MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thực
thể xã hội, ra đời và phát triển từ cả ngàn năm nay. Từ khi ra đời, tôn giáo đã
trải qua những thăng trầm và không ngừng biến đổi theo sự biến đổi của tồn
tại xã hội, nhưng chung nhất, nó luôn là một nhu cầu tinh thần của đa số nhân
loại. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đến tập quán của nhiều quốc gia, của các
tộc người trong một quốc gia, theo cả các chiều: tích cực và tiêu cực. Những
năm gần đây, tôn giáo trên thế giới không chỉ phục hồi và phát triển, đáp ứng
nhu cầu tâm linh của con người, mà còn làm nảy sinh không ít cuộc xung đột
giữa các dân tộc trong một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau.
Ở Việt Nam cũng vậy, là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng,
tôn giáo đang có xu hướng phát triển mạnh, đến nay - năm 2011, Nhà nước ta
đã công nhận tư cách pháp nhân cho 13 tôn giáo, với 33 tổ chức Giáo hội.
Trong đó, các tôn giáo bản địa (nội sinh) và các tôn giáo được du nhập từ
nước ngoài vào (ngoại sinh) đều được tạo điều kiện bình đẳng hoạt động theo
pháp luật. Tình hình đó như là sự phản ánh về quá trình đất nước đổi mới,
Việt Nam đã có sự phát triển khá mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân được cải thiện
rõ rệt, vì thế tôn giáo càng được khẳng định rõ hơn, là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân.
Nhưng, bên cạnh những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội lành
mạnh, tuân thủ pháp luật, thì vẫn còn có hiện tượng một số người lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, mê hoặc nhân dân, cao hơn,
phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Trước tình hình đó, công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo càng cần phải được tăng cường, không
chỉ trên bình diện vĩ mô mà còn ở các khu vực, các địa phương trong cả nước.
1
nổi lên một số vấn đề có tính phức tạp. Đó là, hoạt động mê tín, dị đoan diễn
ra khá phổ biến; một số cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa tuân thủ các quy định
của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Di sản và của các quy định của tỉnh.
Khi xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức tôn giáo vẫn thiếu hồ sơ xin
phép; triển khai khi chưa được sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền.
Tình hình khiếu kiện đòi lại đất đai, cơ sở cũ của giáo hội còn tiềm ẩn dấu
hiệu phức tạp; hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép và các đạo lạ trên địa
bàn tỉnh vẫn xảy ra.
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh
những năm qua đã có nhiều tiến bộ, đạt được một số kết quả nhất định.
Nhưng bên cạnh đó, công tác này cũng còn một số hạn chế, như: Một bộ phận
cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với tôn giáo còn hời hợt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn thiếu
tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn
kéo dài, gây tâm trạng phản cảm cho quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo.
Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền
nhiều lúc, nhiều nơi còn cứng nhắc.
Từ thực tế tình hình trên, tôi chọn để tài: “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, để làm tiểu luận kết
thúc môn học Quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu.
2.Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo trong thời gian
qua đã có nhiều công trình nghiên cứu. Đó là: “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền
Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển; "Một số vấn đề cấp
bách trong quản lý tôn giáo ở một số tỉnh phía Bắc" của GS.TS Đỗ Quang
Hưng; “Mác-Angghen về tôn giáo” của PGS. Nguyễn Đức Sự chủ biên); “
Một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo Việt Nam” của GS. Đặng
động tôn giáo.
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh
Bắc Ninh hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản
lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh
5
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO.
1.1. Tôn giáo và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
1.1.1. Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo, theo tiếng Latinh (Religare) có nghĩa là sự nối liền với cái tột
cùng, như sự gắn bó với Chúa, với Thượng đế; hoặc được hiểu là sự phản ánh
mối quan hệ giữa con người với thần thánh; giữa thế giới vô hình với thế giới
hữu hình; giữa cái thiêng liêng với cái trần tục.
