn giáo. Còn với tính cách là một thực thể, hay một hiện tượng xã hội, 
tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định bởi hạ  tầng cơ  sở  xã  
hội. Cụ  thể  hơn, tôn giáo ra đời từ  3 nguồn gốc: Kinh tế  ­ xã hội, nhận thức và 
tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo bao gồm cả  yếu tố  vật  
chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức (giáo lý), nghi lễ, luật lệ 
và tổ chức.
Cũng cần phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng và mê tín dị  đoan. Tôn giáo và 
tín ngưỡng có sự khác nhau, song có quan hệ chặt chẽ, mà ranh giới để  phân biệt  
chỉ là rất tương đối. Tín ngưỡng có các nghĩa rộng, hẹp khác nhau, nghĩa rộng, đó 
là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng, 
một điều gì đó, thông thường để  chỉ  một niềm tin tôn giáo; nghĩa hẹp là các hình 
thức khác với tôn giáo, như  người Việt Nam thường gọi “tín ngưỡng dân gian”. 
Còn mê tín dị đoan, đó là tình trạng người ta quá tin vào cái siêu nhiên, đến mất lý 


8
trí, mê muội, tốn tiền của và huỷ hoại sức khoẻ, thậm chí cả  sinh mạng, vậy nên 
“Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ”. [13]
Quan điểm mác ­ xít về tôn giáo không dừng lại ở vấn đề  bản chất, nguồn  
gốc, chức năng và tính chất của nó, mà còn rất quan tâm đến việc chỉ  ra thái độ,  
nguyên tắc của người cộng sản khi tiếp cận, giải quyết những vấn đề tôn giáo.
Về thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo, mặc dù cho rằng, thế giới  
thống nhất ở tính vật chất, ngoài ra không có thế giới nào khác ngoài vật chất đang 
tồn tại và đương nhiên không có thần thánh, ma quỷ nào tồn tại ngoài những đam 
mê và dục vọng của chính con người, thế nhưng Chủ nghĩa Mác ­ Lênin không bao  
giờ chủ trương tuyên chiến với tôn giáo, mà ngược lại luôn tôn trọng niềm tin tôn 
giáo của nhân dân. C.Mác từng nói, kẻ nghịch đạo không phải là kẻ phỉ báng thần  

nghĩa”. [81, tr.511.]
Vậy, theo chỉ dẫn của các nhà kinh điển mác ­ xít, Nhà nước của giai cấp vô 
sản nên xem tôn giáo là việc tư nhân, nghĩa là không nên phê phán những vấn đề 
thuộc thế  giới bên kia. Chuyện có thiên đường địa ngục, thần này thánh khác là 
vấn đề của thần học, của tôn giáo. Nhưng với tư  cách là chủ  thể  quản lý xã hội, 
trong đó có tôn giáo, thì Nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn trên 2 vấn đề liên  
quan đến tôn giáo, đó là Pháp luật và chính trị. 
Theo chỉ dẫn đó, trong tiến trình cách mạng Việt Nam, nhà nước ta chưa bao  
giờ  có chủ  trương tiêu diệt tôn giáo, phủ  nhận thượng đế  của người có đạo, mà 
luôn tôn trọng quyền tự  do tín ngưỡng, nghiêm cấm phân biệt sự  đối xử  vì lý do  
tín ngưỡng, tôn giáo.
Vậy khi   giải  quyết   vấn  đề   tôn giáo,  chúng ta  cần phải  đứng  vững trên  
những nguyên tắc nào? Về điều này, theo quan điểm mác ­ xít, được khái quát trên 
4 nguyên tắc sau:
Một: Khắc phục dần những  ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền  
với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử khi nhận thức và tác  
động vào tôn giáo. Theo đó, trước hết phải “Xoá bỏ  tình trạng nô lệ  về  mặt kinh  


10
tế, nguồn gốc thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [80, tr. 175]. Hay 
nói cách khác, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân  
tồn tại xã hội; muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xoá  
bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy; phải xác lập được một xã hội hiện thực không 
có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học... cùng các tệ nạn nảy sinh trong nó. Tất  
nhiên việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi 
phải khai thác và phát huy tiềm năng của mọi cộng đồng xã hội, trong đó có đồng  
bào các tôn giáo. 
Hai: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự  do tín ngưỡng và không tín ngưỡng  

lẫn lộn các loại giải pháp, cũng như  tuyệt đối hoá một loại giải pháp nào đó đều 
là tai hại cho cả tôn giáo và cho chính trị cầm quyền.
Kế  thừa và vận dụng quan điểm của Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin về  tôn giáo, 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đặc sắc về vấn đề này. 
Trước hết cần thấy, tư tưởng của Người về tín ngưỡng, tôn giáo là sự vận 
dụng sáng tạo và phát triển Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin vào hoàn cảnh lịch sử  cụ  thể 
của Việt Nam. Với Người, “Bây giờ  học thuyết nhiều, chủ  nghĩa nhiều, nhưng  
chủ  nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ  nghĩa Lênin” 
[46, tr.268]. Nhưng, xuất phát từ đặc điểm lịch sử, văn hoá của dân tộc Á ­ Đông, 
Hồ Chí Minh cho rằng: “C.Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý  
nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó  
chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của  
nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô 
viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư   mời chúng tôi 
tham gia công tác này)” [45, tr.465].
Cũng trên quan điểm duy vật về  lịch sử  của chủ nghĩa Mác­Lênin, Hồ  Chí  
Minh luôn nhấn mạnh đến việc phải xây dựng một xã hội tiến bộ thì mới có thể 
giải quyết được vấn đề  tôn giáo một cách tốt đẹp. Từ chỗ  nhấn mạnh: Tôn giáo 


