ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DƯƠNG NGỌC KIÊN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Hà Nội, tháng 10/ 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Dương Ngọc Kiên
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 5
4. Phạm vi nghiên cứu 6
5. Địa bàn nghiên cứu 6
6. Câu hỏi nghiên cứu 6
7. Giả thuyết nghiên cứu 6
8. Phương pháp nghiên cứu 7
9. Kết cấu của Luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC TÔN GIÁO
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 9
1.1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo 9
1.1.1. Những khái niệm 9
1.1.2. Cơ sở pháp luật, mục đích, nội dung, phương pháp quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo 177
1.2. Khái lược về các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội 244
1.2.1. Khái quát tình hình tôn giáo Thành phố Hà Nội 244
1.2.2. Đường hướng hoạt động của các tôn giáo 277
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của chức sắc, tín đồ 1055
3.2.2. Nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và đội ngũ cán bộ
làm công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo 11111
3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tại các vùng
đồng bào có đạo trọng điểm 1177
3.2.4. Kiện toàn bộ máy làm công tác tôn giáo các cấp từ cấp Thành
phố đến cấp xã 1233
3.2.5. Phát triển kinh tế, nâng cao trình độ dân trí trong đồng bào có đạo1288
* Tiểu kết chương 3 13131
KẾT LUẬN 13232
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1366
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều sự
động viên và giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tổ chức. Tôi vô cùng biết ơn
tất cả!
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS. Nguyễn
Thanh Xuân,
người hướng dẫn khoa học tận tình và chu đáo trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học KHXH&NV, Phòng Sau Đại học
đã giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành chương
trình Thạc sỹ này.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến các thầy, cô trong Khoa Khoa học
quản lý, Trường Đại học KHXH&NV đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong
quá trình học tập.
từ đó, ảnh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội Thủ đô. Mặt khác, những động
thái tôn giáo ở Hà Nội có quan hệ trực tiếp đến động thái tôn giáo cả nước.
Sau hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc hội, thành phố Hà Nội
được mở rộng về diện tích bao gồm: thành phố Hà Nội (cũ), toàn bộ diện tích
của tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 04 xã thuộc huyện Lương
Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thành phố Hà Nội được mở rộng có diện tích 3.324,92 km²
(nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới), dân số 6.232.940 người, tại 29 quận,
huyện, thị xã; 580 xã, phường, thị trấn (gồm: 154 phường, 404 xã và 22 thị trấn).
Theo đó, các tổ chức tôn giáo và số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự của các
tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng tăng lên cả về số lượng cũng như
mức độ phức tạp trong công tác quản lý.
Hiện nay, Hà Nội có 7 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận tư
cách pháp nhân là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Baha’i,
Minh sư đạo; đồng thời, còn tồn tại một số hiện tượng tôn giáo khác (đạo lạ)
như: Long hoa Di lặc, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Bạch Chân Không, Thanh Hải
Vô thượng sư, Pháp luân công, Pháp môn Diệu âm… Các Tín ngưỡng dân gian
2
có: 5211 di tích đình, đền, nhà thờ họ, lăng, miếu, …. Trong đó, di tích được xếp
hạng: cấp Quốc gia khoảng 1.200 di tích; cấp Thành phố khoảng 900 di tích.
Trong những năm gần đây, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo đã đáp ứng về cơ bản nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của
chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động của một số tổ chức tôn giáo, chức sắc
tôn giáo có nhiều diễn biến phức tạp, không tuân thủ các quy định của pháp luật.
Mặt khác, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo vẫn còn
có một số hạn chế. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, Đảng viên về chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo còn có sự bất cập, thiếu
nhất quán tạo mâu thuẫn trong công tác quản lý, gây bức xúc trong nhân dân
và đồng bào có đạo.
giới và trong nước; đổi mới quản lý nhà nước đối với tôn giáo trong thời kỳ
đổi mới
- Mai Thanh Hải (1998), Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam,
Nxb.CAND và TS.Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam,
Nxb.Tôn giáo, tuy là hai cuốn sách của hai tác giả khác nhau, nhưng về cơ bản
đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về lịch sử, giáo lý, cơ cấu
tổ chức của các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam.