Theo quan điểm mác-xít, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã
hội mà còn là một thực thể xã hội. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,
tôn giáo phản ánh hư ảo tồn tại xã hội, có kết cấu gồm: Tâm lý, tình cảm,
niềm tin và hệ tư tưởng tôn giáo. Còn với tính cách là một thực thể, hay một
hiện tượng xã hội, tôn giáo thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, được quy định
bởi hạ tầng cơ sở xã hội. Cụ thể hơn, tôn giáo ra đời từ 3 nguồn gốc: Kinh tế xã hội, nhận thức và tâm lý. Là một hiện tượng xã hội, kết cấu của tôn giáo
bao gồm cả yếu tố vật chất và tinh thần, mà thông thường là các yếu tố: ý thức
(giáo lý), nghi lễ, luật lệ và tổ chức.
1.1.2. Khái niệm “Quản lý nhà nước”
Khái niệm “quản lý nhà nước” được hiểu ở cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước,
giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng qui định của pháp luật.
Theo đó, Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo ở cả 2 nghĩa rộng, hẹp,
đều tập trung, trước hết và chủ yếu là quản lý các “hoạt động tôn giáo”. Cụ
thể hơn, đó là các hoạt động tôn giáo liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động đó là gì ? Về việc này, tại khoản 5,
điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã nêu: “Hoạt động tôn giáo là việc
truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn
giáo”[77, tr.2].
7
Từ đó chúng ta thấy, chủ thể Quản lý Nhà nước về tôn giáo nếu theo
nghĩa rộng của khái niệm, thì đó là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập
pháp, hành pháp và tư pháp; còn theo nghĩa hẹp, nó chỉ gồm các cơ quan nhà
nước thuộc hệ thống hành pháp các cấp.
Còn khách thể Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo, đó là hoạt động tôn
giáo của các tổ chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành. Là công dân
Việt Nam, tín đồ, chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang những đặc điểm
chung của người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc trưng
riêng của người có đạo.
1.2. Tính tất yếu tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động
tôn giáo.
Vì sao phải tăng cường công tác Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo,
việc này được xuất phát từ các lý do khách quan và cơ bản.
Thứ nhất, hoạt động tôn giáo có liên quan đến tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội, do đó, với chức năng quản lý xã hội của mình, để đảm bảo
cho xã hội ổn định, phát triển bình thường, tất yếu Nhà nước phải tăng cường
quản lý các hoạt động tôn giáo.
Thứ hai, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo diễn ra trên tất cả các
trong sáng, tránh không cho những trường hợp nhập cư với mục đính hay
động cơ nhằm trốn tránh không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay
thực hiện một số nghĩa vụ công dân, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
Đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn giáo
khác.
Nội dung này được Nhà nước khá chú trọng bởi mỗi năm ở khắp trong
và ngoài nước diễn ra rất nhiều những nghi lễ cũng như hoạt động tôn giáo.
Cụ thể Nhà nước hướng dẫn các chức sắc tôn giáo nắm vững và thực hiện
đúng các quy định của Nhà nước về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo, về
việc cử các chức sắc hoặc các đoàn tôn giáo ra nước ngoài, hay đón các đoàn
tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được in, xuất bản
các loại sách kinh, các ấn phẩm tôn giáo, các ấn phẩm tôn giáo, đồ dung việc
9
đạo. Quy định này giúp các tôn giáo có thể truyền bá một cách đầy đủ về tổ
chức tôn giáo của mình, đồng thời giúp công dân dể dàng tiếp cận, tìm hiểu
và gia nhập các tôn giáo theo nguyện vọng của mình.