12
không hề đối lập với CNXH, Người đã chăm lo chu đáo đến đồng bào có tôn giáo  
theo tinh thần “phần xác no ấm, phần hồn thong dong”. 
Trong  ứng xử  với tín đồ, chức sắc tôn giáo, Người thể  hiện nổi bật tư 
tưởng hoà hợp, khoan dung, đó là sự cảm thông, chấp nhận và tôn trọng cái dị biệt, 
miễn là không trái với lợi ích chung của dân tộc, từ  đó mà đạt được mục tiêu  
tương đồng. Chính vì thế, đồng bào Phật tử  thấy Hồ  Chí Minh như  "Hiện thân"  
của vị  “Bồ  tát Quán Thế  Âm”  vì   "nhân duyên" dân tộc Việt Nam đau thương  
"trầm luân" trong nỗi nhục mất nước  ở cõi "Sha­ bà" mà xuống cứu khổ cứu nạn.  
Ngày nay, trong Phật giáo và trong xã hội Việt Nam, tên Hồ  Chí Minh được gán 

giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[77, tr.2].
Truyền bá giáo lý, giáo luật  (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền 
những lý lẽ  về  sự  ra đời, về  luật lệ  tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo,  
niềm tin tôn giáo của tín đồ  được củng cố, luật lệ  của tôn giáo được các tín đồ 
thực hiện. Còn người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ  hiểu, tin 
và theo tôn giáo. Vậy, hoạt động truyền đạo chính là để củng cố  và phát triển tín  
đồ. Tất nhiên, việc truyền đạo phải tuân thủ  các quy định của pháp luật và nội  
dung, phương pháp truyền đạo phải đúng với giáo lý của tôn giáo đó.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, 
chức sắc, nhà tu hành tôn giáo thể  hiện sự  tuân thủ  nghiêm ngặt những quy định, 
phép tắc, thoả mãn đức tin tôn giáo của cá nhân hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tôn giáo là các tổ  chức, giáo hội tôn giáo thực hiện các 
quy định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm 
bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Trong các hoạt động đó, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo 
với hoạt động hành đạo cũng chỉ  là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt  
động hành đạo có hoạt động truyền đạo.
Từ  đó chúng ta thấy, chủ  thể  QLNN về  tôn giáo  nếu theo nghĩa rộng của 
khái niệm, thì đó là các cơ  quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và  
tư  pháp; còn theo  nghĩa hẹp, nó chỉ  gồm các cơ  quan nhà nước thuộc hệ  thống 
hành pháp các cấp.


15
Còn khách thể  QLNN đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn giáo của các tổ 
chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.  Là công dân Việt Nam, tín đồ, 
chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm chung của người Việt 
Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng riêng của người có đạo. 
Chúng tôi, trong luận văn này thường dùng khái niệm “QLNN đối với tôn 
giáo”, hoặc “QLNN về  tôn giáo”, khi đó được hiểu là “QLNN đối với các hoạt  

Tiếp nữa, người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo cũng phải nắm 
vững đặc điểm của tổ chức tôn giáo. Đó là: Tổ chức tôn giáo điều hành các hoạt 
động tôn giáo; đại diện cho tín đồ trong quan hệ với Nhà nước và với các tổ chức  
khác có liên quan. Mỗi tôn giáo có bộ  máy tổ  chức riêng, hoạt động theo hiến  
chương, điều lệ của mình. Các tôn giáo có tư cách pháp nhân đều thể hiện đường 
hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Đa số  các tổ  chức tôn giáo có  
liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài. 
Ngoài ra, khách thể QLNN về tôn giáo còn có cả cơ sở vật chất phục vụ các 
sinh hoạt tôn giáo. Trong đó, cơ sở thờ tự không đơn giản chỉ là một thực thể vật  
chất, mà còn bao hàm ý nghĩa thiêng liêng, hội họp, văn hóa... Còn đồ  dùng việc  
đạo như kinh sách, tượng thờ, tranh ảnh, hoành phi, câu đối, lư hương, chuông mõ,  
nhạc cụ,…mỗi thứ có chức năng, công dụng riêng trong sinh hoạt tôn giáo, nhưng 
đều có đặc điểm là có giá trị  vật chất và có ý nghĩa biểu đạt. Ngoài ra, phục vụ 
cho sinh hoạt tôn giáo cộng đồng còn có vườn hoa, trường học, nhà dòng, cơ sở từ 
thiện, nhà trẻ, bệnh xá,… Nó là tài sản của giáo hội và là nơi diễn ra các hoạt  
động tôn giáo, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao cho 
tổ chức tôn giáo quản lý.
Như vậy, việc nắm chắc những đặc điểm của khách thể quản lý là một yêu  
cầu tiên quyết đối với chủ  thể  quản lý, giúp cho công tác QLNN về  tôn giáo có 
hiệu lực mạnh và hiệu quả cao.
Một vấn đề khác cũng cần nhận thức rõ, đó là vấn đề pháp nhân và thể nhân 
tôn giáo.  Pháp nhân tôn giáo,  đó  là bộ  máy tổ  chức tôn giáo đã được Nhà nước  