- GS.Đặng Nghiêm Vạn (2012), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn
giáo ở Việt Nam, Nxb.Chính trị, là cuốn sách cung cấp những kiến thức căn
bản và quan trọng về lý luận tôn giáo học mác-xít đồng thời người đọc có thể
nhìn nhận được khái quát thực trạng một số tôn giáo ở Việt Nam.
- GS.TS Đỗ Quang Hưng (2003) với hai cuốn sách: Nhà nước và giáo
hội và Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ nhà nước và giáo hội, Nxb.Tôn giáo,
4
tác giả đã lý giải sâu sắc về vai trò, chức năng và mối quan hệ của nhà nước
thế tục đương đại đối với tổ chức giáo hội các tôn giáo và Vấn đề tôn giáo
trong cách mạng Việt Nam- lý luận và thực tiễn,Nxb Lý luận chính trị;
Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo; PGS. TS Ngô Hữu Thảo- chủ
nhiệm đề tài(1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ
mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ; PGS. TS
Hoàng Minh Đô- Chủ nhiệm đề tài (2002), Đạo Tin lành ở Việt Nam-
Thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra hiện nay trong
công tác lãnh đạo, quản lý, thuộc đề tài độc lập cấp nhà nước,…
- PGS.TS Hoàng Minh Đô (2007), Dòng tu Công giáo ở nước ta hiện
nay và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước. Đề tài cấp Bộ,
Viện Nghiên cứu tôn giáo và tín ngưỡng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh. Đề tài đã trình bày rõ thực trạng, phân tích những vấn đề đặt ra và đề
có một phần đề cập đến hoạt động của các tôn giáo và công tác quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội) hiện lưu
trữ tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn
giáo – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin – Ban
Tôn giáo Chính phủ Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn
diện về hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội trên phương
diện quản lý nhà nước. Tuy nhiên, các công trình trên sẽ được sử dụng như tài
liệu tham khảo trực tiếp, kế thừa bổ ích cho quá trình thực hiện Luận văn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các
tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua. Từ đó, đề xuất giải pháp
6
nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu trên phương diện quản lý nhà nước của
chính quyền và hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội đối với hoạt động của
các tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Minh sư
đạo trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay.
5. Địa bàn nghiên cứu
Luận văn tập trung vào một số địa bàn trọng điểm về hoạt động của các
tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo như
quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa, thị xã Sơn Tây, huyện Sóc Sơn, huyện Từ Liêm.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận diện khái quát hoạt động của một số tôn giáo trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn
giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm gần đây như thế nào?
Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Làm thế nào để nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước
Nội là việc cần thiết về lý luận và có tính ứng dụng thực tiễn cao.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về
tôn giáo và quản lý hành chính nhà nước về tôn giáo.
- Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn thường đối với một số cán
bộ làm công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo tại các địa
bàn trọng điểm về tôn giáo như: quận Hoàn Kiếm, quận Đống Đa, thị xã Sơn
8
Tây, huyện Sóc Sơn, huyện Từ Liêm. Đồng thời, luận văn còn sử dụng
phương pháp quan sát, thống kê, tổng hợp, phân tích tài liệu, tổng kết thực tiễn.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ
KHÁI QUÁT VỀ CÁC TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.1. Những khái niệm
* Quản lý: Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người,
trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng những phương
pháp và công cụ khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý một cách hiệu
quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường.
Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng:
- Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, đó là
* Nhà nước: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị,
một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng
quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai
cấp thống trị trong xã hội.
- Đặc điểm của nhà nước: Các nhà nước trong lịch sử có sự khác nhau
về bản chất, nhưng đều có đặc điểm chung. Những đặc điểm của nhà nước
cho phép phân biệt nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội do giai cấp
thống trị tổ chức ra.
Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, thiết
lập một quyền lực công cộng đặc biệt tách ra khỏi xã hội (không hòa nhập vào
dân cư như xã hội nguyên thủy), đó là quyền lực nhà nước. Để thực hiện
quyền lực này và quản lý xã hội, nhà nước tạo ra lớp người chuyên làm nhiệm
vụ quản lý, họ được tổ chức thành các cơ quan và hình thành nên bộ máy
11
cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, buộc các giai
cấp và tầng lớp dân cư trong xã hội phải phục tùng ý chí giai cấp thống trị.
Nhà nước quản lý dân cư theo lãnh thổ, phân chia lãnh thổ thành các
đơn vị hành chính. Việc phân chia này không phụ thuộc huyết thống, chính
kiến, nghề nghiệp, giới tính Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước với
các tổ chức chính trị xã hội khác. Trong thiết chế chính trị xã hội thì chỉ nhà
nước mới xác lập lãnh thổ của mình và chia lãnh thổ đó thành các bộ phận
cấu thành nhỏ hơn: thành phố, tỉnh, huyện, xã
Nhà nước có chủ quyền quốc gia thể hiện ở quyền tự quyết của Nhà
nước về tất cả các vấn đề của chính sách đối nội và chính sách đối ngoai,
không phụ thuộc quyền lực bên ngoài. Trong thiết chế chính trị - xã hội, nhà
nước là tổ chức duy nhất có chủ quyền quốc gia. Đây là thuộc tính không thể
tách rời của nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý bắt buộc với mọi
công dân. Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật, nhà
Ăngghen đã chỉ rõ tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh thần thánh hóa
những lực lượng trần thế áp bức con người trong sinh hoạt hàng ngày. Trong
tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ăngghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua
là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những lực lượng ở bên ngoài chi
phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực
lượng trần thế đã mang hình thức siêu trần thế”[73,2].
Sau Mác - Ăngghen, nhiều nhà khoa học khác cũng đã nêu lên những
định nghĩa về tôn giáo xuất phát từ quan điểm của mình. Từ góc độ thế giới
quan, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội; từ góc độ tâm lý học, tôn giáo là
một dạng biểu hiện đặc thù của tình cảm thành tín ngưỡng; từ góc độ xã hội
13
học và chính trị học, tôn giáo là một thể chế trong cơ cấu xã hội; từ góc độ
nhận thức luận, tôn giáo là hệ thống nhận thức dưới hình thức niềm tin không
cần kiểm chứng; từ góc độ thể chế, tôn giáo là những cộng đồng người có
chung một tín ngưỡng nhất định.
Tất cả các định nghĩa đều tiến tới một quan niệm phổ quát nhất về tôn
giáo: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thể hiện trong những quan niệm
của con người (hay nhóm người) dưới dạng niềm tin vào một sức mạnh siêu
nhiên tự nhiên hay là những nhân vật được thần thánh hóa, thể hiện bằng
những nghi thức, sinh hoạt nhất định, giống nhau của từng thành viên trong
nhóm đó.
Từ góc độ khoa học quản lý, tôn giáo là một hoạt động được tổ chức
chặt chẽ, nó là tổng hợp những yếu tố liên quan đến con đường thỏa mãn
những nhu cầu tín ngưỡng của con người. Để nhận thức tôn giáo đúng với
những hoạt động, những sức mạnh của niềm tin, của thể chế bên trong các tôn
giáo cụ thể, cần nhìn nhận tôn giáo bao gồm các yếu tố: giáo lý, giáo luật,
giáo lễ và giáo hội.
* “Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ
thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được
cách có ý thức dưới một hình thức tổ chức xã hội đạt trình độ cao - Nhà nước.