Đối với hoạt động quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, nhà tu
hành, chức sắc
Theo quy định, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có
quyền thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế theo quy định của hiến
chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ chức tôn giáo phù hợp với pháp luật Việt
Nam. Để tránh những cá nhân hay tổ chức tôn giáo lợi dung danh nghĩa để
làm những việc ảnh hưởng đến Nhà nước, nội dung này trong những năm gần
đây được đặc biệt quan tâm, Nhà nước thực hiện hướng dẫn các chức sác tôn
giáo nắm vững và thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về hoạt động
đối ngoại của các tôn giáo, đồng thời cử các chức sắc hoặc các đoàn tôn giáo
ra nước ngoài hoặc đón các đoàn tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam.
Một là, nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do
không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì
lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn
giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân.
Ba là, các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của nhà n ước
Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Bốn là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tí n ngưỡng, tôn giáo, mọi
hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước Việt Nam, ngăn
cản tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân,
làm tổn hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị
đoan đều bị xử lý theo pháp luật.
11
Chương 2.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TÔN GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY
2.1. Một vài nét khái quát về tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông
Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh tiếp giáp với
vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Thành phố Bắc Ninh nằm cách
trung tâm Hà Nội 30km về phía đông bắc. phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà
Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông và đông namgiáp tỉnh Hải
Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này
thuộc vùng Thủ đô. Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn
Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh trong những năm qua cũng không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại
nhất định và cần được khắc phục kịp thời. Sau đây là một số hạn chế:
- Về mặt nhận thức còn nhiều hạn chế bất cập:
Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền chủ trương chính
sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, nhưng hiện nay trên địa bàn
tỉnh vẫn còn một số tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể, và một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ và thống nhất
về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo.
Trên thực tế ở một số nơi có một bộ phận cán bộ đảng viên vẫn có tư
tưởng bảo thủ hẹp hòi, cứng nhắc và còn mang nặng định kiến, mặc cảm với
tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Bên cạnh đó, có nơi vẫn còn tồn tại tình trạng lơ
là, buông lỏng quản lý, mất cảnh giác tạo sơ hở và bị lợi dụng. Đơn cử như
trường hợp của Ông Lý Tiến Lưu, dân tộc Dao, tín đồ theo đạo Tin lành thuộc
Hội thánh Tin lành Từ Sơn, do sơ hở trong công tác quản lý, năm 1988 khi
đang là Trưởng ban trị sự Hội thánh Tin lành Từ Sơn, ông Lý Tiến Lưu đã
theo học lớp giảng sư của trường Kinh Thánh ở Hà Nội. Khi địa phương phát
hiện việc đi học trái phép của ông Lý Tiến Lưu như: Không xin phép địa
13
phương, trình độ văn hóa thấp (học hết lớp 7/ 10), đã quá tuổi qui định, chưa
hoàn thành nghĩa vụ quân sự,…Trong quá trình học tập ông Lưu bị Công an
thành phố Hà Nội trục xuất về nhiều lần, nhưng ông Lý Tiến Lưu vẫn cố tình
theo học.
Đến tháng 6/1999 sau khi học song ông Lý Tiến Lưu nhiều lần gửi đơn
lên các cấp chính quyền đề nghị công nhận là giảng sư nhưng không được
chấp nhận, từ đó ông Lý Tiến Lưu tỏ thái độ bất bình với chính quyền và tiến
hành nhiều hoạt động tôn giáo trái phép [62, tr.2].
Chính những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến việc xử lý các vấn đề
hóa tôn giáo… có xu hướng ngày càng tăng, có nguy cơ xâm nhập ngày càng
sâu vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại một số cơ sở thờ tự, nhất là các
đình, chùa. Điều đó gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt tín ngưỡng,
tôn giáo lành mạnh của quần chúng nhân dân trên địa bàn.
Công tác xây dựng cơ sở chính trị trong vùng giáo còn gặp nhiều khó
khăn. Mặc dù Qui định số 123-QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Ban chấp hành
Trung ương Đảng qui định Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có
đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo đã ban hành và đưa vào
thực hiện được gần hai năm nhưng kết quả công tác phát triển đảng trong
vùng tôn giáo còn chưa cao.