17
công nhận. Còn thể nhân tôn giáo, đó là cá nhân tôn giáo (tín đồ) được tổ chức tôn giáo 
công nhận.
1.1.2.2. Tính tất yếu tăng cường QLNN đối với tôn giáo 
Vì sao phải tăng cường công tác QLNN đối với tôn giáo, việc này được xuất 
phát từ các lý do khách quan và cơ bản.

Vì thế vừa qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, ở  nội 
dung tôn giáo, Báo cáo chính trị đã nêu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật  
về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị 
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ  chức tôn giáo, chức  
sắc, tín đồ  sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây  
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo  
sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ  của các tổ  chức tôn giáo đã được nhà nước 
công nhận, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời chủ  động phòng ngừa, kiên 
quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia  
rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc” [33, tr.245].
Còn trong Cương lĩnh xây dựng đất nước ­ bổ  sung, phát triển, năm 2011, 
khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín  
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Đấu tranh và xử  lý 
nghiêm đối với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín 
ngưỡng tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [33, tr.81].
Theo đó, quan điểm về vấn đề tôn giáo tại đây có những điểm mới là  “Tiếp 
tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về  tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan  
điểm của Đảng”; “quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ  chức tôn giáo sinh  
hoạt theo hiến chương, điều lệ  của các tổ  chức tôn giáo đã được nhà nước công 
nhận, đúng quy định của pháp luật”. 
Từ đó, công tác QLNN về tôn giáo, từ mục tiêu, nguyên tắc và nội dung cho 
đến phương pháp, cần phải được xác định rõ và bổ  sung cho phù hợp với quan 
điểm của Đảng. Về mục tiêu, theo chúng tôi, đó là:


19
Thứ  nhất, QLNN đối với tôn giáo trước hết phải bảo đảm được quyền tự 
do tín ngưỡng, tôn giáo và tự  do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, để  các 
hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường, theo hướng tuân thủ  pháp luật.  
Rằng: “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi  

­ Về hoạt động in ấn, xuất bản, phát hành các ấn phẩm tôn giáo;
­ Quản lý việc kinh doanh, xuất, nhập khẩu kinh sách tôn giáo và đồ  dùng 
việc đạo; 
­ Quản lý việc mở trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng những người hoạt động 
tôn giáo chuyên nghiệp, giải thể trường đào tạo;
­ Quản lý việc quyên góp; hoạt động từ  thiện nhân đạo của các tôn giáo; 
­ Quản lý việc quan hệ quốc tế của các tổ chức và cá nhân tôn giáo; 
­ Quản lý về việc đình chỉ hoạt động tôn giáo.
Những nội dung quản lý như  trên được quy định tại Pháp lệnh tín ngưỡng,  
tôn giáo và trong Nghị  định số  22/2005/NĐ­CP. Tuy nhiên cho đến nay, nó đã và 
đang có nhu cầu phải bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Về vấn đề này, chúng tôi  
sẽ đề cập ở các chương sau.
QLNN đối với tôn giáo có một số phương pháp chủ yếu được áp dụng như:  
Phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh 
tế, phương pháp cưỡng chế và phương pháp tổng hợp.
Như vậy, QLNN đối với tôn giáo là tất yếu, không chỉ ở nước ta mà còn đối 
với các nước khác. Tuy nhiên, về  mục đích, nội dung cụ  thể  của QLNN về  tôn 
giáo cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn. Vậy, chủ thể quản lý cần nắm vững quan 
điểm lịch sử cụ thể để công tác này có hiệu quả, hiệu lực cao nhất.
1.2. TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở BẮC NINH

1.2.1. Một số đặc điểm của tỉnh Bắc Ninh liên quan đến tôn giáo
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ 
sông Hồng, liền kề  với thủ  đô Hà Nội. Phía Bắc Bắc Ninh giáp tỉnh Bắc Giang,  
phía  Nam   giáp   tỉnh  Hưng  Yên  và   một  phần  Hà  Nội,  phía  Đông  giáp  tỉnh  Hải 
Dương và phía Tây giáp thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự  phát  
triển toàn diện trên các lĩnh vực xã hội và cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua 




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status