Quản lý nhà nước đề cập đến sự tác động của nhiều tác nhân đến xã hội thông
qua nhà nước. Các tác nhân này bao gồm nhà nước, các tổ chức xã hội, các
cộng đồng, nhóm người, thậm chí cả cá nhân công dân. Trong đó, nhà nước là
tác nhân chủ yếu giữ vai trò trung tâm. Xuất phát từ những cơ sở đó ta có thể
thấy được quản lý nhà nước là sự tác động, điều chỉnh có tổ chức bằng quyền
lực đối với các quá trình và quan hệ xã hội, các hành vi của các cộng đồng,
các tổ chức và cá nhân trong xã hội nhằm duy trì trật tự, củng cố và bảo vệ
quyền lực của chủ thể cầm quyền, phục vụ sự phát triển xã hội theo mục đích
của chủ thể đó, song có tính đến nhu cầu của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác
trong mức độ không làm ảnh hưởng lớn đến mục tiêu của thể chế cầm quyền.
15
Quản lý nhà nước không thể thiếu trong một xã hội tồn tại các giai cấp
và nhà nước bởi vì nhà nước là một thiết chế chính trị - xã hội vừa có nhiệm
vụ trấn áp các giai cấp đối lập với giai cấp cầm quyền (thực hiện chức năng
thống trị chính trị giai cấp), vừa có nhiệm vụ tổ chức quản lý mọi mặt của đời
sống xã hội (thực hiện chức năng xã hội). Tất cả các nhà nước đều thực hiện
chức năng xã hội bởi vì có tổ chức, quản lý tốt xã hội mới duy trì được quyền
lực chính trị và bảo vệ được sự thống trị của giai cấp cầm quyền đối với toàn
thể xã hội.
Quản lý nhà nước được đặc trưng bởi việc sử dụng pháp luật, tính đơn
phương mệnh lệnh, tính khoa học và tính kế hoạch cao, tính liên tục, tính toàn
diện và tổng hợp, tính thống nhất và vĩ mô đối với xã hội. Những đặc trưng
này giúp các nhà nghiên cứu, nhà khoa học tránh được sự lầm lẫn giữa quản
lý nhà nước và quản lý của các tổ chức khác.
Có thể hiểu quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp
của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà
nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con người và các quá
trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung
phương pháp, các thủ pháp giải quyết, dàn xếp từng trường hợp cụ thể như là
tính nghệ thuật thì quản lý phải là hướng ưu tiên. Có nghĩa là không giống với
các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo lấy việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục là chính chứ
không lấy việc thực hiện quản lý mang tính mệnh lệnh đơn phương một chiều
làm chủ đạo. Người làm công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn
giáo phải đảm bảo được đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà
nước, đảm bảo đời sống tín ngưỡng của nhân dân phát triển bình thường và
17
thể hiện được quan điểm ở Việt Nam hiện nay, Sự phát triển của tôn giáo phải
gắn bó đồng thời với sự phát triển của đất nước, của dân tộc.
1
1.1.2. Cơ sở pháp luật, mục đích, nội dung, phương pháp quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo
- Cơ sở pháp luật của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo: Trong những năm gần đây, Nhà nước ta tiến hành đổi mới toàn diện
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, vấn đề quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là những chính sách
xã hội quan trọng có tính đặc thù. Tuy nhiên các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam vẫn trước sau như một, chủ trương thi hành nhất quán chính
sách tôn giáo, kế thừa những nhân tố hợp lý trong các chủ trương trước đó
nhưng đồng thời cũng có những sự bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình
mới, thời đại mới cũng như những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Tháng 10 năm 1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24 đề cập công tác
tôn giáo trong tình hình mới. Ngày 2/7/1998, Bộ Chính trị ra tiếp chỉ thị 37-
CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, định hướng các hoạt động
quản lý của Nhà nước và vận động của các tổ chức xã hội trong công tác tôn
nhà đất có liên quan đến tôn giáo
Đảng ta khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tất yếu khách quan
trong đời sống của một bộ phận quần chúng nhân dân nên Đảng luôn nhất
quán thực hiện chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Người theo đạo có quyền sinh hoạt tôn
giáo bình thường theo pháp luật, các tôn giáo được hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật và được đối xử bình đẳng.
Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết
đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo. Mọi người dân Việt Nam dù thuộc dân tộc nào,