Công tác giáo dục nhận thức về chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước cho quần chúng tín đồ các tôn giáo nhiều nơi còn chưa được quan
tâm đúng mức. Trên mặt trận văn hóa- tư tưởng hầu như còn bỏ ngỏ, các
phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh còn có xu hướng e dè, ít đề cập đến
vấn đề tôn giáo. Đài phát thanh - truyền hình Bắc Ninh phát 30 phút chương
trình phát thanh bằng tiếng dân tộc trong một ngày và một tháng có 02
chương trình truyền hình dân tộc bằng tiếng Dao, tuy nhiên diện phủ sóng còn
hạn hẹp, hiệu quả tuyên truyền đến với đồng bào còn hạn chế. Trong khi đó
hàng ngày Đài phát thanh “Nguồn sống” (Cơ quan ngôn luận của Giáo hội
Tin lành châu á, phát sóng tại Philippin). Ngoài ra công tác tranh thủ, xây
dựng lực lượng cốt cán trong chức sắc, tín đồ các tôn giáo còn nhiều hạn chế.
15
Với những hạn chế trên đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác vận
động quần chúng tín đồ các tôn giáo và công tác xây dựng lực lượng chính trị
trong vùng tôn giáo tập trung của tỉnh Bắc Ninh.
- Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo của một số
ngành và một số địa phương còn nhiều sơ hở, buông lỏng và hạn chế:
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Bắc Ninh trong
những năm qua còn tồn tại một số hạn chế như đã trình bày ở phần trên,
những hạn chế đó do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, sự bất cập, hạn chế trong nhận thức về tôn giáo và chính sách
tôn giáo.
Bắc Ninh có 3 tôn giáo chính, đó là Phật giáo, Công giáo và Tin lành.
Trong những năm qua, tín đồ các tôn giáo luôn hành đạo theo phương châm
“kính Chúa, yêu nước”, “sống tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt mọi chủ trương
đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, có nhiều đóng góp
cho sự phát triển chung của tỉnh nhà.
Các tôn giáo đã có quá trình tồn tại và phát triển khá lâu ở Bắc Ninh,
tuy nhiên đến nay vẫn còn một số cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân
không hiểu biết về hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn. Hiện nay đường
hướng hoạt động của các tôn giáo là tích cực gây thanh thế, phát triển tín đồ,
vì vậy nhiều hoạt động truyền đạo trái phép đã diễn ra trên địa bàn.
Ngoài ra, công tác tuyên truyền phổ biến quan điểm đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo trong đội ngũ cán
bộ đảng viên chưa sâu rộng. Một bộ phận cán bộ đảng viên còn chưa nắm rõ
chủ trương chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước, chưa hiểu rõ những
qui định cụ thể về đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện
nay, nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Chính vì vậy mà công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không thể đạt hiệu quả cao được.
Hai là, sự phối hợp của các cơ quan làm công tác tôn giáo, quản lý
nhà nước về hoạt động tôn giáo còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ.
Việc phân công, phân cấp trách nhiệm cho các cơ quan làm công tác
tôn giáo còn thiếu rõ ràng cụ thể, còn có sự chồng chéo hoặc buông lỏng quản
17
lý; Các ngành quản lý nhiều khi chưa hiểu biết sâu sắc về chính sách tôn
Trong những năm qua mặc dù đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở
tỉnh đã được tăng cường nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác
quản lý về hoạt động tôn giáo hiện nay trên địa bàn.
Tình trạng tồn tại hiện nay là cán bộ làm công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo còn yếu về năng lực, trình độ, hầu hết cán bộ chuyển
công tác từ các ngành khác đến, chưa qua đào tạo cơ bản về tôn giáo và công
tác tôn giáo. Thậm chí có người chậm đổi mới tư duy, ít hiểu biết về tôn giáo
nên có nhiều lúng túng trong thực thi nhiệm vụ.
Trong khi đó đội ngũ chức sắc các tôn giáo được đào tạo bài bản, kỹ
lưỡng, có trình độ học vấn và thần học cao, do đó cán bộ làm công tác tôn
giáo của ta ngại tiếp xúc với chức sắc các tôn giáo, điều đó làm hạn chế rất
nhiều đến công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
Hiện nay các huyện và thành phố trong tỉnh đã có phòng Dân tộc-Tôn
giáo, tuy nhiên cấp xã, phường, thị trấn là những nơi trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc
với tín đồ, chức sắc các tôn giáo thì đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đều
theo chế độ kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn
giáo cũng gặp một số khó khăn.
19
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN
GIÁO Ở TỈNH BẮC NINH.
3.1. Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách
nhiệm của Hệ thống Chính trị về công tác tôn giáo và Quản lý Nhà nước
đối với tôn giáo
Quan điểm của Đảng ta hiện nay cần phải được quán triệt sâu rộng trong
nhất, nếu như không nói là quyết định, đảm bảo sự thành công của công tác,
mà còn là sự động viên, chia sẻ lớn lao đối với cán bộ, chiến sỹ trực tiếp làm
công tác này.
Hiện nay, ở giải pháp này, đối với cán bộ, công chức làm công tác tôn
giáo của tỉnh Bắc Ninh cần khắc phục một số biểu hiện sau:
Một là, thái độ cứng nhắc định kiến do tư duy cũ để lại đã làm cho một
bộ phận tín đồ các tôn giáo thiếu sự tin tưởng vào đường lối, chính sách về tôn
giáo của Đảng và Nhà nước, tạo cơ sở cho các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo
tín đồ thực hiện âm mưu chống Đảng và Nhà nước ta.
Hai là, biểu hiện buông lỏng quản lí nhà nước, giải quyết công việc có
liên quan đến tôn giáo không thận trọng, không lường hết được hậu quả. Đây
cũng là cơ sở cho những hoạt động lợi dụng tôn giáo gây áp lực với chính
quyền.
Ba là, né trách giải quyết các vụ việc phức tạp có liên quan đến tôn giáo,
ngại va chạm, sợ trách nhiệm nên thường thoái thác đùn đẩy cho nhau gây hậu
quả cũng không kém các biểu hiện cứng nhắc và buông lỏng nêu trên.
3.2. Công tác Quản lý Nhà nước cần tăng cường, tập trung hơn nữa
tới các hoạt động có tính trọng điểm, phức tạp của tôn giáo trên địa bàn
Ban tôn giáo Sở Nội vụ là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện
chức năng Quản lý Nhà nước về tôn giáo, vậy trước hết có yêu cầu mọi cán bộ,
công chức của ban phải nắm chắc đường lối chủ trương của Đảng, chính sách,
21
pháp luật của Nhà nước về tôn giáo. Đây là việc làm rất cần thiết cho công tác
tôn giáo hiện nay cũng như lâu dài về sau.
Để tăng cường công tác Quản lý Nhà nước về tôn giáo, UBND các cấp
cần đầu tư hơn nữa các trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn cho ban,
các phòng Nội vụ. Đối với cán bộ, công chức chuyên làm công tác tôn giáo
hoạt động tôn giáo, từ đó có giải pháp kiên quyết, đúng pháp luật.
- Tăng cường công tác Quản lý Nhà nước các hoạt động đối ngoại
tôn giáo
Công tác này rất phù hợp và cần thiết đối với tình hình tôn giáo và hoạt
động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Vì thế, các cơ quan, đoàn thể thực
hiện chức năng Quản lý Nhà nước về tôn giáo cần chủ động trong công tác đối
ngoại tôn giáo phù hợp với xu thế chung của quốc tế và tình hình chính trị,
tôn giáo ở trong nước. Theo đó cần hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ
đối ngoại phù hợp với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đẩy mạnh
thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chính sách tôn giáo của Việt Nam và tình
hình các tôn giáo hiện nay, tạo điều kiện cho các tổ chức, chức sắc tôn giáo
tham gia các hoạt động đối ngoại tôn giáo đem lại lợi ích không chỉ cho mình
mình mà còn cho quốc gia, dân tộc và địa phương.
3.3. Công tác Quản lý Nhà nước cần quan tâm hơn đến công tác
vận động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo và xây dựng lực lượng
chính trị ở cơ sở
Khi Đảng cầm quyền, một trong những nguy cơ là cán bộ chính quyền
xem nhẹ công tác dân vận mà xa rời người dân, sẽ dẫn đến hậu quả làm Nhà
nước trở nên quan liêu hoá, còn Đảng thì mất uy tín. Chính vì thế, Thủ tướng
Chính phủ, năm 2000, đã ra Chỉ thị về tăng cường công tác dân vận đối với cán
bộ các cơ quan nhà nước . Theo tinh thần của Chỉ thị này, tất cả cán bộ, công
chức chính quyền phải làm và biết làm công tác dân vận. Cán bộ công chức làm
công tác Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo lại càng phải quán triệt nó ở tầm
cao nhất, vì “nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng”. Hơn nữa, từ vị trí là yếu tố cốt lõi của Hệ thống Chính trị, với chức năng
tham mưu cho Đảng về công tác tôn giáo, cơ quan, cán bộ Quản lý Nhà nước
23
đối với tôn giáo cũng cần hướng dẫn, giúp cho Mật trận Tổ quốc và các đoàn thể
Cần nghiêm khắc phê phán kịp thời những hành vi tôn giáo cực đoan
trái phép, lôi kéo quần chúng tín đồ gây rối, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp
luật của một số kẻ xấu lợi dụng, gây chia rẽ trong nhân dân làm ảnh hưởng
đến trật tự an ninh, an toàn xã hội.
Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền vận động chức sắc, nhà tu hành
Công tác vận động chức sắc, nhà tu hành cần tập trung vào:
- Thường xuyên thăm hỏi, động viên, nắm bắt nhu cầu nguyện vọng
của giáo hội. Tạo điều kiện cho chức sắc, nhà tu hành hoạt động tôn giáo theo
quy định, chúc mừng, động viên gặp gỡ họ nhân dịp các ngày lễ trọng, khơi
dậy lòng tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và nghĩa vụ với Tổ quốc.
- Giới thiệu một số chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo tiêu biểu tham
gia vào Hội đồng nhân dân xã, huyện, giúp họ triển khai các chủ trương công
tác ở địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tín đồ làm tròn nghĩa vụ
công dân và tham gia vào các đoàn thể xã hội ở địa phương. Gần đây nhất,
trong kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp, nhiệm kỳ 2011-2016, trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh đã có không ít chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia ứng
cử và trúng cử.
Năm là, quan tâm xây dựng cơ sở chính trị vùng có đồng bào tôn giáo
Ở những địa bàn giáo dân, lương dân sinh sống xen kẽ, cần xem xét, bồi
dưỡng cất nhắc những giáo dân tiêu biểu giữ cương vị trong tổ chức đoàn thể xã hội để xua đi sự tự ti, mặc cảm với cộng đồng. Qua phong trào mà tuyển
chọn tín đồ xuất sắc để phát triển đảng, từ đó, họ sẽ là những người chủ yếu
tham gia vận động, thuyết phục, lôi kéo người khác. Khi vùng tôn giáo "có vấn
đề", họ sẽ là chỗ dựa quan trọng cho công tác đấu tranh.
Đối với Mặt trân Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, để làm tốt công
tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc, nên làm tốt một số việc:
Một là, cần xây dựng chương trình, kế hoạch cho công tác vận động
đồng bào có đạo, phù hợp với từng đối tượng tín đồ. Đây là vấn đề lâu nay
chưa được quan tâm đúng mức. Thời gian tới các cấp uỷ đảng tiếp tục quán
25